<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:blogger='http://schemas.google.com/blogger/2008' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd="http://schemas.google.com/g/2005" xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569</id><updated>2025-11-29T10:40:58.586+07:00</updated><title type='text'>HƯƠNG VỊ XỨ QUẢNG</title><subtitle type='html'>TỔ QUỐC TRÊN HẾT :    blog của Phạm Hữu Đăng Đạt. Tất cả bài  viết là của tác giả.&#xa;</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default?redirect=false'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default?start-index=26&amp;max-results=25&amp;redirect=false'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>70</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>25</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-4925212462729658121</id><published>2014-08-20T15:14:00.001+07:00</published><updated>2014-08-20T15:20:35.678+07:00</updated><title type='text'>Năm Mực làm thơ</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; border: 0px; font-family: Arial; line-height: 17px; list-style-type: none; padding: 0px 0px 10px; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;Đương thời, do có tài ứng khẩu thành thơ, kèm thêm tài kể chuyện tiếu lâm, nên khi trong làng có người làm nhà mới, họ thường mượn ông Năm Mực đến để kể chuyện tiếu lâm, giúp thợ có những giây phút cười sảng khoái, quên đi mệt nhọc.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;Làng Bình Xá, nay thuộc xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, có nhân vật khá đặc biệt tên là Năm Mực (Mực là tên cha sinh mẹ đẻ còn Năm là người con thứ năm trong gia đình). Thuở nhỏ, do gia cảnh khó khăn nên Năm Mực không có điều kiện học hành đến nơi đến chốn. Nhưng bù lại, ông có khiếu văn chương bẩm sinh và có biệt tài không một ai trong làng có thể sánh kịp. Đó là tài... xuất khẩu thành thơ. Cái gì qua ông cũng thành thơ. Thơ ông tuy không xuất chúng nhưng có vần có điệu, đọc nghe rất xuôi tai.&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;Người ta vẫn còn nhớ như in rằng thời kỳ Việt Minh, tức khoảng những năm đầu thập niên 1940 đến nửa đầu thập niên 1950, do tác động trực tiếp của cuộc kháng chiến chống Pháp, đời sống bà con rất nghèo khổ, chật vật. Miếng ăn đã khó huống hồ chuyện rượu chè... Cho nên, bấy giờ rượu trở thành thứ cực kỳ xa xỉ. Muốn có rượu để uống không phải chuyện dễ. Nấu rượu cũng phải lén lút, không thể công khai. Cho nên, giá rượu rất đắt. Nhưng riêng ông Năm Mực cứ chiều chiều lại có rượu để uống, mới ghê. Bà con bảo nhau, cái ông này, không biết lấy tiền đâu ra mà ngày nào cũng rượu với rượu? Nghĩ cũng tài thiệt&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Những lời xầm xì, to nhỏ ấy, rốt cuộc rồi cũng đến tai ông.&amp;nbsp;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Vậy là ông làm ngay một bài thơ để... giải đáp thắc mắc của bà con, xua đi nỗi nghi nghi hoặc hoặc. Bài thơ như vầy: &lt;i&gt;“Giàu như Hai Lự với Cả Khuê/ Thành phần trung phú đủ nghề cũng đói to/ Còn như Năm Mực giữ rẻ mấy con bò/ Lâu lâu họ bán họ cho ít đồng/ Rượu đâu có đủ bi-đông/ Cơm đâu lại có cơm không ăn hoài”&lt;/i&gt;.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Khi đất nước thống nhất, chủ trương của Nhà nước bấy giờ là đưa bà con vào hợp tác xã, làm chung, ăn chung. Thóc lúa khi gặt về đều phải nhập kho hợp tác xã. Sau đó, người ta tùy theo công điểm ít nhiều mà chia ra. Dĩ nhiên, khi vào hợp tác xã đã diễn ra tình trạng cha chung không ai khóc nên sản lượng nhiều năm không đạt, thu nhập thực tế của người dân giảm đi rõ rệt. Lúc bấy giờ, người dân tuy chán ngán kiểu làm ăn của hợp tác xã nhưng ai cũng sợ, không dám nói.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Ông Năm Mực cũng chẳng dại gì hé miệng. Nhưng, ông vẫn cứ ấm ức. Thế cho nên, mới có chuyện là lần nọ, nhân đi ngang qua đám lúa người ta đang gặt, lại có con cu đang gáy, tức cảnh, ông đọc ngay bài thơ:&lt;i&gt; “Cu hỡi cu/ Sung sướng chi mi gáy mi gù/ Ruộng đồng lúa thóc có người thu/ Có phải của mày, mày đứng giữ/ Cong lưng mà gáy rụng lông cu”&lt;/i&gt;.&amp;nbsp;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Bài thơ được mấy ông thợ gặt khen hay, rồi khi rảnh thì đọc ngâm nga. Chẳng mấy chốc, lan ra cả xã.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Do có tài ứng khẩu thành thơ, kèm thêm tài kể chuyện tiếu lâm, nên khi trong làng có người làm nhà mới, họ thường mượn ông đến để kể chuyện tiếu lâm, giúp thợ có những giây phút cười sảng khoái, quên đi mệt nhọc.&amp;nbsp;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Hồi ấy, trong thực tế cuộc sống, có nhiều khi chủ trương chính sách đúng nhưng xuống đến làng xã lại thực hiện sai khiến dân vô cùng bức xúc nhưng chẳng biết kiện ai, đấu tranh với ai. Vì dân quê ít học, tầm hiểu biết còn hạn hẹp, kiến thức pháp luật gần như không có nên kiện làm sao được, nhất là trong thời kỳ bao cấp đầy khó khăn.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Thế cho nên nhân lúc rảnh rỗi, ông Năm Mực mới làm bài thơ tả con ong, nhưng thực ra có ý chê bai một số cán bộ địa phương không sâu sát thực tế, khiến dân tình phải khổ: &lt;i&gt;“Tai nghe trong bụi vù vù/ Rờ lên trên trán thấy cục u/ Mới biết eo eo là giống độc/ Đầu đầu không độc mà độc đầu khu”&lt;/i&gt;.&amp;nbsp;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;h2&gt;
&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Cũng như những bài thơ khác, bài thơ này lan khắp làng trên, xóm dưới. Đặc biệt, trong lúc uống rượu, uống trà, người ta hay nhắc đến những bài thơ độc đáo nói trên của ông.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Chuyện đến tai xã. Người ta cho mời ông Năm Mực lên trụ sở để hỏi cho ra lẽ. Sáng hôm ấy, ông quần áo chỉnh tề, đến thật sớm, trước giờ hẹn. Cán bộ hỏi tại sao ông làm thơ nói xấu hợp tác xã? Ông bảo ông ít học, có biết chi mà nói xấu. Chẳng qua, ông thấy gì nói nấy thôi. Rồi ông trình bày rằng mình đi đường, thấy dân đang gặt, lại có con cu đang gáy nên tức cảnh làm thơ tả như rứa như rứa... Y sì chuyện xảy ra trước mắt. Có mấy ông thợ gặt làm chứng. Nào có nói xúc phạm ai đâu, có nói xấu hợp tác xã đâu? Còn trong bài thơ tả con ong, cái câu &lt;i&gt;“Đầu đầu không độc mà độc đầu khu” là ông ca ngợi cấp trên làm đúng nhưng ở dưới thực hiện sai, dân mới khổ, chứ có ý gì khác đâu…&quot;.&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;color: #20124d; font-size: small;&quot;&gt;&lt;b&gt;Xã vặn vẹo một hồi, không lấy cớ gì bắt bẻ được, đành phải cho ông về.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/4925212462729658121/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/4925212462729658121?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/4925212462729658121'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/4925212462729658121'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2014/08/nam-muc-lam-tho.html' title='Năm Mực làm thơ'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-1964142132318383305</id><published>2014-01-03T15:44:00.002+07:00</published><updated>2014-01-03T15:44:24.030+07:00</updated><title type='text'>TỪ MỘT GIẤC MƠ…</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Làng
Thái Đông, xưa còn có tên là An Thái xã, rồi An Khương xã, thuộc An Thái trung
tổng, Lễ Dương huyện, Thăng Bình phủ, nay thuộc xã Bình Nam, huyện Thăng Bình,
tỉnh Quảng Nam, được khai phá từ khá sớm. Theo những tài liệu còn lưu lại thì
năm 1558 các bậc tiền hiền của làng từ miền đất Nghệ An theo chân chúa Nguyễn
Hoàng vượt đèo Hải Vân đến đây khẩn hoang, lập ấp. Những người có công đầu
trong quá trình khai sơn phá thạch, theo gia phả còn lưu lại, là các ông Trần
Công Lặng, Hồ Công Khiêm, Phan Phước Tiên, Nguyễn Đình Tân. Ngay từ thời… mở
cõi, việc khai khẩn ruộng đất gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Họ đã hao tốn bao
mồ hôi, công sức để phát quang lau lách, cây cối, đẩy lùi thú dữ… biến vùng đất
hoang vu, vắng bóng người, thành xóm, thành làng đông đúc người qua kẻ lại. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiR5jx4_NlO9rQHnXTaY7P4QK2yqn6vdFJvbNV80VnEnYvg_blIxqwkMaPuljfOMbAiTUyfIFX9wFUQWA76tjZ-mD4otbll7_p2o-89Il5clk9Gb4hXexhYQ8g3Av_eyXVLMI6In_OeS8c/s1600/%C4%90%C3%ACnh+ti%E1%BB%81n+hi%E1%BB%81n+Th%C3%A1i+%C4%90%C3%B4ng.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiR5jx4_NlO9rQHnXTaY7P4QK2yqn6vdFJvbNV80VnEnYvg_blIxqwkMaPuljfOMbAiTUyfIFX9wFUQWA76tjZ-mD4otbll7_p2o-89Il5clk9Gb4hXexhYQ8g3Av_eyXVLMI6In_OeS8c/s1600/%C4%90%C3%ACnh+ti%E1%BB%81n+hi%E1%BB%81n+Th%C3%A1i+%C4%90%C3%B4ng.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; height=&quot;213&quot; width=&quot;320&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Đình tiền hiền Thái Đông. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Để ghi nhớ công đức những người khai sơn
phá thạch, dân làng Thái Đông mới bỏ tiền của, công sức xây dựng ngôi đình, gọi
là đình tiền hiền Thái Đông. Gọi là đình tiền hiền tất nhiên để thờ tiền hiền
và thờ cả thành hoàng bổn xứ. Đồng thời, đến đời Gia Long thập bát niên, tức
năm Gia Long thứ 18, năm 1819, các vị chức sắc cùng với thân hào nhân sĩ của
Thái Đông, bấy giờ gọi là An Thái xã, mới làm một bản phổ hệ của làng, gọi là &lt;i&gt;“Tôn hiền phối ý”&lt;/i&gt; (&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-ascii-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-hansi-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;&quot;&gt;尊賢配意&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;),
nôm na là bản gia phả của những vị tiền hiền, hậu hiền, với mục đích &lt;i&gt;“cố niệm tiền hiền hữu công khai khẩn/ hậu
hiền thuật tác sáng tạo cơ đồ”&lt;/i&gt;. Bản phối ý nêu tên những bậc tiền hiền, hậu
hiền có nhiều công đức trrong quá trình dựng làng, lập ấp, số ruộng công của
làng, ghi nhớ ngày tháng giỗ chạp… Tương truyền, bản phối ý được làm thành 4 bản
cho 4 tộc tiền hiền, hậu hiền là các tộc Trần, Hồ, Phan, Nguyễn giữ. Ý của ông
bà là đề phòng khi tộc này vì lý do gì đó, bị mất hay thất lạc phối ý, vẫn còn
có phối ý của tộc khác. Thế nhưng, do nhiều nguyên nhân, bản phối ý của các tộc
Trần, Hồ, Nguyễn giữ không còn.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Tuy nhiên, hồi nửa cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX, tộc Phan, một trong bốn tộc tiền hiền ở Thái Đông, lại là tộc nghèo
nhất. Bấy giờ, cháu đích tôn của tộc Phan nghèo đến mức phải.. di dân. Tức đi
làm ăn xa. Trước khi đi, người cháu bèn bắc thang lên lấy cái ống giang, tức
cái ống bằng tre, ngoài quấn dây, bên trong có chứa tài liệu gì mà chính người
cháu cũng không biết. Thì có gì đâu, đời cha thất học vì nghèo, đời con cũng thất
học nốt. Thế cho nên, dẫu có lấy ra thì chỉ thấy chữ mà không biết chữ làm sao
đọc? Cứ cha để lại thì con giữ kỹ. Vậy thôi. Rồi, đến lúc nghèo quá, phải đi di
dân, người cháu không còn cách nào khác là mang ống giang đi gửi nhà ông Xã Vịnh,
lý trưởng Thái Đông lúc bấy giờ. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhKzkV_MKiQ0Dc5Qm0w1MJME2TP9wDVWp0rMv04R7fZRUo8mEY9Hen0XPfhf3et0RKrndZUFW6PqnPa322d_4lf9ytNumEHyyAUPHEX9AH6w72HX-GU-SqfuKTVjiJLIAGN_3mYJ39RJUU/s1600/T%C3%B4n+hi%E1%BB%81n+ph%E1%BB%91i+%C3%BD.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhKzkV_MKiQ0Dc5Qm0w1MJME2TP9wDVWp0rMv04R7fZRUo8mEY9Hen0XPfhf3et0RKrndZUFW6PqnPa322d_4lf9ytNumEHyyAUPHEX9AH6w72HX-GU-SqfuKTVjiJLIAGN_3mYJ39RJUU/s1600/T%C3%B4n+hi%E1%BB%81n+ph%E1%BB%91i+%C3%BD.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; height=&quot;400&quot; width=&quot;262&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Tôn hiền phối ý. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Người cháu đưa ống giang, thú thật với
ông Xã Vịnh, rằng &lt;i&gt;“không biết ông bà để lại
cái chi đây. Có chi tui cũng không biết. Mà tui chừ nhà nghèo quá, lại phải đi
xa, để trong nhà sợ dột, hư mất, mang tội với ông bà. Thôi tui gửi nhờ chú, chú
cất giùm rồi chừng mô tui về được hẳn hay”&lt;/i&gt;. Gửi gắm rồi, người cháu vào miền
trong làm ăn. Ông xã Vịnh nhận xong, cẩn thận để lên kèo, cất. Chính ổng cũng
không chú ý, xem thử cái gì. Hơn thế nữa, với ông,chuyện đó chẳng can hệ, tìm
hiểu làm gì cho phí sức. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Sau khi ông cháu tộc Phan đi di dân rồi,
bận bụi nhiều chuyện đời thường, ông Xã Vịnh lại quên khuất mất ống giang kia. Đến
chừng năm ba bữa sau, đang ngủ ngon, ông thấy có một ông già già, râu tóc bạc
phơ, ra dáng tiên phong đạo cốt, mặc áo sọc xanh vào, nói với ông rằng &lt;i&gt;“Họ gửi đồ mi, mi không được cất”&lt;/i&gt;. Nói vậy
rồi ông đi mất. Sáng mai ngủ dậy, nhớ lại giấc chiêm bao kỳ lạ đêm qua, ông mới
kể cho bà vợ. Nghe xong, vợ ông phì cười mà rằng &lt;i&gt;“Ông già rồi máu nó biến đi, thấy tầm bậy, chứ ông giữ chi của ai?”&lt;/i&gt;.
Nghe vợ nói vậy, ông thấy cũng có lý, ừ, máu mình đã… già rồi, làm sao bằng máu
bọn trẻ, thấy tầm bậy, thấy lung tung là phải. Và, ông cũng nhanh chóng quên
đi, không để ý đến nữa. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Nhưng, khoảng chừng năm ba bữa sau nữa,
cũng vào lúc đang ngủ, không hiểu sao, ông lại thấy chính ông già bữa trước vào
nhà, nói lại y như lời hôm trước rằng &lt;i&gt;“Họ
gửi đồ cho mi, mi không được cất”&lt;/i&gt;. Sáng mai, tỉnh dậy, ông có cảm giác hơi
sờ&amp;nbsp; sợ. Lần một không nói làm gì. Lần hai
ắt có chuyện. Không thể trùng hợp được. Ông bèn kể lại vợ. &lt;i&gt;“Tui lại thấy lần nữa bà ơi. Mà tui nghĩ cũng không ai gửi chi hết, chỉ
có thằng nớ gửi cái ống giang, để tui đem xuống coi thử thử, chứ tui có giữ cái
chi của ai mô”&lt;/i&gt;. Bà vợ gật gù, cho là phải. Ông lấy ống giang đem xuống, mở
ra thì thấy giấy tờ của ông bà để lại. Xem kỹ, hóa ra là bản &lt;i&gt;“Tôn hiền phối ý”&lt;/i&gt; các tộc họ ở Thái Đông
mà tộc Phan còn giữ được. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Mừng quá, ông mới đem xuống đưa cho ông
Trần Bộ giữ. Ông Trần Bộ người tộc Trần, cao tuổi nhất và cũng là người thông
hiểu chuyện làng, chuyện xóm, lại giỏi chữ Nho. Bấy giờ, ông già lắm nhưng trí
óc còn minh mẫn. Tương truyền, ông sống đến… 130 tuổi. Và, từ cổ chí kim, ở
làng Thái Đông, chưa ai sống lâu như ông, thọ như ông. Trên cơ sở bản gia phả
còn lưu lại, các tộc mới sao ra. Vậy là, từ một giấc mơ kỳ lạ, ông Trần Vịnh đã
phát hiện ra bản &amp;nbsp;&lt;i&gt;“Tôn hiền phối ý”&lt;/i&gt; quý giá, tưởng đã thất lạc từ lậu. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div align=&quot;right&quot; class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: right; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/1964142132318383305/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/1964142132318383305?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/1964142132318383305'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/1964142132318383305'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2014/01/tu-mot-giac-mo.html' title='TỪ MỘT GIẤC MƠ…'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiR5jx4_NlO9rQHnXTaY7P4QK2yqn6vdFJvbNV80VnEnYvg_blIxqwkMaPuljfOMbAiTUyfIFX9wFUQWA76tjZ-mD4otbll7_p2o-89Il5clk9Gb4hXexhYQ8g3Av_eyXVLMI6In_OeS8c/s72-c/%C4%90%C3%ACnh+ti%E1%BB%81n+hi%E1%BB%81n+Th%C3%A1i+%C4%90%C3%B4ng.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2289471091131971754</id><published>2013-09-03T16:27:00.001+07:00</published><updated>2013-10-08T15:40:05.427+07:00</updated><title type='text'>KIỆN ĐÒI… NƯỚC </title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 5.0pt; margin-left: 2.25pt; margin-right: 2.25pt; margin-top: 5.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: left;&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 5.0pt; margin-left: 2.25pt; margin-right: 2.25pt; margin-top: 5.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
Túy Loan hay Thúy Loan tuy hai mà
một. Danh xưng Thúy Loan xuất hiện trong “Ô châu cận lục” của Dương Văn An
hồi giữa thế kỷ XV. Lúc bấy giờ, Thúy Loan là một trong 66 xã của
huyện&amp;nbsp;Điện Bàn, phủ Triệu Phong, Thuận Hóa. Còn Túy Loan từ Thúy Loan
đọc trại mà ra. Ngày nay, Túy Loan trở thành địa danh chính thức thay vì Thúy
Loan. Theo truyền thuyết, vào thời Lê Thánh Tông, đã có 5 tộc tiền hiền là Đặng,
Lâm, Nguyễn, Trần, Lê đến khai phá đất đai, khởi đầu sự nghiệp. Nhờ có vị trí
thuận lợi, là giao điểm giữa đường thuỷ và đường bộ, Tuý Loan dần dần phát
triển. Trong đó, chợ Tuý Loan mấy mươi năm về trước quy tụ hầu hết sản vật
quanh vùng, từ lâm sản ở miền Tây xuống đến cá mắm từ Hội An, Đà Nẵng lên,
chiếu nón, nong rổ Cẩm Nê, Yến Nê qua... Dân gian có câu: “Tuý Loan trăm
thứ,trăm ngon/ Vừa vừa cái miệng kẻo chồng con hết nhờ”. Tuy nhiên, cũng vào
thời xa xưa ấy, làng Túy Loan xảy ra vụ kiện khá hy hữu, kiện về… nguồn nước
tưới đồng ruộng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
Chuyện kể rằng, ngay từ thời đi
mở cõi ấy, khi đến Túy Loan lập nghiệp, các tộc họ làng Túy Loan không ngại khó
khăn, ra sức khẩn hoang, từng bước biến vùng đầm lầy hoang vu, đầy thú dữ thành
đồng ruộng. Kết quả, qua hàng chục năm cật lực chiến đấu với thiên nhiên khắc
nghiệt, các tộc họ tiền hiền ở Túy Loan đã khai phá tổng cộng hơn hai trăm mười
mấy mẫu. Có thể nói, số đất ruộng ấy hầu hết là đất ruộng tốt, là những cánh
đồng phì nhiêu, rất thích hợp để trồng lúa. Đặc biệt, cũng lúc bấy giờ, họ mới
nhận ra rằng tuy đất đai màu mỡ nhưng lại không có nguồn nước tại chỗ để đưa
vào đồng ruộng. Người nhà nông, với quan niệm “nước- phân- cần- giống” thì nước
chiếm vị trí đầu tiên. Vốn có tầm nhìn xa trông rộng, bà con bèn cử người lên
tân vùng Ô Rây, nơi đầu nguồn Đồng Nghệ, đứng bộ tổng cộng bảy chục mẫu. Gọi
đứng bộ, tức làm chủ sở hữu bảy chục mẫu, nhưng họ chẳng khai phá gì. Mục đích
của bà con là để tạo nguồn nước dẫn về tưới dẫn đồng ruộng. Bởi, nếu mai đây
trồng lúa mà không có nguồn nước, cứ chờ nước trời thì thất bại là điều không
thể tránh khỏi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhcq-0vPJ5IeZXYUSLRreKxcJJLMiyCmQ6lFkbEaNmK-JQf_cv4CZFGjdJkhgG4KxrLvuK3I7e-n5lRgh4IwVGeWf8y3UOW5r-c4SdNRqVVlm1Y0oNaFY6ihhSi8O3Vvldlwm5fKAWh3dI/s1600/%25C4%2590%25C3%25ACnh+l%25C3%25A0ng+T%25C3%25BAy+Loan.+%25E1%25BA%25A2nh+%25C4%2590.%25C4%2590.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;266&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhcq-0vPJ5IeZXYUSLRreKxcJJLMiyCmQ6lFkbEaNmK-JQf_cv4CZFGjdJkhgG4KxrLvuK3I7e-n5lRgh4IwVGeWf8y3UOW5r-c4SdNRqVVlm1Y0oNaFY6ihhSi8O3Vvldlwm5fKAWh3dI/s400/%25C4%2590%25C3%25ACnh+l%25C3%25A0ng+T%25C3%25BAy+Loan.+%25E1%25BA%25A2nh+%25C4%2590.%25C4%2590.JPG&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Đình làng Túy Loan. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
Thế rồi, những năm về sau, ở làng
Cẩm Toại, không biết nguyên nhân từ đâu, có một phụ nữ trong làng lại đứng ra
làm chủ một khe nước tự chảy về Cẩm Toại. Khe nước này tự trên nguồn chảy qua
các làng Dương Lâm, Khương Mỹ, An Tân… trước khi đổ về Cẩm Toại. Đã làm chủ, dĩ
nhiên, đất hai bên khe nước do bà này đứng bộ, tức đứng chủ sở hữu. Pháp luật
bấy giờ dĩ nhiên bảo vệ quyền sở hữu của bà. Nói gì thì nói, với dân làng Cẩm
Toại, bà trở thành ân nhân vì đã có công đưa nước về đồng ruộng. Lúa có lên
xanh tốt, một phần cũng nhờ có nước của bà. Không những Cẩm Toại, dân các làng
kế bên như Khương Mỹ, An Tân muốn có nước dẫn vào ruộng lúa, đành phải xin
nguồn nước của bà. Họ không thể ngang nhiên lấy nước từ khe nước nói trên. Tất
nhiên thôi. Chuyện này rất rành mạch, rõ ràng. Tự tiện lấy nước, bà ta kiện thì
chết. Đã vướng vào vòng lao lý, lại khi thua, còn phải bồi thường này nọ, đâu
phải chuyện dễ, muốn là làm, là lấy, không nghĩ đến luật lệ. Quan cũng khó lòng
đổi trắng thay đen, biến không thành có, có thành không, được. Ông bà có câu “Phép
vua thua lệ làng”. Đụng đến làng xã, chuyện đâu phải chuyện đùa. Kiện tổng
không xong, lắm người kiện lên huyện, lên phủ, rồi lên tỉnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
Dân làng Túy Loan thấy vậy, mới
điều tra nguồn gốc của khe nước này. Họ cử người cứ đi dần, đi dần ngược khe
nước. Thử xem nguồn nước ấy ở đâu mà ra. Chuyện cũng dễ như trở bàn tay. Cho
nên, cuối cùng, họ cũng đạt được mục đích. Hóa ra, nguồn nước ấy chẳng đâu xa
lạ mà nước từ Ô Rây chảy ra. “Nước của làng mình mà”. Họ reo lên, mừng rỡ. “Nước
của làng mình, răng mình không được hưởng?”. Họ bảo nhau. Cũng chính đây là nơi
dân làng Túy Loan đã đứng bộ bảy mươi mẫu đất. Nước mưa, nước từ trên cứ thế tụ
lại ở bảy mươi mẫu đất của làng Túy Loan trước khi chảy về Cẩm Toại qua khe
nước của người phụ nữ kia. Thế cho nên, sau khi nắm chắc được nguồn gốc, dân
làng mới đâm đơn kiện, đòi được chia “nước” từ khe nước này. Lý do chính họ đưa
ra là rõ ràng nguồn nước của họ, do họ, tức làng Túy Loan, làm chủ sở hữu, vậy
thì hà cớ gì họ không được hưởng lợi? Vậy là xảy ra vụ kiện khá hy hữu giữa dân
làng Túy Loan và người phụ nữ làm chủ khe nước ở làng Cẩm Toại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
Giữa chốn quan đường, không thể
nói không không, phải có chứng cứ. Do đó, mỗi bên kiên và bên bị kiện đều đem
sổ bộ ra làm chứng. Bà chủ khe nước đem sổ bộ ra trình quan trên thì làng Túy
Loan cũng trưng sổ bộ để quan đồng thời xem xét. Trên giấy trắng mực đen, quan
xem xét kỹ, thấy dân làng Túy Loan kiện đúng, kiện có cơ sở, mới phán quyết cho
dân Túy Loan thắng kiện. Bên bị kiện thua kiện. Vậy là bà chủ khe nước ở Cẩm
Toại phải để cho dân làng Túy Loan được quyền lấy nước tự chảy từ khe nước của
mình. Vụ kiện, có thể nói “kết thúc” trong hòa bình vì bà ở Cẩm Toại rốt cuộc
cũng thấy dân làng Túy Loan kiện có lý. Hơn thế nữa, Cẩm Toại và Túy Loan đâu
có xa lạ gì cho cam, cũng gần gũi, hàng xóm láng giềng cả, thôi thì… giúp nhau
trong chuyện làm ăn, sinh sống cũng là điều nên làm và cần làm&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/KIEN%20DOI...%20NUOC.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/a&gt;.&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;br /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/KIEN%20DOI...%20NUOC.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 10.0pt;&quot;&gt;Ông Đặng Khôi, sinh năm 1933 và ông Đặng Kỳ,
sinh năm 1930, làng Túy Loan, kể&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2289471091131971754/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2289471091131971754?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2289471091131971754'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2289471091131971754'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/09/kien-oi-nuoc.html' title='KIỆN ĐÒI… NƯỚC '/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhcq-0vPJ5IeZXYUSLRreKxcJJLMiyCmQ6lFkbEaNmK-JQf_cv4CZFGjdJkhgG4KxrLvuK3I7e-n5lRgh4IwVGeWf8y3UOW5r-c4SdNRqVVlm1Y0oNaFY6ihhSi8O3Vvldlwm5fKAWh3dI/s72-c/%25C4%2590%25C3%25ACnh+l%25C3%25A0ng+T%25C3%25BAy+Loan.+%25E1%25BA%25A2nh+%25C4%2590.%25C4%2590.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-639899729962182347</id><published>2013-07-17T08:32:00.001+07:00</published><updated>2013-07-17T08:42:24.517+07:00</updated><title type='text'>AN THANH, CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ…</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;
 &lt;w:WordDocument&gt;
  &lt;w:View&gt;Normal&lt;/w:View&gt;
  &lt;w:Zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;
  &lt;w:PunctuationKerning/&gt;
  &lt;w:ValidateAgainstSchemas/&gt;
  &lt;w:SaveIfXMLInvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;
  &lt;w:IgnoreMixedContent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;
  &lt;w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;
  &lt;w:Compatibility&gt;
   &lt;w:BreakWrappedTables/&gt;
   &lt;w:SnapToGridInCell/&gt;
   &lt;w:WrapTextWithPunct/&gt;
   &lt;w:UseAsianBreakRules/&gt;
   &lt;w:DontGrowAutofit/&gt;
  &lt;/w:Compatibility&gt;
  &lt;w:BrowserLevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;
 &lt;/w:WordDocument&gt;
&lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;br /&gt;
&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;
 &lt;w:LatentStyles DefLockedState=&quot;false&quot; LatentStyleCount=&quot;156&quot;&gt;
 &lt;/w:LatentStyles&gt;
&lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt;
&lt;style&gt;
 /* Style Definitions */
 table.MsoNormalTable
 {mso-style-name:&quot;Table Normal&quot;;
 mso-tstyle-rowband-size:0;
 mso-tstyle-colband-size:0;
 mso-style-noshow:yes;
 mso-style-parent:&quot;&quot;;
 mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
 mso-para-margin:0in;
 mso-para-margin-bottom:.0001pt;
 mso-pagination:widow-orphan;
 font-size:10.0pt;
 font-family:&quot;Times New Roman&quot;;
 mso-ansi-language:#0400;
 mso-fareast-language:#0400;
 mso-bidi-language:#0400;}
&lt;/style&gt;
&lt;![endif]--&gt;

&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;1.Làng An
Thanh, nay thuộc xã Điện Thắng Bắc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, có nhiều xứ
đất như Thanh Loa xứ, Thanh Ly xứ, Bàu Đưng xứ, Gò An xứ... Gọi là gọi thế thôi
nhưng ranh giới giữa xứ đất này và xứ đất kia còn mù mờ lắm. Thế cho nên chuyện
lấn chiếm đất giữa làng này với làng khác không phải không xảy ra. An Thanh
cũng không là ngoại lệ. Và, trong ký ức của lớp người cao tuổi trong làng còn
lưu truyền chuyện kể rằng danh xưng Gò An xứ, thật ra là Gò Gian, tức gò... ăn
gian mà ra! Nguyên gò này ngày trước thuộc làng Thanh Tú. Dân làng Thanh Quýt
đông, thấy gò này hoang vắng quá, toàn là cây với cối, dân làng Thanh Tú mấy
khi dòm ngó đến nên lợi dụng cơ hội, họ cứ &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“xách”&lt;/i&gt;
cột mốc lấn dần. Cứ mỗi năm lấn một ít, theo kiểu &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“kiến tha lâu đầy tổ”&lt;/i&gt;. Dân Thanh Tú tức lắm. Nhưng dân Thanh Quýt
đông, đánh không lại, đành chịu, mới gọi là &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“Gò
Gian”&lt;/i&gt;. Đó là họ nói kháy. Chứ danh chính ngôn thuận người ta vẫn gọi là Gò
An. Nghĩa là mong muốn sao cho mọi người ai cũng an cư lạc nghiệp. Mới hay,
ngay chuyện danh xưng một vùng đất đều có nguyên do của nó. Tìm hiểu cặn kẽ, có
khi là một câu chuyện xưa chất chứa những tầng sâu văn hóa.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Còn Bàu Đưng xứ là ruộng, nơi người dân trồng lúa. Sở dĩ có tên &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“Bàu Đưng”&lt;/i&gt; vì vào mùa mưa, nước cứ đầy
lần, đầy lần mà không chảy. Mưa nhiều quá, xảy ra nạn lụt. Nhưng về mùa nắng,
nước khô cạn. Bàu Đưng rất rộng. Xem ra, Bàu Đưng tuy gọi là bàu nhưng không
đúng nghĩa là bàu. Vì nó rộng quá. Còn một cái bàu khác lớn hơn là Bàu Nậy. Bàu
này cũng rất rộng. Mùa mưa, nước mênh mông. Dân làng chuyên câu cá, đánh bắt cá
ở Bàu Nậy chủ yếu bằng đó. Giống như Bàu Đưng, về mùa nắng, Bàu Nậy cạn nước.
Người dân cấy lúa trên bàu. Hễ tháng tư cấy thì tháng bảy gặt. Thời gian còn
lại, dân làng lại đánh bắt cá, kiếm thêm thu nhập, chí ít cũng cải thiện bữa
cơm gia đình.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 12.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;2.Ngoài hai
bàu, An Thanh còn một cái lạch. Xưa, người ta gọi là Lạch Ông Lịnh. Lịnh là tên
của một ông ở tộc Lê Tất làng An Thanh. Tính từ đời ông Lê Tất Lịnh xuống đời
ông Lê Tất Lữ, sinh năm 1924, cũng đã 4 đời. Ông này giữ &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“bộ”&lt;/i&gt;, tức giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu lạch của làng. Không biết
vì sao, ông Lịnh lại làm mất &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“bộ”&lt;/i&gt;.
Thế nên khi biết được, dân làng Thanh Quýt mới nhân cơ hội đi kiện. Trước khi
kiện, họ âm thầm lấy một tảng đá, làm dấu cẩn thậm, rồi thả xuống lạch. Khi ra
công đường, hai bên không ai có bằng chứng gì cả. Quan bối rối. Bí quá, quan
mới hỏi &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“Các ngươi nói lạch của mình, rứa
ta hỏi các ngươi biết dưới lạch có cái chi không?”&lt;/i&gt;. Dân làng Thanh Quýt bảo
đưới lạch có cục đá rất to, to như cái lu. Quan cho kiểm tra thì đúng y như
vậy, mới xử cho Thanh Quýt thắng. Từ đó, lạch mang tên là lạch Thanh Quýt.
Chuyện kiện tụng lạch Thanh Quýt, còn gọi là lạch Lịnh, rồi chuyện Gò An, hay
Gò Gian, tương truyền xảy ra từ lâu lắm rồi. Muộn nhất cũng vào nửa cuối thế kỷ
XIX. Cho nên, chuyện đúng sai, phải trái, thật ra, khó mà xác định nổi. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;3.Cũng theo
tương truyền, thời kỳ Ông Ích Khiêm chống Tây, trong làng có ông Nguyễn Vĩnh
Trinh vận động thanh niên trai tráng gia nhập nghĩa quân. Khi thua trận, họ bèn
hái dừa thả trôi trên biển để Pháp tưởng người, bắn cho... hết đạn. Rồi chuyện
ăn trộm. Xưa, đói khổ nhiều nên ăn trộm cũng nhiều, y như câu nói củng ông bà&lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt; “Bần cùng sinh đạo tặc”&lt;/i&gt;. Trong đó, đối
tượng bị trộm viếng thăm nhiều nhất là... bà góa. Tất nhiên thôi. Gia đình
không có đàn ông, trộm ít sợ hơn là có đàn ông. Bấy giờ, nhà thường làm bằng
vách phên tre hay vách đất. Nhà giàu mới đủ sức lợp ngói, vách vôi. Vách bằng
vôi, chỉ có nước... đào ngạch. Nhưng, dù đào ngạch hay vạch vách phên, vách
đất, tên trộm nào cũng đem theo cái nồi đất. Sau khi đào hay vạch để có chỗ
chui vào, trộm không vào ngay mà... đưa cái nồi đất vào trước nhằm thăm dò. Bọn
trộm nghĩ rằng, nếu gia chủ thức, trong đêm tối, mắt nhắm mắt mở, sẽ tưởng nối
đất là đầu tên ăn trộm. Đưa lần một, không thấy gì, têm trôm chưa vào ngay mà
đưa tiếp lần thứ hai, lại im re, đến khi ấy, tên trộm chắc mẫm gia chủ đã ngủ
say, liền chui đầu vào thật.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEijVO0tAsXeTj-sdGiuu0tYw04SJus2TWDoGvFcgw6rvOIXB7IQb_v4Php5wtQGEp_HVXNf-Dx840Iuw2djcr1w6mcIdj4WzCueK1kXEI0OUX2bEqm2iK_mDmyyxAgVi4dPoWhIP4zPfKU/s1600/Ngh_+_an+l%C3%A1t+_+An+Thanh+nay++ch_+c%C3%B2n+l%C3%A0+d_+v%C3%A3ng.+_nh+_._.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;266&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEijVO0tAsXeTj-sdGiuu0tYw04SJus2TWDoGvFcgw6rvOIXB7IQb_v4Php5wtQGEp_HVXNf-Dx840Iuw2djcr1w6mcIdj4WzCueK1kXEI0OUX2bEqm2iK_mDmyyxAgVi4dPoWhIP4zPfKU/s400/Ngh_+_an+l%C3%A1t+_+An+Thanh+nay++ch_+c%C3%B2n+l%C3%A0+d_+v%C3%A3ng.+_nh+_._.JPG&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Nghè đan lát ở An Thanh nay chỉ còn là ký ức. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Chỉ chờ có vậy, gia chủ đã chờ sẵn, dùng rựa hay gậy khõ vào đầu. Tên
trộm đau quá, la thất thanh, ôm đầu máu mà chạy. May mà gia chủ còn nhẹ tay.
Nếu không, chẳng có thuốc tiên gì cứu mạng nổi. Ấy là trường hợp khá đặc biệt.
Còn nói chung, đã đi ăn trộm, phải nhanh tay, lẹ mắt, thường thì kẻ trộm nắm
thế chủ động trước. Bấy giờ, dân thường để cối đá sau hè. Nhiều tên trộm cả
gan... khiêng cả cối đá mà đi. Chiều hôm qua, cối đá còn mà sáng dậy, nó biến
đi đâu mất tiêu. Đành chịu, biết đường nào mà lần. Cũng lắm lúc, chủ thức giấc,
phát hiện ra trộm, rượt theo. Có điều, mấy tên trộm này rất ranh ma. Trước khi
vào ngõ, nó đặt gai tre giữa đường. Hễ gia chủ đuổi theo, thế nào cũng bị gai
đâm, phải chùn chân. Thế là nó chạy thoát. Nhưng, vỏ quýt dày có móng tay nhọn,
làng cũng có nhiều ông hung dữ có tiếng, như ông Nguyễn Vĩnh Xương, phát hiện
nhà bị trộm heo, không thèm đuổi, cứ ra ngoài đường đứng chờ, tay cầm đòn gánh.
Khi mấy thằng trộm khiêng heo, lấy đòn gánh phang thẳng khiến chúng bỏ heo, co
giò chạy trối chết&lt;a href=&quot;http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=3174140239933725569#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; style=&quot;mso-footnote-id: ftn1;&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;mso-special-character: footnote;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; font-size: 14.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;!&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;mso-element: footnote-list;&quot;&gt;
&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot; style=&quot;mso-element: footnote;&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=3174140239933725569#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; style=&quot;mso-footnote-id: ftn1;&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;mso-special-character: footnote;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; font-size: 10.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Lê Tất Lữ, sinh năm 1924, làng An Thanh, xã Điện Thắng Bắc, huyện Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/639899729962182347/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/639899729962182347?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/639899729962182347'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/639899729962182347'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/07/an-thanh-chuyen-xua-tich-cu.html' title='AN THANH, CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ…'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEijVO0tAsXeTj-sdGiuu0tYw04SJus2TWDoGvFcgw6rvOIXB7IQb_v4Php5wtQGEp_HVXNf-Dx840Iuw2djcr1w6mcIdj4WzCueK1kXEI0OUX2bEqm2iK_mDmyyxAgVi4dPoWhIP4zPfKU/s72-c/Ngh_+_an+l%C3%A1t+_+An+Thanh+nay++ch_+c%C3%B2n+l%C3%A0+d_+v%C3%A3ng.+_nh+_._.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-4660646868010149832</id><published>2013-06-15T09:01:00.000+07:00</published><updated>2013-06-15T09:01:03.859+07:00</updated><title type='text'>XÓM BÚN GIÁNG NAM</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-indent: 0in;&quot;&gt;
&lt;span class=&quot;apple-style-span&quot;&gt;1- Tại
làng Giáng Nam, nay thuộc xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, mấy
chục năm về trước, có nghề thủ công truyền thống. Đó là nghề làm bún. Những người
hành nghề này tập trung ở một xóm nhỏ có tên dân dã là xóm Bún Giáng Nam. Trong
quá trình hình thành và phát triển, xóm Bún có thời kỳ thịnh đạt với hàng chục
hộ hành nghề. Sản phẩm làm ra cũng nhiều. Tuy nhiên, không ai biết nghề làm bún
ở Giáng Nam xuất hiện từ bao giờ.&lt;/span&gt; Có một chi tiết đáng suy ngẫm. Hồi nửa
cuối thế kỷ XIX, đất làng Nhân Thọ rộng nhưng ít người ở. Ở Quá Giáng, đất lại
chật, người lại đông. &amp;nbsp;Trước tình hình ấy,
một số bà con Quá Giáng qua Nhơn Thọ mua đất. Người này mua được, người kia
cũng mua được. Riết rồi một phần đất làng Nhơn Thọ tiếp giáp với Quá Giáng toàn
là người Quá Giáng ở. Thế cho nên, xóm Bún xưa, nay thuộc thôn Giáng Nam, xã
Hòa Phước, là đất làng Nhơn Thọ. Và, hầu hết những người sinh sống ở xóm Bún là
những gia đình nghèo, đất ruộng ít. Đất ở là đất mua, lấy đâu ra nhiều đất?
Nguyên nhân rất đơn giản, dân Nhơn Thọ bán đất. Nhưng họ chỉ bán đất để ở. Riêng
đất làm ruộng, trồng hoa màu, nhưng đất xấu, họ mới bán với giả rẻ. Đất tốt,
giá đắt, dân nghèo làng Quá Giáng lấy tiền đâu để mua? Thế là họ có mua thì
cũng mua đất xấu, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, vì những loại đất
này hầu hết đều nhờ nước trời. Nhiều năm han hán, mất trắng, đói mờ mắt. &lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-indent: 0in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
Ông bà nói, đói thì đầu gối phải bò. Vậy nên họ chuyển qua
nghề làm bún, dù biết rằng nghề đòi hỏi phải thức khuya dậy sớm, vất vả không kể
xiết. &lt;span class=&quot;apple-style-span&quot;&gt;Theo các bậc cao niên của làng,&lt;/span&gt; xóm
Bún Giáng Nam hình thành muộn nhất cũng vào nửa cuối thế kỷ XIX, cách nay hơn
150 năm trong lịch sử. Nhưng, cũng như nhiều làng nghề khác, lúc ấy, xóm nghề
còn tản mạn, manh mún. Cả xóm chỉ có rải rác đôi ba nhà hành nghề. Đến đầu thế
kỷ XX, cả làng có 5 gia đình làm bún, gồm gia đình các ông Lữ Bàng, Phan Do,
Phan Lọ, Phan Miền và ông Tương&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/BAO%202013/XOM%20BUN%20GIANG%20NAM.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 14.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-font-style: italic; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: Calibri; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.
Và, cũng thật tự nhiên, đến đầu những năm 1930, nghề làm bún có bước phát triển.
Chuyện dễ hiểu. Người dân trong làng thấy những gia đình làm bún có thể sống được,
có đồng ra đồng vào, mới bắt chước làm theo. Đó là chưa kể con cái những gia
đình làm bún, sau khi lập gia đình, nối nghiệp cha mẹ. Nhờ vậy, bấy giờ, cả xóm
có hơn 15 gia đình hành nghề. Đến thời kỳ cực thịnh, từ đầu thập niên 1940 đến
những năm 1960, số gia đình làm bún lên đến 40 gia đình. Trong số đó, có khoảng
một nửa hành nghề có tính chất chuyên nghiệp. Hầu hết họ không có đất ruộng, phải
lấy nghề này làm kế sinh nhai. Đó là gia đình các ông Sĩ, ông Sa, ông Lê, ông
Phụng… Số còn lại vừa làm bún, vừa làm nông. Họ chỉ làm bún lúc nông nhàn, mùa
màng rảnh rỗi. Nhưng, dù là bún chuyên hay không chuyên, thường thường, mỗi gia
đình mỗi ngày cũng chỉ đủ sức làm chừng 30 đến 40 lon gạo. Thảng hoặc, khi nhà
nào có đám giỗ hay kỵ chạp, đặt trước, họ mới làm thêm. &lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgFJDp9rvK5RSFUN91xuzlCid6wdUVZkJ9dKs3wafZGMlRrKVydeYMoGp2A93YQXiQH9_S7NEIjQuwD9oJ6hGBXNeCgnQp2CLOWSVC0Ab9-sx7h8n_19w5sVkoROjng3iJlgFLNKv5u6OA/s1600/DSC04445.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgFJDp9rvK5RSFUN91xuzlCid6wdUVZkJ9dKs3wafZGMlRrKVydeYMoGp2A93YQXiQH9_S7NEIjQuwD9oJ6hGBXNeCgnQp2CLOWSVC0Ab9-sx7h8n_19w5sVkoROjng3iJlgFLNKv5u6OA/s400/DSC04445.jpg&quot; width=&quot;300&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;apple-style-span&quot;&gt;&lt;span lang=&quot;PT-BR&quot; style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 14pt;&quot;&gt;Ông Lê Sau, sinh năm 1930,
làng Giàng Nam. Ảnh Đ.Đ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-indent: 0in;&quot;&gt;
&lt;span class=&quot;apple-style-span&quot;&gt;3- Làm
bún xưa rất cực vì tất cả các khâu đều làm bằng tay, đều sử dụng lực của cơ bắp
là chính. Thế cho nên, hễ gia đình nào làm bún thì gia đình, con cái phải quần
quật cả ngày lẫn đêm. Cứ tối đổ gạo vào ngâm. &lt;/span&gt;Khoảng 1 giờ sáng, các mẹ,
các chị phải thức dậy, vuốt gạo để cho ráo. Sau đó, ăn uống qua loa rồi gánh bộ
gánh bún nặng ì đi bán. Người ở nhà, thường là đàn ông, sáng hôm ấy đổ gạo vào
cối xay bằng tay. Cối tốt, xay một lần là nhuyễn. Cối cũ, phải xay lần thứ hai.
Xay xong, họ đổ nước bột vào bọc vải. Phía ngoài bọc có khung đan bằng tre để
giữ bọc không bị đổ. Sau đó, chặn cục đá lên trên. Nước từ trong bọc rỉ ra. Cuối
cùng, trong bọc chỉ còn bột nhão. Lấy bột nhão ra lăn thành từng quả tròn tròn,
bằng trái dừa, gọi là quả &lt;i&gt;“bột”&lt;/i&gt;. Tiếp theo, bỏ quả &lt;i&gt;“bột”&lt;/i&gt; vào nồi
nước sôi cho chín lớp vỏ ngoài rồi đem &lt;i&gt;“ủ”&lt;/i&gt;, để một, hai ngày mới làm,
bún mới ngon. Thường mỗi ang gạo làm khoảng 3 quả &lt;i&gt;“bột”&lt;/i&gt;. Nếu 40 lon thì
4 quả. Khi xong việc, cũng đã 10 đến 11 giờ. Đó cũng là lúc bà vợ bán bún đã về.
Cơm trưa xong, khoảng 1 giờ chiều, vợ chồng lại bắt tay vào làm bún. &lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
Lúc này, họ lấy những quả &lt;i&gt;“bột”&lt;/i&gt; đã ủ cách đó hai
ngày, bỏ từng quả vào cối mà quết. Cứ vợ một chày, chồng một chày. Quết khoảng
15 phút, thế nào cho tan lớp &lt;i&gt;“da”&lt;/i&gt; ở ngoài thì được. Quết không tan lớp &lt;i&gt;“da”&lt;/i&gt;
ngoài, khi vặn, bột sẽ mắc, không xuống được. Quết xong, bỏ vào chậu nhồi khoảng
15 phút. Khi nhồi, đổ thêm một lượng nước nhất định vào. Sau đó, lấy tay bốc
chút bột để bột nhỏ xuống chậu. Theo kinh nghiệm, bột nhỏ từ từ là được. Công
đoạn tiếp theo, đổ thứ bột đã nhồi đó vào túi vải
có gắn khuôn gồm nhiều lỗ nhỏ ở dưới, rồi vặn lần xuống, làm sao để bột trong
túi bị dồn ép phải chui qua lỗ, chảy thành sợi xuống nồi nước đang sôi. Một
người đã chờ sẵn, lấy gáo dừa múc tí nước lạnh, đợi khi bún nổi lên, tạt sơ
qua, lật con bún lại cho bún chín đều, rồi dùng vợt vớt ra, bỏ vào chậu gần
bên. Bún lúc này đang nóng nên họ phải chế thêm chút nước lạnh để bùn nguội bớt.
Sau đó, họ mới bắt bún bằng tay thành từng lớp mỏng cho đẹp. Bún ngon là loại bún không có vị chua, sợi trắng và
không đục.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgfF0JIyzaHdcPQPT0IuXu3zvQ-ijQB3oflRXtRsDtA2I_7W7EreVCFaM2FgXs4BD0bdckhGTi3hUopZsPNE0sgbDG8vVnHeMd_8W2EBu3Yf5sDhw3s29GGQmAsAMqZO6MVe8RN19Dz4Ps/s1600/DSC04441.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;300&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgfF0JIyzaHdcPQPT0IuXu3zvQ-ijQB3oflRXtRsDtA2I_7W7EreVCFaM2FgXs4BD0bdckhGTi3hUopZsPNE0sgbDG8vVnHeMd_8W2EBu3Yf5sDhw3s29GGQmAsAMqZO6MVe8RN19Dz4Ps/s400/DSC04441.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Chiếc cối xay bột. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-indent: 0in;&quot;&gt;
4- Có
thể nói, công việc của những gia đình làm bún gần như &lt;i&gt;“khép kín”&lt;/i&gt;, giờ nào việc nấy, không có thời gian rảnh rỗi. Những
năm 1954 trở về trước, khi chưa có tuyến xe đò chạy ra Đà Nẵng, họ phải gánh
bộ. Theo thông lệ, một giờ sáng họ dậy, ăn uống qua loa, rồi gánh gánh bún nặng
ì, rủ nhau hàng chục người, nhắm Đà Nẵng mà đi. Trời nắng ráo còn dễ, trời mưa
dầm, đường trơn trượt, sơ ý một chút có thể té ngã, cực nhọc không kể xiết. Khi
đến Đà Nẵng, có người vào các chợ bán. Nhưng phần đông đi bán dạo. Mệt mỏi mấy
đi nữa cũng gánh gánh bún rảo quanh các làng, bán cho hết mới về. Đặc biệt, do bán
bún phải gánh bộ gần như liên tục, đòi hỏi phải có sức nên hồi ấy, hầu hết đàn
ông đi, còn phụ nữ ở nhà lo chuyện bếp núc. Sau này, khi tuyến đường Hòa Châu –
Đà Nẵng có xe đò, phụ nữ đi bán nhiều hơn nam giới. Số người bán dạo cũng ít
đi. Đa số họ bán ở các chợ như chợ Hàn, chợ Cồn và một số chợ khác. Ai bán hết
sớm, về sớm. Bán trễ về trễ. Nhưng, trễ nhất cỡ mười một, mười hai giờ trưa
cũng về. Ăn&amp;nbsp; uống xong, chưa kịp nghỉ
ngơi, họ lại bắt tay vào làm bún cho phiên chợ ngày mai.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-indent: 0in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot;&gt;
&amp;nbsp;&lt;i&gt;“Vòng
quay”&lt;/i&gt; của những gia đình làm bún cứ lặp đi lặp lại, từ năm này sang năm
khác. Nghề không giàu, chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Thế rồi, vào đầu những năm
1970, phong trào làm bún bằng khuôn ép có cần, còn gọi là làm bún ép, phát
triển. Người thợ làm bún bỏ ít công sức hơn. Đây cũng là thời điểm ngay tại Đà
Nẵng, nhiều lò bún ép thi nhau ra đời, từng bước giành thị phần. Nghề làm bún
bằng thủ công ở xóm Bún Giáng Nam lừng lẫy một thời bước vào giai đoạn suy tàn.
Nhiều gia đình bỏ nghề. Họ quay sang làm nông. Số khác làm thợ hồ, thợ mộc… Dĩ
nhiên, họ phải xoay chuyển tình thế để sống, để kiếm miếng cơm manh áo hàng
ngày. Đến năm 1974, cả xóm chỉ còn một gia đình làm bún, nhưng chuyển qua làm
bún ép. Đó là gia đình ông Tỵ. Năm 2010, gia đình ông Tỵ cũng nghỉ làm. Thế là,
tuy cả xóm không còn ai hành nghề nhưng danh xưng xóm Bún Giáng Nam vẫn còn.
Và, danh xưng ấy có thể nói là &lt;i&gt;“dấu tích”&lt;/i&gt;
cuối cùng của một xóm nghề có giai đoạn phát triển rực rỡ ở mảnh đất ven đô Đà
thành thời xa xưa ấy.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div align=&quot;center&quot; class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 68.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: center; text-indent: 0in;&quot;&gt;











&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;

&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;

&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;

&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-indent: 0in;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/BAO%202013/XOM%20BUN%20GIANG%20NAM.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 10.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-font-style: italic; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: Calibri; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; &lt;span class=&quot;apple-style-span&quot;&gt;&lt;span lang=&quot;PT-BR&quot;&gt;Ông
Lê Sau, sinh năm 1930, làng Giàng Nam, kể.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;PT-BR&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;

&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/4660646868010149832/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/4660646868010149832?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/4660646868010149832'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/4660646868010149832'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/06/xom-bun-giang-nam.html' title='XÓM BÚN GIÁNG NAM'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgFJDp9rvK5RSFUN91xuzlCid6wdUVZkJ9dKs3wafZGMlRrKVydeYMoGp2A93YQXiQH9_S7NEIjQuwD9oJ6hGBXNeCgnQp2CLOWSVC0Ab9-sx7h8n_19w5sVkoROjng3iJlgFLNKv5u6OA/s72-c/DSC04445.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-8213657249320635280</id><published>2013-06-04T15:15:00.003+07:00</published><updated>2013-06-04T15:25:39.948+07:00</updated><title type='text'>SỰ TÍCH LĂNG BÀ, CHỢ BÀ</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 7.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: white; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;Lăng Bà và chợ Bà, nay thuộc thôn Bình Hòa, xã Bình Giang,
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, gắn liền với truyền thuyết dân gian khá hấp dẫn.
Theo truyền thuyết, thời xa xưa, làng Bình Hòa chưa có chợ. Rồi, một ngày kia,
ngay bên bờ sông Trường Giang chảy qua làng, không biết ở đâu tấp vào xác chết
của một phụ nữ. Nghe dân làng báo tin, viên lý trưởng làng, dĩ nhiên, vội ba
chân bốn cẳng báo lên trên. Gì thì gì, có người chết, tức có án mạng, không báo
quan không được. Quy định là vậy. Lý trưởng phải chấp hành. Sau khi được tin
báo, quan xuống khám. Rồi, quan kết luận xác chết là của một phụ nữ người Tàu.
Mọi người đoán giá đoán non có lẽ bà này qua tìm chồng, chẳng may bị sóng to,
gió lớn làm lật thuyền, tàu chìm nên bị chết chứ không ai giết hại cả. Thế là
dân làng đem xác chôn ở cạnh bến sông. Điều kỳ lạ từ khi có mộ của người phụ nữ
xấu số này trong làng, ai có việc gì, nếu đến &lt;i&gt;“xin”&lt;/i&gt; đều được bà giúp đỡ, phù hộ. Tiếng &lt;i&gt;“lành”&lt;/i&gt; đồn xa. Không chỉ người trong làng, người ngoài làng cũng đến
khấn vái. Thấy bà quá linh thiêng, dân làng mới góp tiền làm lăng, gọi là Lăng
Bà. Hàng năm đều có tổ chức tế lễ. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;h3&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEikv4jzxZJZjGvGMonjSoaJW_Neay2rYSHZqp-U1oFxqY7ug5k1yW84-COu0A0tyQ2dhwlViELcKB8Bm99EYUvUqE7PJXhWxfP2N9-bVWwBGbDyh4a87ZfxXa3F3YY0QeBYbWlvDeIfGdQ/s1600/KHU+V%E1%BB%B0C+TR%C6%AF%E1%BB%9AC+L%C3%80+CH%E1%BB%A2+B%C3%80+N%E1%BA%B0M+%C4%90%E1%BB%90I+DI%E1%BB%86N+V%E1%BB%9AI+L%C4%82NG+B%C3%80.+%E1%BA%A2NH+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;background-color: white; margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;283&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEikv4jzxZJZjGvGMonjSoaJW_Neay2rYSHZqp-U1oFxqY7ug5k1yW84-COu0A0tyQ2dhwlViELcKB8Bm99EYUvUqE7PJXhWxfP2N9-bVWwBGbDyh4a87ZfxXa3F3YY0QeBYbWlvDeIfGdQ/s400/KHU+V%E1%BB%B0C+TR%C6%AF%E1%BB%9AC+L%C3%80+CH%E1%BB%A2+B%C3%80+N%E1%BA%B0M+%C4%90%E1%BB%90I+DI%E1%BB%86N+V%E1%BB%9AI+L%C4%82NG+B%C3%80.+%E1%BA%A2NH+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;background-color: white; color: white;&quot;&gt;KHU VỰC TRƯỚC LÀ CHỢ BÀ NẰM ĐỐI DIỆN VỚI LĂNG BÀ. ẢNH Đ.Đ&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;Có thể nói, từ khi có Lăng Bà, người ta đến &lt;i&gt;“xin”&lt;/i&gt; Bà giúp đỡ ngày càng đông. Điều tất
nhiên, khi đến &lt;i&gt;“xin”&lt;/i&gt; Bà giúp, người
ta phải mua sắm tí lễ vật, nhiều thì bánh trái, hoa quả, ít cũng nải chuối,
hương đèn… Thế là mấy nhà xung quanh lăng bà có sáng kiến đứng ra bán hương
đèn, hoa quả, bánh trái. Mà, Bà càng thiêng thì bánh trái, hoa quả bán càng đắt.
Không những vậy, những người ở xa, có khi đi nửa ngày đường mới đến, cần có chỗ
ăn. Mấy quán ăn nhờ vậy cũng ra đời. Lý trưởng làng thấy việc buôn bán ở Lăng
Bà phát đạt, mới nhân cơ hội đứng ra lập chợ, gọi là chợ Bà. Lăng Bà và chợ Bà
đều ở cùng một địa điểm. Chợ Bà ở sát bến sông thì Lăng Bà cũng ngay ở đó. Xưa,
chợ Bà là chợ lớn của khu vực. Chợ Được ở gần đó tuy có tiếng tăm nhưng hàng
hoá buôn bán còn thua chợ Bà. Chợ thu hút không chỉ ghe thuyền ở Hội An, Duy
Xuyên mà còn một số địa phương khác ở Quế Sơn, Tam Kỳ... Là chợ lớn, có tính chất
trung chuyển nên chợ &lt;i&gt;“họp”&lt;/i&gt; rất sớm, bắt
đầu từ bốn giờ sáng, đông nhất 5 giờ, đến 6 giờ sáng chợ bắt đầu &lt;i&gt;“tan”&lt;/i&gt;. Lúc này, chợ chủ yếu phục vụ người
dân trong và ngoài làng đến mua thức ăn, hàng tiêu dùng hàng ngày. Gần trưa,
người ta dọn dẹp, về nhà. Chợ Bà, do vậy, còn có thể gọi là chợ mai.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;Xưa, ghe thuyền ghé bến chợ Bà tấp nập, có lúc lên hàng chục
chiếc, đậu chật cả bến sông. Hàng mua đi chủ yếu nông sản như khoai lang, đậu
phụng. Hàng đến bán là vải vóc, mắm muối, dầu thắp... Đặc biệt, ở Bình Hoà có
xóm đánh bắt cá, tôm trên khúc sông Trường Giang chảy qua làng có tên gọi xóm
Nò. Thế cho nên, đây cũng là một trong những mặt hàng chính của &lt;i&gt;“thương hiệu”&lt;/i&gt; chợ Bà thời trước. Người
ta không những mua hàng rồi chuyển xuống ghe đi các nơi mà còn... gánh bộ ra
bán các chợ ở Thăng Bình, Quế Sơn, nhất là chợ Hương An. Ở chợ Bà, hồi trước
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có hai người Tàu. Đó là ông Khách Nấu và ông Bảy
Gián. Trong đó, mặt hàng ông khách Nấu kinh doanh mạnh nhất là vải vóc. Riêng
ông Bảy Gián chủ yếu kinh doanh rượu. Ngoài hai hiệu buôn người Tàu, số còn lại
là người Việt. Buôn bán &lt;i&gt;“bề thế”&lt;/i&gt; một
chút có bà Đảng, ông Nguyễn A rồi ông Hoàng, ông Tổng Ngự, ông Duyên... Ngoài
bà Đảng, ông Nguyễn A bán hàng tạp hoá, về hàng ăn uống có ông Tổng Ngự bán bún
thịt bò, bà Diên bán mì Quảng. Mì Quảng là mì có nước nhưn cá. Hàng ăn bán cả
ngày. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;Trong số những người kinh doanh ở chợ Bà, ông Nguyễn A nổi tiếng
là người giàu có, và là một trong số rất ít hộ ở Bình Hoà xây được nhà lầu đầu
tiên. Ông còn có cả một chiếc ghe chạy tuyến đường đến Hội An. Sinh thời, ai túng
thiếu, ông đều bán, nhưng phải chấp nhận giá cao hơn. Người ta bảo do ông ăn ở &lt;i&gt;“căn ke”&lt;/i&gt;, không được hào phóng, rộng rãi
nên khi mất, số phận khá hẩm hiu. Riêng ông Hoàng có đến hai bà vợ. Nguyên bà Đảng,
người Kim Bồng, vào buôn bán ở chợ Bà. Bà có người con trai tên Tùng. Ông này lấy
con gái ông Xoài. Khi ông Tùng mất, vợ ông Hoàng mới thúc giục chồng vào lấy
con gái ông Xoài &lt;i&gt;“Ông mà không lấy, hắn về
làm dâu họ, tài sản coi như về tay người ta”&lt;/i&gt;. Nhờ đó, ông Hoàng vừa có cơ sở
kinh doanh ở chợ Bà vừa có cơ sở kinh doanh ở chợ Việt An. Đáng chú ý, bà vợ ở
Việt An có thuận lợi trong việc mua một số mặt hàng dùng làm thuốc Bắc như sa
nhân, sâm, quế... Bấy giờ, bà con các dân tộc sau khi đào, mang xuống chợ Việt
An. Ngay tại đây, vợ ông Hoàng tổ chức cơm ăn, có cả rượu. Ăn uống no say xong,
lúc họ về, ông mới bảo &lt;i&gt;“Này, các ông lấy
ít nhiều chi chớ?”&lt;/i&gt;. Bà con cười, đáp &lt;i&gt;“Thôi
mà, mi cho tao ăn, tao cho lại mi mấy thứ đó, tiền nong chi!”&lt;/i&gt;. Có thể nói,
nhờ lợi thế đó, ông Hoàng phất lên nhanh chóng.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEint8BkMuiq5WVNarqVVpSccIXsM5ri4Gk3EpUCMQYDbcOcW6yLe-WGZK489RPGBH6Dk43a1LPhVzhxSckbSXjEKDsP6J-FIHQu8DfikGniUATZk2mPIpKFjyx22Y7eUFkyU7iCPVUvbQw/s1600/L%C4%82NG+B%C3%80+HI%E1%BB%86N+NAY.+%E1%BA%A2NH+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;background-color: white; margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEint8BkMuiq5WVNarqVVpSccIXsM5ri4Gk3EpUCMQYDbcOcW6yLe-WGZK489RPGBH6Dk43a1LPhVzhxSckbSXjEKDsP6J-FIHQu8DfikGniUATZk2mPIpKFjyx22Y7eUFkyU7iCPVUvbQw/s400/L%C4%82NG+B%C3%80+HI%E1%BB%86N+NAY.+%E1%BA%A2NH+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; width=&quot;312&quot; /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;background-color: white; color: white;&quot;&gt;LĂNG BÀ HIỆN NAY. ẢNH Đ.Đ&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như nhiều
chợ khác ở Quảng Nam, chợ Bà phải giải tán. Để tránh máy bay Pháp phát hiện, thả
bom, người ta chỉ &lt;i&gt;“họp chợ”&lt;/i&gt; nhỏ lẻ,
chủ yếu ở các xóm. Sau năm 1954, chợ Bà mới được lập lại. Lúc này, chợ toàn người
Việt. Số bà con Hoa kiều đã tản đi các nơi. Có người ra Hội An, có người ra Đà
Nẵng. Thời kỳ này, ở chợ Bà, buôn bán nổi nhất có ông Năm Đức. Ông này chuyên
buôn thóc gạo, các loại đậu. Kế đến là bà Hoàng bán tạp hoá, bà Bảy Ta bán mì
Quảng... Đặc biệt, có ông Lương Năm bán cơm. Nhưng sau, cơm ế nên ông&amp;nbsp; quay sang bán mì Quảng. &amp;nbsp;Nhìn chung, trong thời kỳ này, chợ Bà không còn
giữ được vị trí là chợ khu vực, đóng vai trò trung chuyển hàng hoá trong vùng nữa.
Chợ Bà dần dần trở thành một ngôi chợ quê, như hàng trăm ngôi chợ quê ở xứ Quảng.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: &amp;quot;MS Mincho&amp;quot;;&quot;&gt;Đầu những năm 2000, chính quyền xây dựng chợ mới nằm cách xa địa
điểm cũ chừng 500 mét. Vậy là lần đầu tiên, Lăng Bà và chợ Bà nằm cách xa nhau
nửa cây số. Nhưng dù xa hay gần, Lăng Bà và chợ Bà ở Bình Hòa mãi mãi lưu giữ
trong dân gian những ký ức, những câu chuyện kể lý thú về một thời quá vãng khó
phai mờ trong ký ức…&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: white; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: white;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;div align=&quot;right&quot; class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: right; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/8213657249320635280/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/8213657249320635280?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/8213657249320635280'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/8213657249320635280'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/06/su-tich-lang-ba-cho-ba_6923.html' title='SỰ TÍCH LĂNG BÀ, CHỢ BÀ'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEikv4jzxZJZjGvGMonjSoaJW_Neay2rYSHZqp-U1oFxqY7ug5k1yW84-COu0A0tyQ2dhwlViELcKB8Bm99EYUvUqE7PJXhWxfP2N9-bVWwBGbDyh4a87ZfxXa3F3YY0QeBYbWlvDeIfGdQ/s72-c/KHU+V%E1%BB%B0C+TR%C6%AF%E1%BB%9AC+L%C3%80+CH%E1%BB%A2+B%C3%80+N%E1%BA%B0M+%C4%90%E1%BB%90I+DI%E1%BB%86N+V%E1%BB%9AI+L%C4%82NG+B%C3%80.+%E1%BA%A2NH+%C4%90.%C4%90.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2086501205400602064</id><published>2013-05-11T07:30:00.001+07:00</published><updated>2013-06-15T17:34:47.292+07:00</updated><title type='text'>SỰ TÍCH MỘT LÀNG HƯƠNG</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Ngày Tết, bên cạnh thịt thà, bánh trái, người dân còn
phải mua một vài thẻ hương, bó hương thắp ba ngày đầu năm mới. Hơn thế nữa, Tết
mà không có hương trầm, hương thơm thì… chả ra làm sao cả. Ở xứ Quảng, có nhiều
địa phương làm hương, sản xuất hương phục vụ nhu cầu hương Tết cho bà con. Đặc
biệt, làng hương Phú Lộc, nay thuộc khối Trung An, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại
Lộc, là một trong những làng hương truyền thống nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam.
Làng hương đã đi vào dòng văn học dân gian với những câu hát mộc mạc, trữ tình
“&quot;Phú Lộc ngan ngát hương thơm/ Mời anh ghé lại nghe đồn câu ca&quot;. Và,
xung quanh sự ra đời của làng hương Phú Lộc, có sự tích khá lý thú và hấp dẫn&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 9.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 37.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Chuyện kể rằng làng Phú Lộc xưa có tên dân dã là Bàu Tròn Châu. Nguyên
cạnh làng có một bàu nước được tạo thành bởi một nhánh sông chết tách ra từ
sông Vu Gia. Nó trải ra theo chiều dài của làng, ăn sâu xuống, giáp với các
làng Ái Nghĩa Nam, Mỹ Tây và Quảng Hóa Phú. Góp công khai phá mảnh đất này là
tứ tộc tiền hiền gồm Lê, Đỗ, Trương và Hứa. Họ vừa phát bói dựng nhà làm ruộng
vừa trồng bói để giữ phù sa, thúc đẩy quá trình bồi tụ, biến bãi đất bồi ven
sông, lau bói um tùm thành xóm làng trù phú, đất ruộng màu mỡ tốt tươi. Về thời
điểm ra đời, theo Địa bạ Thái Đức giáp niên, một tài liệu cổ còn ghi lại thì
đến năm 1785, làng Phú Lộc đã khai khẩn được 60 mẫu đất hoang, tạo điều kiện
định canh định cư, ổn định cuộc sống lâu dài. Như vậy, ước tính ngay nửa đầu
thế kỷ XVIII, những cư dân Việt đầu tiên đã đặt chân lên làng Phú Lộc, chọn đây
làm nơi lập nghiệp của mình.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 9.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 37.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj2UmG7K9EA_nZHA3tEnexil9CA4nN3nYgdzeQVZ1Ii1cIUYETLfiud1aKnWFnNfElVKTXTpOLe0H8zTwIDEQVT23B-bPYsUA2_B5J9uaUgEP3mX4MGiUyMJXHKmVAxXGSEc9g4A2Do-20/s1600/C%E1%BA%A3nh+th%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;287&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj2UmG7K9EA_nZHA3tEnexil9CA4nN3nYgdzeQVZ1Ii1cIUYETLfiud1aKnWFnNfElVKTXTpOLe0H8zTwIDEQVT23B-bPYsUA2_B5J9uaUgEP3mX4MGiUyMJXHKmVAxXGSEc9g4A2Do-20/s400/C%E1%BA%A3nh+th%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;Cảnh thường ngày ở làng hương Phú Lộc. Ảnh Đ.Đ&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 9.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 37.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 9.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 37.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Về nguyên nhân xuất hiện nghề làm hương ở Phú Lộc, lại có câu chuyện kể
gắn liền với thời kỳ... mang gươm đi mở cõi. Nguyên, trong tứ tộc tiền hiền,
tộc Hứa không có đất ruộng ghi trong sổ bộ của Địa bạ Thái Đức giáp niên. Lúc
bấy giờ, tiền hiền của tộc Hứa là ông Hứa Tàu thường đi đây đi đó. Trong những
chuyến làm ăn xa, ông có dịp tiếp xúc, học hỏi nhiều. Thế rồi, một ngày kia,
dân làng thấy ông bắt tay vào việc sản xuất hương thắp. Tò mò, mọi người kéo
đến xem. Hóa ra, ông đã học được nghề làm hương và quyết tâm lấy đó làm nghề
sinh sống chính của mình. Từ ngày có nghề mới này, người ta thấy ông chỉ cặm
cụi làm hương mà kinh tế gia đình ông khá hơn trước nhiều. Nghĩa là nghề có đất
dụng võ, có môi trường hoạt động. Cho nên, dân làng để ý học hỏi làm theo. Làng
nghề ra đời. Tính ra, tuổi của làng nghề trùng với tuổi của làng, nghĩa là cách
nay đã trên hai trăm năm. Tương truyền, hồi mới tập tò làm hương, ông Hứa Tàu
tỏ ra rất công phu, cẩn thận. Nguyên liệu chính để làm là lá bời lời, một loại
lá mọc trên rừng. Để bứt lá, ông phải lặn lội lên núi. Lá hái về, ông dùng nước
rửa thật sạch, sao cho bụi, đất không còn bám vào lá. Xong xuôi, ông phơi lá
cho ráo nước trước khi hong bằng than cho giòn rụm. Tiếp theo, lá được bỏ vào
cối giã nhuyễn thành bột mịn, trộn với ít bột lá quế cho thơm rồi nhào với nước
thật dẽo để bắt vào que tre đã vót sẵn bằng tay. Cuối cùng, trước khi phơi, que
hương được lăn thêm một lần nữa để bột bị ép chặt vào que, không rời ra lúc di
chuyển. Cứ thế, làm từ que này đến que khác đến khi hết bột mới thôi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 9.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 37.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;color: white; font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Thật ra, không chỉ lá bời lời, người dân Phú Lộc còn có thể làm hương
bằng nhiều loại lá rừng khác như lá mô, lá trường, lá bướm, lá giỏ giẻ… là
những thứ lá có chất dẻo, tạo độ kết dính tốt, thích hợp dùng làm nguyên liệu
để sản xuất hương. Ngày xưa, dân làng chỉ làm một loại màu là màu đà vốn sẵn có
trong tự nhiên. Còn hiện nay, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật, họ có
thể dễ dàng làm các gam màu. Chỉ cần bỏ ra chút ít tiền là có thể mua các loại
bột màu tùy thích. Bên cạnh bột màu, lại xuất hiện hóa chất tạo mùi. Mấy chục
năm trở về trước, cũng như ông Hứa Tàu, muốn có bột, họ phải lên núi bứt lá. Độ
ba, bốn giờ sáng, bà con đã thức giấc, í ới gọi nhau, chuẩn bị cơm đùm cơm nắm,
nhắm mấy ngọn núi vùng Đại Quang, Đại Nghĩa mà đi. Đến nơi, phần ai người nấy
luồn rừng, tìm cây bứt lá. Trưa, họ đã xuống núi, tìm chỗ râm mát nghỉ ngơi, ăn
uống cho lại sức rồi tiếp tục về nhà. Sau đó, nếu trời nắng thì trải lá ra
phơi. Trời mưa, phải hong lá. Khổ nhất, khi lá hong giòn, là giã ra bột. Cứ
chồng một chày, vợ một chày, gĩa hết cối này sang cối khác. Lúc giã, bụi bay
lên bám vào mặt, vào người, hòa với mồ hôi túa ra như vẽ rồng, vẽ rắn. Xong
xuôi, việc nhào bột, bắt vào que tre và lăn tương đối nhẹ nhàng hơn. Trẻ em
mươi tuổi đến cụ già sáu bảy mươi cũng có thể làm. Bởi, nó không đòi hỏi nhiều
sức lực. Chỉ cần siêng năng và có chút ít kinh nghiệm mà thôi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 9.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 37.5pt;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: white;&quot;&gt;Có thể nói, qua hàng trăm năm với bao vật đổi sao dời nhưng nghề làm
hương truyền thống Phú Lộc vẫn được duy trì và phát triển. Ghé thăm làng nghề,
đặc biệt vào tháng mười một, tháng chạp âm lịch, thời điểm cận Tết âm lịch hàng
năm, du khách gần xa sẽ vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi thấy dọc hai bên
đường hương phơi đầy trước sân, ngoài ngõ. Có nhà phơi bằng nong, lại có nhà
phơi bằng giàn. Khách như lạc vào thế giới khác, thế giới đầy sắc và hương. Rồi
mai đây, những cây hương, bó hương… thơm ngát sẽ theo chân họ đi khắp các nẻo
đường, từ quê ra phố, đáp ứng nhu cầu hương Tết của bà con xa gần.&lt;/span&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2086501205400602064/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2086501205400602064?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2086501205400602064'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2086501205400602064'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/05/su-tich-mot-lang-huong.html' title='SỰ TÍCH MỘT LÀNG HƯƠNG'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj2UmG7K9EA_nZHA3tEnexil9CA4nN3nYgdzeQVZ1Ii1cIUYETLfiud1aKnWFnNfElVKTXTpOLe0H8zTwIDEQVT23B-bPYsUA2_B5J9uaUgEP3mX4MGiUyMJXHKmVAxXGSEc9g4A2Do-20/s72-c/C%E1%BA%A3nh+th%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-1110699246650095382</id><published>2013-05-04T10:04:00.001+07:00</published><updated>2013-06-15T17:37:30.774+07:00</updated><title type='text'>SỰ TÍCH “ĐƯỜNG” CẦU VỒNG</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;Ở Đà Nẵng xưa có một con
đường khá đặc biệt. Đó là đường… Cầu Vồng, tức đoạn đường kéo dài từ ngã tư Ngô
Gia Tự, Lê Duẩn đến ngã tư Lê Duẩn, Ông Ích Khiêm hiện nay. Thật ra, gọi đường
Cầu Vồng là cách gọi dân dã chứ Đà Nẵng không có con đường nào mang tên đường
Cầu Vồng. Danh xưng chính thức của con đường có đoạn đường Cầu Vồng thay đổi
qua nhiều giai doạn trong lịch sử. Tên xưa nhất là Rue Pigneau de Béhaine, tức
đường Bá Đa Lộc. Tên này do thực dân Pháp đặt. Năm 1954, chính quyền Sài Gòn
đổi lại là đường Thống Nhất. Năm 1987, đường Thống Nhất được đổi tên thành
đường Lê Duẩn. Còn sự xuất hiện của đoạn đường mà dân gian thường gọi là đường
Cầu Vồng, xóm Cầu Vồng vì đó là đoạn đường có dốc khá cao, giống như độ dốc của
cầu vượt Hòa Cầm hiện nay. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj0FdkNq2Bv5WdXChphdOcHaEniy-2jEWXQLCi4nJjKlgF6qJWzR5s7jR0HtY3McWhLSR7Mdz9rFsdkDriMmaZAD5NQ6iGLo-UXntEF4vaHYmeeB3BGq5V2xQUANQr74p0jbYa7zFDDqpc/s1600/images875731_cau_vong_duong_thong_nhat_01.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;640&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj0FdkNq2Bv5WdXChphdOcHaEniy-2jEWXQLCi4nJjKlgF6qJWzR5s7jR0HtY3McWhLSR7Mdz9rFsdkDriMmaZAD5NQ6iGLo-UXntEF4vaHYmeeB3BGq5V2xQUANQr74p0jbYa7zFDDqpc/s640/images875731_cau_vong_duong_thong_nhat_01.jpg&quot; width=&quot;458&quot; /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white; font-family: Arial; font-size: small; text-align: left;&quot;&gt;Cầu Vồng xưa, hình ảnh giờ không còn. Ảnh: Ông Văn Sinh&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;Và, mươi năm trở về
trước, khi đoạn đường có danh xưng dân dã đường Cầu Vồng chưa bị san bằng để
tiến hành thi công đường Lê Duẩn thẳng tắp, khang trang, những ai đi xe đạp đều
có tâm lý… tránh đoạn đường này. Bởi, mười người như một rất ngại đạp xe lên
Cầu Vồng. Lên đóc và xuống dốc đâu phải dễ. Đạp lên đã mệt nhưng khi xuống,
luôn phải cẩn thận, vì độ dốc khá lớn, rất nguy hiểm. Thế nhưng, trong nhiều
trường hợp bất đắc dĩ, họ cũng phải đi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&amp;nbsp;Thật ra, địa điểm xưa gọi là Cầu Vồng hoàn
toàn không có đồi, cũng không có nỗng đất cao nào cả. Đó là chỗ đất bằng phẳng.
Thế rồi, khi thực dân Pháp tiến hành làm con đường xe lửa nối ga xe lửa Đà
Nẵng, bấy giờ gọi là Gare de Tourane Central, và hoàn thiện hệ thống đưởng xe
lửa, thì có một con đường sắt băng ngang qua đường mà Pháp đặt tên là Rue
Pigneau de Béhaine, tức Bá Đa Lộc, một nhân vật rất quen thuộc trong lịch sử
Việt Nam. Tại Đà Nẵng thời thuộc Pháp Rue Pigneau de Béhaine là một trong những
tuyến đường quan trọng, là một trong những cửa ngõ chính vào thành phố nên luôn
có nhiều người qua kẻ lại. Để tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra, thực dân
Pháp cũng cho xây một cái barière để đóng lại khi có tàu lửa đi ngang qua. Thế
rồi, có một lần nọ, một vị quan đầu tỉnh có công chuyện phải đi ngang qua đoạn
đường có cái barière ấy. Quan đi bằng xe ô tô, bấy giờ gọi là xe đít vịt, sơn
màu đen, nhỏ nhắn. Đã là xe quan thì sang trọng, ai không biết, ai không sợ.
Quan mà, hét ra lửa, đâu phải chuyện chơi. Thêm vào đó, quan đi xe ô tô, phải
là quan lớn, quyền hành ghê gớm lắm.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;Chẳng may, khi xe ô tô
chở quan lớn từ ngã ba Huế vừa đến nơi thì tàu cũng hụ còi, báo hiệu sắp đi
qua. Để thực hiện nhiệm vụ của mình, nhân viên gác barière vội vàng cho đóng
cổng lại, nhằm ngăn tất cả người băng qua, bảo vệ tính mạng của họ. Viên quan ngồi
trong xe thấy vậy, tỏ ra hậm hực. Đường đường là quan lớn mà cái gã nhân viên
gác barière quèn cũng không nể mặt cho. Ít ra, gã phải để cho quan qua đã chứ?
Thế mới phải lẽ. Tàu hú còn xa, đâu phải đã sắp đến mà không nể mặt quan, cứ
thản nhiên đóng cổng lại. Hỏi thử không tức sao được. Quan nghĩ vậy. Ông ta bảo
thắng lính theo hầu phải nạt gã nhân viên gác cổng một hơi cho hả giận. Sau khi
tàu lửa đi khỏi, thằng lính đi theo hầu theo lệnh quan, hùng hổ đi tới, trừng
trừng nhìn nhân viên gác cổng, quát rằng sao thấy xe quan đi qua mà đóng cổng,
bộ không sợ sao? Người gác cổng thưa lại &lt;i&gt;“Tui
không đóng cổng thì giờ ni quan đã chết mất rồi. Tàu lửa qua, nó có biết quan
mô mà tránh. Lúc đó, ai chịu tội? Quan chớ vua qua tui cũng đóng”&lt;/i&gt;. Lý lẽ
nhân viên gác cổng nghe qua thật có lý. Ông bà thường nói &lt;i&gt;“Nói thật cục đất cũng nghe”&lt;/i&gt;. Thằng lình hầu lúc ấy cứng họng, ngẫn
tò te, không biết nói sao. Hắn đành quay lại, bẩm sự tình với quan.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi6DouxjOCOpX6v8WQ1dZjTHhpf_V6lOkK6YW-qOEDVq2dkwlOI5dPjrhgv1qnUaIT9Cv4oA3Mzfk-5NHr4pAYI77tYrFugXJxNhVvmceFluCKc4uLbijGlZ1_a01ueyIntHussd1p_H0s/s1600/quan-pham-phuc-3f157.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;332&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi6DouxjOCOpX6v8WQ1dZjTHhpf_V6lOkK6YW-qOEDVq2dkwlOI5dPjrhgv1qnUaIT9Cv4oA3Mzfk-5NHr4pAYI77tYrFugXJxNhVvmceFluCKc4uLbijGlZ1_a01ueyIntHussd1p_H0s/s400/quan-pham-phuc-3f157.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white; font-size: small;&quot;&gt;Một vị quan xưa. Ảnh tư liệu&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;Viên quan nghe qua, im,
không nói gì. Nhưng thời gian sau, quan &lt;i&gt;“sức”&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/SU%20TICH%20CAU%20VONG.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;b&gt;[1]&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/i&gt;
dân các xã Hải Châu, Thạch Thang, Thạc Gián và Tân Chính gánh đất đổ cao lên,
làm Cầu Vồng. Thực chất, đây là một chiếc cầu tránh xe lửa. Quan nghĩ, khi cầu
hoàn thành, xe lửa chạy mặc xe lửa, người ta vẫn đi được. Cầu tránh xe lửa mà!
Tiện lợi đôi đường. Không những tiện cho quan khi đi công vụ mà người dân cũng
được hưởng lợi. Dù gì, đây cũng là công trình công ích. Bấy giờ, không khí lao
động thi công đoạn đượng có danh xưng là Cầu Vồng nhiều khi rất náo nhiệt. Hầu
như tất cả đều làm bằng tay nên đòi hỏi sức lực ghê gớm. Thôi thì đầu này kẻ
gánh, đầu kia kẻ xúc. Trưa, cát bụi bay mù mịt. Tuy gọi là &lt;i&gt;“sức”&lt;/i&gt; cho dân nhưng khi thi công, quan cũng xuất công quỹ. Mỗi
người khi làm đoạn đường nói trên được hưởng một ít tiền công. Thế cho nên,
trong dân gian mới có câu hát vui rằng &lt;i&gt;“Đẩy
ông Lô/ Ngày năm bảy giác/ Cũng vô bánh bèo”&lt;/i&gt;. Số là, thi công đường hồi đó
chưa có xe lăn, xe đầm. Người ta phải sử dụng gốc tre gốc, đục lỗ, chế tạo ra
cái đầm bằng tay, gọi là ông lô. Đẩy ông lô tức đẩy cái đầm qua lại để nén đất
cho thật chặt. Tương truyền người ta đầm cả mấy tháng trời. Tất cả đều bằng sức
người là chính. Công việc nặng nhọc, vất vả, người dân máu đói bụng. Cho nên,
với mấy giác bạc tiền công, chỉ đủ cho họ ăn… bánh bèo đỡ đói, chẳng nhằm nhò
gì!&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;[2]&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/SU%20TICH%20CAU%20VONG.doc#_ftn2&quot; name=&quot;_ftnref2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;Và, trong một lần lang thang trên internet, tôi bắt gặp một &lt;a href=&quot;http://www.luanhoan.net/tacpham/QuaKhuTruocMat/web/ChamChanVaoDatTourane.htm&quot;&gt;đoạn văn&lt;/a&gt; của một người từng sống ở Đà Nẵng vào những năm 1950 - 1960 hồi tưởng về đoạn đường này như sau&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;
&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&quot;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;Ba tôi đã thuê một căn nhà nằm trên đường Thống Nhất. Con đường này trước năm 1950 mang tên một vị giáo sĩ người pháp, Linh mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc). Theo lịch sử, ông là người từng thay chúa Nguyễn Ánh ký hiệp ước Versailles năm 1779 với triều đình Louis XVI. Con đường rất rộng, có thể lên đến chín, mười thước. Mặt đường nhựa bóng đen và bằng phẳng. Nhà chúng tôi thuê ở gần một cái dốc cao, được gọi là dốc Cầu Vồng.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;Một bên chân dốc, đường Thống Nhất đổ xuống gặp con đường Edouard de L’Horlet, tạo thành một ngã tư. Tại ngã tư này có một cái giếng gạch bị bể miệng, nên được gọi là Giếng Bể.&amp;nbsp;&amp;nbsp;Giếng Bể nằm bên trái đường Edouard de L’Horlet, hướng ra bãi biển. Nếu kể từ ngã tư này lên đỉnh dốc, nhà chúng tôi ở vào vị trị một phần ba đoạn dốc, về phía bên phải. (Đường Edouard de L’Horlet được đổi thành đường Khải Định vào năm 1954. Và sau 1975, tên Khải Định bị xóa, con đường mang cùng tên với đoạn nối dài: Ông Ích Khiêm)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;Ở chân dốc bên kia, đường Thống Nhất chạy song song với thành rào sân vận động Chi Lăng nằm bên phải, rồi gặp đường Yersin, tạo thêm một ngã tư. Bắt đầu từ ngã tư này, chạy xuống bờ sông, hai bên đường Thống Nhất có những cây kiềng kiềng rất cao lớn, được trồng cách khoảng đều nhau, đem lại cho con đường nhiều bóng mát. Một địa điểm cũng nên biết, cách ngã tư này không xa, nằm phía bên phải con đường, là một căn nhà rộng mái tôn. Đây có lẽ là cái&amp;nbsp;&lt;i&gt;bordel&lt;/i&gt;&amp;nbsp;lớn nhất của thành phố Tourane. Người-đẹp-thanh-lâu ở đây có thể lên đến cả trăm không chừng. Bởi nhiều lúc, tôi thấy có hàng năm, bảy chiếc GMC đổ lính Pháp xuống đây. Minh hoạt lại cảnh xưa của dốc Cầu Vồng sẽ thiếu sót, nếu quên nhắc đến con đường sắt chạy xuyên qua đỉnh dốc. Con đường sắt này thời tôi ở gần, có xảy ra một vụ tàu hỏa cán người thật bi thảm. Đó là một người đàn ông đi tìm cái chết vì tình yêu. Tôi không dám chạy đến xem, nhưng nghe nói trái tim người si tình ấy, khi chết, rớt nằm trên tà vẹt vẫn không ngớt co bóp&quot;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;Dĩ nhiên, những kỷ niệm và hồi ức về Cầu Vồng không chỉ dừng lại ở đó...&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin: 0in 0in 0.0001pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;br /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/SU%20TICH%20CAU%20VONG.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Arial Unicode MS&amp;quot;; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;&quot;&gt;飭:
&lt;/span&gt;Sức, tức mệnh lệnh của quan truyền xuống cho dân biết gọi là sức.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div id=&quot;ftn2&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: black; color: white;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/SU%20TICH%20CAU%20VONG.doc#_ftnref2&quot; name=&quot;_ftn2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Trần Khai, sinh năm 1927, làng Tân Trà, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà
Nẵng, kể.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/1110699246650095382/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/1110699246650095382?isPopup=true' title='2 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/1110699246650095382'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/1110699246650095382'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/05/su-tich-uong-cau-vong.html' title='SỰ TÍCH “ĐƯỜNG” CẦU VỒNG'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj0FdkNq2Bv5WdXChphdOcHaEniy-2jEWXQLCi4nJjKlgF6qJWzR5s7jR0HtY3McWhLSR7Mdz9rFsdkDriMmaZAD5NQ6iGLo-UXntEF4vaHYmeeB3BGq5V2xQUANQr74p0jbYa7zFDDqpc/s72-c/images875731_cau_vong_duong_thong_nhat_01.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>2</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-3615226842702627831</id><published>2013-04-27T15:45:00.001+07:00</published><updated>2013-04-27T15:45:04.401+07:00</updated><title type='text'>KỂ CHUYỆN BÀ THU BỒN…</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 11.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in;&quot;&gt;
&lt;i style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt;&quot;&gt;Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, người dân
làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, lại tổ chức lễ hội gọi là Lễ hội Bà
Thu Bồn, gọi tắt là Lệ Bà. Đặc biệt, xung quanh một trong những lễ hội nổi tiếng
nhất, đình đám nhất của Quảng Nam có nhiều câu chuyện kể dân gian khá lý thú,
hấp dẫn…&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;pbody&quot; style=&quot;mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
1. &lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;Về sự tích Bà Thu Bồn, có nhiều
truyền thuyết khác nhau. Một truyền thuyết cho rằng Bà là nữ tướng Chăm, bị vua
Lê đánh bại, phải chạy về làng Thu Bồn, bị ngã voi và chết. Lại có truyền
thuyết kể Bà nguyên là công chúa con ông vua Mây, cháu bà chúa Lồi, khi bị giặc
bao vây kinh thành, vua và công chúa cưỡi ngựa chạy lên Phường Rạng và ngã ngựa
mất, xác công chúa trôi về làng Thu Bồn. Một truyền thuyết khác thuật rằng Bà
là con&lt;/span&gt; &lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;của một phú
hộ. Khi mới lọt lòng, Bà có một mái tóc dài ngang lưng, hai hàm răng ngọc ngà
đẹp như hoa. Lên 5 tuổi, Bà biết dùng các loại lá, rễ cây trong vườn để chữa
bệnh cho người và gia súc. Đến 50 tuổi, Bà mất… Có thể nói, đó là những truyền
thuyết, huyền thoại được lưu truyền qua nhiều đời. Tuy mất, nhưng Bà rất hiển
linh, nhiều lần ra tay cứu nhân độ thế. Bà cai quản một vùng rộng lớn nằm dọc
theo sông Thu Bồn, từ Duy Xuyên đến Đại Lộc, kể cả vùng tây huyện Quế Sơn. Lâu
Lâu, Bà mới về một lần. Khi bay về,&amp;nbsp; Bà
bay ban đêm, trời lại có quầng sáng như ngọn lửa. Bà bay từ núi Chúa, tức Hòn
Đền ở Quế Sơn qua đất Duy Xuyên, đến núi An Định ở vùng tây Đại Lộc. Hình dáng
Bà lúc ấy như dải lụa, mềm mại uyển chuyển. Cũng theo chuyện kể, khi dân Việt
từ đất Bắc kéo vào Thu Bồn, vùng đất này hãy còn hoang vu. Hồi đó, chỗ xây lăng
Bà Thu Bồn có một cái hang rất sâu. Nghe nói không có nhà. Nhưng có trại lợp
bằng lá kè. Đặc biệt, theo lưu truyền, thời xưa, ngay lúc mới đến lập nghiệp,
ông bà thấy cứ đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, người Chiêm tổ chức lấy nước từ
sông Thu Bồn rước về Trà Kiệu để cúng nên khi đến lễ hội Lệ Bà, họ bắt chước
làm theo, tức ngoài lễ vật, cũng tổ chức rước nước để cúng như người Chiêm&lt;a href=&quot;file:///C:/Users/ADMIN/Desktop/KE%20CHUYEN%20LE%20BA%20THU%20BON.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; font-size: 13pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;pbody&quot; style=&quot;mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhBpMHXDd2dQS8IpJzfF9srlKZ6LlZQxa9Cz_KAgujuhQ5F9uyPhyphenhyphennFFuT0VMN9SyRDTMTI0QiYTCZFnNoXw6U10jtWiepf10OSyykapu7gfy7aNJaA25YnygWyEpxtrCtJQeGxsa-hryg/s1600/Lpng+Ba+Thu+B_n.+_nh+-.-.jpeg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;360&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhBpMHXDd2dQS8IpJzfF9srlKZ6LlZQxa9Cz_KAgujuhQ5F9uyPhyphenhyphennFFuT0VMN9SyRDTMTI0QiYTCZFnNoXw6U10jtWiepf10OSyykapu7gfy7aNJaA25YnygWyEpxtrCtJQeGxsa-hryg/s400/Lpng+Ba+Thu+B_n.+_nh+-.-.jpeg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Lăng Bà Thu Bồn. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;pbody&quot; style=&quot;mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;pbody&quot; style=&quot;mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;2. Xong phần lễ, đến phần hội.
Người ta tổ chức đua ghe, rồi hát bội. Sôi nổi nhất là đua ghe. Tùy theo &lt;i&gt;“túi tiền”&lt;/i&gt; và tùy theo năm, làng tổ chức
đua nhiều hay ít. Đua nhiều thì đua đến… 8 vòng đôi. Ít cũng 6 vòng đôi. Ngoài
đội đua ghe ở địa phương, làng còn mời đội đua ghe ở một số địa phương khác như
đội đua các vạn Nồi Rang, Bình Yên, Trà Linh, Chợ Được, Hội An… đến tham gia.
Giải thưởng có tiền và cờ. Khi đua, có đặt bàn án, có trống lệnh. Không khí
nhộn nhịp. Hai bên bờ sông, bên ni là làng Thu Bồn huyện Duy Xuyên, bên kia là
làng Phú Thuận huyện Đại Lộc bà con xem đông nghịt, hò reo cổ vũ rầm trời. Hát
bội gần như là sinh hoạt không thể thiếu ở lễ hội Bà Thu Bồn hồi nửa đầu thế kỷ
XX trở về trước. Làng tổ chức hát ban ngày, hiếm khi hát ban đêm. Nhiều khi
dưới sông có đua ghe đồng thời trên bờ cũng tổ chức hát bội. Cho nên, mới có
câu &lt;i&gt;&quot;Trên bờ hát bội dưói thuyền bơi
đua&quot;&lt;/i&gt;. Lúc ấy, ai muốn &lt;i&gt;“coi” &lt;/i&gt;hát
bội thì &lt;i&gt;“coi”&lt;/i&gt;, ai muốn &lt;i&gt;“coi” &lt;/i&gt;đua ghe thì… &lt;i&gt;“coi”&lt;/i&gt;.&amp;nbsp; Thường, chỉ hát vài
ba ngày, sau khi hết &lt;i&gt;“hợp đồng” &lt;/i&gt;thì
thôi. Các gánh hát, ngoài tiền hát theo &lt;i&gt;“hợp
đồng”&lt;/i&gt;, họ còn có thêm tiền thưởng. Gánh nào hát hay thì được thưởng nhiều.
Hình thức thưởng, xưa gọi là &lt;i&gt;“thướn”&lt;/i&gt;,
cũng khác. Hễ đến đoạn nào thấy quá &lt;i&gt;“tuyệt”&lt;/i&gt;,
dân mới ném thẻ để &lt;i&gt;“thướn” &lt;/i&gt;lên sân
khấu. Diễn viên đang hát nhặt thẻ. Thẻ có thẻ con và thẻ cái. Một thẻ cái bằng
mười thẻ con. Chỗ hay vừa ném thẻ con, cưc hay mới ném thẻ cái. Người ta tính
thẻ con bao nhiều tiền, thẻ cái bao nhiêu, cứ thế bao nhiêu thẻ đổi lấy bao
nhiêu tiền. Thỉnh thoảng, cũng có đôi người không ném thẻ mà ném… tiền lên,
diễn viên cũng nhặt. Nói chung, khán giả cho gì họ cũng nhận. Cho càng nhiều,
chứng tỏ họ hát càng hay, có sao đâu! Ngoài đua ghe, hát bội, còn có&amp;nbsp; đánh cờ, đánh bài lú và cả đánh xóc dĩa ăn
tiền. Nhưng đây là những trò chơi làng không đứng ra tổ chức, chẳng qua, một số
người lợi dụng cơ hội bày trò ăn thua mà thôi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;pbody&quot; style=&quot;mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi3C82_l0b4yM-QXG5Sgzs57JGipS4g_K8BOjRLVSnAgDtZakOK22BcqI0L58UayJj3PjbzErnYAyBoKY22RgTA3Q0uCJpIzBBHDqlyIe9ryDOHrXvjudNEK4VhWHPHKfltQpKakKdpli0/s1600/Bia+Lpng+Ba.+_nh+-.-.jpeg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi3C82_l0b4yM-QXG5Sgzs57JGipS4g_K8BOjRLVSnAgDtZakOK22BcqI0L58UayJj3PjbzErnYAyBoKY22RgTA3Q0uCJpIzBBHDqlyIe9ryDOHrXvjudNEK4VhWHPHKfltQpKakKdpli0/s400/Bia+Lpng+Ba.+_nh+-.-.jpeg&quot; width=&quot;267&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Bia Lăng Bà. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;pbody&quot; style=&quot;mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt;&quot;&gt;3. Xung quanh Lệ Bà có chuyện lạ. Nguyên đất ruộng
công ở làng nhiều. Thế cho nên, tiền hiền làng được tự một mẫu tư đất.&amp;nbsp; Đến ngày tế tiền hiền, làng lấy số hoa lợi từ
mấu tư đất này để chi phí. Trong lúc đó, tiếng là làng có lễ hội Bà Thu Bồn lớn
nhưng lại không có đất tự. Rốt cuộc, dân làng phải đóng góp&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;PMingLiU&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.0pt; mso-bidi-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;Mãi
sau này, ở làng Phường Chào, có một người lên đồng bảo với người cháu của bà
Phường Chào rằng Bà Thu Bồn không có đất tự. Người cháu bèn đem tiền qua mua đất
cúng Bà Thu Bồn. Ông này mua mẫu bảy đất để &lt;i&gt;“tý
tự”&lt;a href=&quot;file:///C:/Users/ADMIN/Desktop/KE%20CHUYEN%20LE%20BA%20THU%20BON.doc#_ftn2&quot; name=&quot;_ftnref2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: PMingLiU; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/i&gt; cho Bà Thu Bồn. Đó
là nguyên do mà hàng năm, khi tổ chức lễ hội Bà Thu Bồn, làng mới mổ con trâu,
lấy một miếng thịt vai to như cái khay với hai đòn bánh tét rồi sai anh Giáp, tức
anh chuyên đi rao ở làng, đem qua kỉnh cho người cháu đã mua đất để &lt;i&gt;“tí tự” &lt;/i&gt;cho Bà Thu Bồn. Khi đi kỉnh,
làng viết một cái phiếu, trên đó ghi miếng thịt ấy dày bao nhiêu, dài bao
nhiêu, cân nặng bao nhiêu. Người ta sợ anh giáp &lt;i&gt;“lẻo” &lt;/i&gt;mất chút ít. Chuyện kỉnh thịt trâu ngày lễ hội diễn ra hàng mấy
chục năm trời, sau này mới bỏ. Lại có truyền thuyết kể rằng xưa trong lăng Bà
có hai con tít to bằng bắp vế (!?). Đặc biệt, hai con tít này miệng ngậm hai cục
ngọc to như nắm tay. Bấy giờ, có thằng Tây nổi máu tham. Nó quyết lấy cho bằng
được. Nó cũng không tin Lăng Bà linh thiêng. Thế là nó đan một cái mủng chai
to, đổ nước vào, bắt con gà làm thịt, để con gà lên. Loài tít thấy gà thì bỏ cục
ngọc, bò đến ăn. Cục ngọc rớt xuống nước, biến mất tăm. Cặp tít sau đó chết
trong lăng. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjVAldIJr7Kh-cWNM73xxH4JPH7p_8-CwM_14eJfj4lxgJTm5VPcdVgrUChzSNoTJbbDjF1Y7OWbmbpZKcxDPrL4n1FFJWpoMY-RkQ47kT8JZWAPL_PBTk9qn36aaCLsPSHRg0UFxzcml0/s1600/BOn+trong+Lpng+Ba.+_nh+-.-.jpeg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjVAldIJr7Kh-cWNM73xxH4JPH7p_8-CwM_14eJfj4lxgJTm5VPcdVgrUChzSNoTJbbDjF1Y7OWbmbpZKcxDPrL4n1FFJWpoMY-RkQ47kT8JZWAPL_PBTk9qn36aaCLsPSHRg0UFxzcml0/s400/BOn+trong+Lpng+Ba.+_nh+-.-.jpeg&quot; width=&quot;267&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Bên trong Lăng Bà. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-alt: 12.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;4. Cũng vào quãng nửa
cuối thế kỷ XIX, ở ngoài kinh đô Huế, có phu nhân của vị quan nọ bị bệnh đã
lâu, chữa hòai không khỏi. Nghe tiếng lăng Bà Thu Bồn linh thiêng, bà mới lặn lội
vào xin thuốc. Vậy mà khỏi. Vị quan nọ mừng quá, đem đôi xuyến vàng với hai cái
trang dài thước năm Tây vào cúng lăng Bà. Thường thường, khi làm lễ, trên bàn
thờ, người ta mới đem cặp xuyến ra treo lên để cúng. Còn những ngày khác, họ đục
lỗ trong cây gỗ trên bàn thờ để cất cặp xuyến. Làng không ai giữ đôi xuyến vàng
này. Cũng không ai dám lấy trộm. Họ tin Bà linh thiêng, không thể làm điều xằng
bậy được. Bà mà nổi giận thì cầm chắc cái chết. Dân ta sợ, nhưng Tây không sợ.
Thế cho nên năm nọ, có hai thằng Tây lên Thu Bồn với một thằng thông ngôn. Cả
ba đi bằng ca-nô. Hai thằng Tây đậu ca-nô ngoài gành rồi vào lăng Bà, lén lấy cặp
xuyến vàng. Kỳ lạ thay, khi ra gành, không hiểu sao tự nhiên cả hai như bị ai
đó kéo mạnh, làm nhào đầu xuống nước mà chết. Làng mới báo lên quan trên. Lúc
đó, cũng không ai biết hai thằng này lấy trộm cặp xuyến trong lăng. Sau này,
khi thắp hương ở Lăng Bà, người ta mới rõ mọi chuyện. &lt;i&gt;“Đáng đời, ai bảo đụng đến Bà!”&lt;/i&gt;. Họ bảo nhau. Và, với dân làng Thu
Bồn nói riêng, Điện Bàn nói chung, cũng như người dân ở Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế
Sơn và nhiều nơi khác đều tin vào sự linh thiêng của Bà thông qua những chuyện
kể mang màu sắc huyền thoại của một thời chưa xa…&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;

&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;

&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;

&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;margin-left: 0in;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///C:/Users/ADMIN/Desktop/KE%20CHUYEN%20LE%20BA%20THU%20BON.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 10.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Trịnh Bốn, sinh năm 1931, làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div id=&quot;ftn2&quot;&gt;

&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;margin-left: 0in;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///C:/Users/ADMIN/Desktop/KE%20CHUYEN%20LE%20BA%20THU%20BON.doc#_ftnref2&quot; name=&quot;_ftn2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 10.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt; Tý
tự (&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;PMingLiU&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; mso-ascii-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;&quot;&gt;畀祀&lt;/span&gt;),, tức ban cho để dùng vào việc cúng
tế&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/3615226842702627831/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/3615226842702627831?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/3615226842702627831'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/3615226842702627831'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/04/ke-chuyen-ba-thu-bon.html' title='KỂ CHUYỆN BÀ THU BỒN…'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhBpMHXDd2dQS8IpJzfF9srlKZ6LlZQxa9Cz_KAgujuhQ5F9uyPhyphenhyphennFFuT0VMN9SyRDTMTI0QiYTCZFnNoXw6U10jtWiepf10OSyykapu7gfy7aNJaA25YnygWyEpxtrCtJQeGxsa-hryg/s72-c/Lpng+Ba+Thu+B_n.+_nh+-.-.jpeg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2995669590094210179</id><published>2013-04-22T14:51:00.001+07:00</published><updated>2013-04-22T14:51:16.537+07:00</updated><title type='text'>TỪ TRIỀU THÁI ĐỨC NHÀ TÂY SƠN…</title><content type='html'>&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Mấy chục năm trở về trước, khách thương hồ quanh năm
suốt tháng xuôi ngược trên sông Thu Bồn mấy ai không biết địa danh Phường Rạnh,
nay là làng Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, một vùng đất nằm ở vùng cực
tây Quảng Nam, bấy giờ còn hoang vu, núi đồi trùng điệp. Theo tư liệu còn lưu
lại, Phường Rạnh được khai phá từ rất sớm, dưới triều Thái Đức nhà Tây Sơn…&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .4in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;Ở Trung An có ba tộc tiền hiền là các
tộc Nguyễn, Trần và Trịnh. Các tộc đều đến lập nghiệp từ thời Tây Sơn. Trong đó,
tộc Nguyễn đến đầu tiên. Nhưng, do nhiều nguyên nhân, hiện nay, tộc này không
còn con cháu nối dõi. Sau tộc Nguyễn là tộc Trịnh và tộc Trần. Theo chuyện kể,
hồi ấy, tộc Trịnh vào bằng đường biển. Khi đi, có ba anh em. Đầu tiên, họ lập
nghiệp ở làng Hòa Mỹ nay thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, không
biết vì lý do gì, họ đi tiếp vào Quảng Nam. Một ông chọn mảnh đất nay là xã Đại
Chánh, huyện Đại Lộc; một ông đến làng Thu Bồn, nay thuộc xã Duy Tân, huyện Duy
Xuyên còn ông thứ ba vào tận Phường Rạnh, lập nghiệp. Còn tộc Trần, tương truyền,
theo vua vào &lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt;,
đến Bình Định lập nghiệp. Rồi, khi phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ, ba cha
con tộc Trần gồm cha là Trần Văn Tam và hai con là Trần Văn Hiền và Trần Văn Huấn
quay ra Quảng Nam, lên tận vùng đất sau này có danh xưng là Trung An, sinh sống.
&lt;i&gt;“Nghe truyền khẩu lại là họ đi theo lệnh
của bà vợ ông Trần Văn Tam... Không biết bà ni răng có quyền hành to như rứa.
Cũng nghe nói hồi đó, người cha Trần Văn Tam già rồi, còn người anh Trần Văn Hiền
lại quá hiền. Cho nên, em là Trần Văn Huấn mới đứng ra làm giấy tờ. Kết cuộc,
sau này chính người em đứng tên tiền hiền làng cùng với các tộc Nguyễn và Trịnh!”&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/TU%20TRIEU%20THAI%20DUC%20NHA%20TAY%20SON.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.&lt;/i&gt; &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .4in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEioNJLyCWCMpxsXDiOBctonjCqbFLm-eu6dkLTyj269tdpUKnozkhKNaY4oszdmUp8EyYKaqjSRSv2Hh7ZQAcAdPH72Nf0TK4v4Y6fqF56drU-JFQxyvnLYtKcdyxBkGvc-zZzCBAkk9yA/s1600/Gia+ph%E1%BA%A3+t%E1%BB%99c+Tr%E1%BA%A7n.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEioNJLyCWCMpxsXDiOBctonjCqbFLm-eu6dkLTyj269tdpUKnozkhKNaY4oszdmUp8EyYKaqjSRSv2Hh7ZQAcAdPH72Nf0TK4v4Y6fqF56drU-JFQxyvnLYtKcdyxBkGvc-zZzCBAkk9yA/s400/Gia+ph%E1%BA%A3+t%E1%BB%99c+Tr%E1%BA%A7n.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; width=&quot;223&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Gia phả tộc Trần. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .4in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .4in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;Đặc biệt, không chỉ truyền khẩu, tộc
Trần ở Trung An còn giữ bản gia phả khá đầy đủ. Bản gia phả bằng chữ Hán, được
lập vào năm &lt;i&gt;“Thành Thái tứ niên, thất
nguyệt, nhị thập nhật, lục cung”&lt;/i&gt;,&lt;i&gt; &lt;/i&gt;nghĩa
là vào ngày 20 tháng 7, năm Thành Thái thứ tư, tức năm 1892. Như vậy, theo tư
liệu, đây là bản gia phả được sao lại, chép lại từ một bản gia phả có từ trước.
Điều đặc biệt, gia phả tộc Trần cũng ghi lại khá rõ nét nguồn gốc của tộc Trần.
Và, đúng như lời kể, người đầu tiên tộc Trần vào Nam là ngài Trần Văn Tam. Thoạt
tiên, ngài vào định cư tại Bình Định, trú ở xã Mộc Bài. Bấy giờ, ở Mộc Bài, tộc
Trần là tộc lớn. Khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, trước khói lửa chiến
tranh, gây ra nhiều thảm cảnh đau lòng, theo lịnh từ người mẹ, tên là Nguyễn Thị,
ngài dẫn gia quyến đi lánh nạn ở chỗ này. Bản gia phả viết &lt;i&gt;“Tiên thế vi Bình Định tỉnh, Mộc Bài xã, nhứt cự tộc. Tiên linh húy
Tam, nhân Tây Sơn binh tiễn chi tế dữ, lịnh từ Nguyễn Thị, khiết quyến tị cư vu
thử nhân tịch”&lt;/i&gt;. Nhưng đến lập nghiệp ở vùng đất Trung An lúc bấy giờ không
chỉ có mình tộc Trần mà còn có hai tộc khác là tộc Nguyễn và tộc Trịnh. Thế là
ngài cùng với tiền hiền hai tộc Nguyễn, Trịnh, tức tam tộc, cùng xin lập bộ,
nghĩa là lập sổ sách đất đai của làng &lt;i&gt;“Thử
thìn y ông dữ Nguyễn Trịnh tam tộc đồng thảo khất kiến bộ”&lt;/i&gt;… Có thể nói, qua
những ghi chép nói trên, chúng ta có thể khẳng định vùng đất nay có danh xưng
là Trung An, nằm trên địa bàn xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam được
khai phá từ khá sớm, vào cuối thế kỷ XVIII. Đây cũng là thời điểm mà một số
làng xã khác ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng &lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt;, hình thành.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .4in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;Về nguồn gốc danh
xưng Trung An, có câu chuyện kể khá lý thú và hấp dẫn rằng thời trước, khi
người Việt đến lập nghiệp, ở đây đã có Dinh Bà Phường Rạnh, rất linh thiêng.
Ngày nọ, trong làng có ông gọi là ông Trùm Tuất, người họ Nguyễn, khá giàu, nhà
có của ăn của để, bị mất mấy con trâu. Tiếc của, ông mới quyết chí đi tìm cho
bằng được. Nhưng, ông chưa kịp bước ra khỏi bìa làng thì Bà đã &lt;i&gt;“đạp đầu
ngang”&lt;/i&gt;, tức mượn xác người sống, hiện lên, nạt nộ: &lt;i&gt;“Nhà người đi mô? Nhà
ngươi đừng có dại, chết như chơi. Bọn cướp đã chuẩn bị sẵn dao kiếm, nhà ngươi
đến chỉ thiệt thân. Nhà ngươi về đi. Còn về phần bọn cướp, nhà ngươi đừng lo.
Hễ kẻ nào trung thì được an mà ai ngang bướng, đi trộm cướp, sẽ không ra chi”&lt;/i&gt;.
Từ câu chuyện này, người dân mới lấy tên Trung An đặt tên cho làng với mong
muốn bà con sống ở vùng đất này luôn là những người&lt;i&gt;“trung thực”&lt;/i&gt; nên được
hưởng sự&lt;i&gt; “an lành”&lt;/i&gt;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgtCSzgBgh-nwmyyJxLgDcu5UK_mk9Kj_L01GKFpbuuGO2ILeu2MSvE_puUnHdpVVXYB7oYCFU5TAw01kF-OosBHb6akImGv34cjthDwplSAimHIyxUPKorSYroONPUbOjCR1Xncz-t4ZQ/s1600/M%E1%BB%99t+%C4%91o%E1%BA%A1n+trong+gia+ph%E1%BA%A3.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgtCSzgBgh-nwmyyJxLgDcu5UK_mk9Kj_L01GKFpbuuGO2ILeu2MSvE_puUnHdpVVXYB7oYCFU5TAw01kF-OosBHb6akImGv34cjthDwplSAimHIyxUPKorSYroONPUbOjCR1Xncz-t4ZQ/s400/M%E1%BB%99t+%C4%91o%E1%BA%A1n+trong+gia+ph%E1%BA%A3.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; width=&quot;296&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Một đoạn trong gia phả. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;Danh xưng Trung An
gần như chỉ tồn tại trên mặt giấy tờ, khế ước. Còn tên bình dân là Phường Rạnh.
Cũng như Trung An, danh xưng Phường Rạnh cũng có nguồn gốc, xuất xứ khá đặc
biệt. Theo đó, chữ &lt;i&gt;“Rạnh”&lt;/i&gt; xuất phát từ con trạnh, một loại động vật có
hình dáng như con rùa nhưng rất to, có con to bằng cái nong, sông dưới nước&lt;sup&gt;1&lt;/sup&gt;.
Nguyên hồi nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước, du khách lẫn tầng lớp thương hồ&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-family: PMingLiU; font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt; mso-hansi-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;&quot;&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;ngược
lên thượng nguồn sông Thu Bồn khi đi ngang đoạn sông chảy qua làng Trung An
thỉnh thoảng hay bắt gặp con trạnh trồi lên, có lúc nhiều đến mức đặc kín sông,
khiến ghe thuyền phải tránh. Thế cho nên, người ta mới gọi làng ven sông này là
Phường Trạnh. Lâu ngày, họ mới đọc &lt;i&gt;“chệch”&lt;/i&gt; là Phường Rạnh. Phường (&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-family: PMingLiU; font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt; mso-hansi-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;&quot;&gt;坊)&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;, trong chữ Hán, còn có nghĩa là &lt;i&gt;“làng”&lt;/i&gt;. Riêng &lt;i&gt;“Rạnh”&lt;/i&gt;, tức
từ trạnh mà ra. Thế cho nên, Phường Rạnh còn có thể gọi nôm na là làng Trạnh!&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjZz3YjqwsjoGSsTZqMxFyJXq6R7C8H3EZNj6N4uNZNf9yKDtPqmaOhXBlnwGbaqaCv1M-gHtxSSqUfPPEjsvA-1UVoAbXbSJc0jKywKuRQdgW82EewBJnAfGup9ppx1cIGfHWAd2sxYO0/s1600/Di+t%C3%ADch+L%C4%83ng+B%C3%A0+%E1%BB%9F+l%C3%A0ng+Trung+An.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;212&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjZz3YjqwsjoGSsTZqMxFyJXq6R7C8H3EZNj6N4uNZNf9yKDtPqmaOhXBlnwGbaqaCv1M-gHtxSSqUfPPEjsvA-1UVoAbXbSJc0jKywKuRQdgW82EewBJnAfGup9ppx1cIGfHWAd2sxYO0/s320/Di+t%C3%ADch+L%C4%83ng+B%C3%A0+%E1%BB%9F+l%C3%A0ng+Trung+An.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg&quot; width=&quot;320&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Di tích Lăng Bà ở làng Trung An. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; letter-spacing: .1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 18.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .4in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-family: siddam; font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;Nhưng dù Trung An
hay Phường Rạnh, mảnh đất này cũng bắt đầu được người Việt đặt chân lên lập
nghiệp cách nay gần 250 năm, từ triều Thái Đức nhà Tây Sơn. Thế cho nên trong
văn cúng tiền hiền nhằm tưởng nhớ những người đã có công khai sơn phá thạch, lập
làng lập xóm, người dân làng Trung An ghi rõ &lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;“&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Xưa đất Bắc
dựng xây tổ nghiệp&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;/ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Nay trời Nam
kiến trúc cơ ngơi&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;/ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Chí tang bồng
ngang dọc bốn phương&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;/ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Tài thao lược
kinh luân một cõi&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;/ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Đất Phường
Rạnh thời xưa triều Thái Đức&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt; mso-fareast-font-family: PMingLiU;&quot;&gt;/ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;Ơn tiền nhân
khai quốc thổ lắm công trình&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14.0pt;&quot;&gt;…”. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;

&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;

&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;

&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///C:/Documents%20and%20Settings/bontvdn/Desktop/TU%20TRIEU%20THAI%20DUC%20NHA%20TAY%20SON.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 10pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Trần Văn Hai, sinh năm 1948, thôn Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn,
tỉnh Quảng Nam, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2995669590094210179/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2995669590094210179?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2995669590094210179'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2995669590094210179'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/04/tu-trieu-thai-uc-nha-tay-son.html' title='TỪ TRIỀU THÁI ĐỨC NHÀ TÂY SƠN…'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEioNJLyCWCMpxsXDiOBctonjCqbFLm-eu6dkLTyj269tdpUKnozkhKNaY4oszdmUp8EyYKaqjSRSv2Hh7ZQAcAdPH72Nf0TK4v4Y6fqF56drU-JFQxyvnLYtKcdyxBkGvc-zZzCBAkk9yA/s72-c/Gia+ph%E1%BA%A3+t%E1%BB%99c+Tr%E1%BA%A7n.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2549701825929617625</id><published>2013-04-15T10:18:00.001+07:00</published><updated>2013-04-15T10:23:53.324+07:00</updated><title type='text'>GÁNH HÁT LÀNG PHƯỚC TÍCH</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
Mấy chục năm trở về trước, mỗi khi Tết đến, xuân về, một trong những hình thức thưởng thức văn hóa văn nghệ dân gian không thể thiếu của người dân xứ Quảng là đi xem hát bội, tức hát bộ hay hát tuồng: “Tai nghe trống chiến trống chầu/ Xếp ba hột đậu phụng lộn đầu lộn đuôi”; “Tai nghe trống chiến/ Không khiến cũng đi”.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgJsdKflZKguOUbZbbvvuODT2i21NPfK-uSs_M5tK6SfxJkA7nWRw1ujJmzYSQG6YNz5aygGVUeDoDIvthZyVDdQE1t4MwQY_9JHE-oWWbq5_v7R_NvW3Yk7t8KTgVLmWhoLZDF47fNlss/s1600/dfdfb042-3277-4906-b331-411cebf7a0cf_hatboi2.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgJsdKflZKguOUbZbbvvuODT2i21NPfK-uSs_M5tK6SfxJkA7nWRw1ujJmzYSQG6YNz5aygGVUeDoDIvthZyVDdQE1t4MwQY_9JHE-oWWbq5_v7R_NvW3Yk7t8KTgVLmWhoLZDF47fNlss/s320/dfdfb042-3277-4906-b331-411cebf7a0cf_hatboi2.jpg&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: small; text-align: left;&quot;&gt;Nghệ sĩ hát bội ở miền Trung năm 1889. Ảnh T.L&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;nbsp;Hát bội ngày thường đã vui, ngày Tết càng vui gấp bội. Đặc biệt, người dân Quảng mê đến mức dù xa đến mấy, thậm chí cả hàng chục cây số, cũng băng rừng lội suối mà đi.
Hồi nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước, ở làng Phước Tích, nay thuộc xã Tiên Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, người dân ai ai cũng mê hát bội. Đặc biệt, trong những ngày Tết cổ truyền, thể nào họ cũng xem vài ba đêm hát bội. Nghe làng nào tổ chức hát bội, dù xa hàng chục cây số, dân làng Phước Tích cũng rủ nhau mà đi. Nhưng, không chỉ ngày Tết, ngay cả ngày thường, thỉnh thoảng trong làng, khi có việc gì, như mừng nhà mới hay sinh con trai chẳng hạn... họ cũng mời ba người biết hát bội về hát cho vui. Thường, những gia đình này phải giàu có. Người nghèo, lấy tiền đâu ra để chi phí, đài thọ? Còn lý do sao chỉ mời vỏn vẹn... ba người thì tương đối dễ hiểu, bởi theo quan niệm của người dân địa phương thì số ba là chữ số may mắn, bởi nó tượng trưng cho Phước - Lộc - Thọ. Dĩ nhiên, trong lúc hát phải có trống đánh, đờn vang mới rôm rả. Lúc bấy giờ, trong làng có lập một trường hát lấy tên là Trường hát ông Bổn, do ông Tạ Bổn, người Hoa, giàu nức tiếng, bỏ tiền ra để lập. Khi mời gánh hát đến biểu diễn, ông bán vé thu tiền. 

Về nguyên nhân ra đời của gánh hát làng Phước Tích, theo lời ông Nguyễn Văn Xưng, sinh năm 1928, thì sau ngày giải phóng miền Nam, ông Cột, chủ tịch xã, vốn máu mê hát bội, trực tiếp gặp ông Nguyễn Lân, nghệ sĩ tuồng, từng theo các đoàn hát bội chuyên nghiệp đi diễn ở nhiều nơi tại Đà Lạt, Nha Trang, Bình Định, nói rõ ý định muốn lập gánh hát. Thống nhất chủ trương xong, ông Nguyễn Lân mời những người biết hát, hát hay như các ông Nguyễn Đình Lê, Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Đình Xưng, Trèn Cần, Nguyễn Kỷ, Nguyễn Cẩm và các bà Nguyễn Thị Đào, Võ Thị Bích, Phí Thị Tâm, Võ Thị Xanh... gia nhập. Như vậy, “biên chế” đầu tiên của gánh hát gồm 12 người, cả nam lẫn nữ. Ông Nguyễn Lân và Nguyễn Văn Xưng, những hạt nhân đầu tiên của gánh hát, đứng ra luyện tập. Các vở tuồng hồi ấy là Ngọc Lan, Ngọn lửa Hồng Sơn, Ngũ hổ bình Liêu, Hoa rừng đẫm máu... Đặc biệt, nghệ nhân Tư Bửu, một nghệ sĩ tuồng nổi tiếng của Quảng Nam, cũng được trên cử về dạy tuồng cho anh chị em diễn viên trong hai tháng ròng, mà chỉ dạy riết một vở là vở Trần Bình Trọng.

Tập nhuần nhuyễn xong, gánh hát bắt đầu biểu diễn. Thôi thì trên địa bàn huyện Tiên Phước, không đâu không in dấu chân của anh chị em diễn viên, từ Tiên Lộc đến Tiên Cảnh, Tiên Lập, Tiên Lãnh, Tiên Mỹ, Tiên Cẩm... Một đôi lần, họ đi hát ở Trà My, Chu Lai. Đó là vào giữa những năm 1980, thời kỳ tạm gọi là vàng son của gánh hát làng Phước Tích. Cũng trong khoảng thời gian này, để thu hút khán giả, ông Nguyễn Lân phải mời thêm vài diễn viên ở ngoài như ông Tú ở Hội An, ông Lục ở An Hải, Đà Nẵng, bà Thông ở Tam Kỳ... Hơn thế nữa, ông còn lặn lội vào tận Nha Trang mời bà Sáu Chân, vợ chồng ông Thao ở Bình Định. Thông thường, họ đến biểu diễn chừng mươi ngày, nửa tháng rồi về. Nếu cần, phải kêu lại. Trong suốt hơn mười năm tồn tại, gánh hát làng Phước Tích gần như đi hát quanh năm. Nói chung, đi đến đâu, anh chị em diễn viên cũng được tiếp đón ân cần, đãi đằng chu đáo. Có nhiều nơi hợp đồng chỉ hát 3 đêm nhưng hát đến... 8 đêm liền. Nguyên nhân vì bà con xem đông quá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEin4lnar5loFYT6jjCQSj434Jh6NsoQ7ekKsu5mJMW-1EhQhPtHvz4xpYRbB9l3XPGxJJNtnCzCqniKnEUiv019yC6npRwGiqtMdvgANYU2A7zem0_pqExTONUjPMmM7MUUwl2A4ZYU3fc/s1600/ed161963-8486-4c7f-a238-5dedbd6b9600_hatboi3.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;320&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEin4lnar5loFYT6jjCQSj434Jh6NsoQ7ekKsu5mJMW-1EhQhPtHvz4xpYRbB9l3XPGxJJNtnCzCqniKnEUiv019yC6npRwGiqtMdvgANYU2A7zem0_pqExTONUjPMmM7MUUwl2A4ZYU3fc/s320/ed161963-8486-4c7f-a238-5dedbd6b9600_hatboi3.jpg&quot; width=&quot;197&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: small; text-align: left;&quot;&gt;Ông Nguyễn Văn Xưng, kép gánh hát làng Phước Tích&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
Vé bán được. Tính ra có lãi. Thế là họ yêu cầu hát tiếp. 
 

&amp;nbsp;Trong các vở, gánh hát làng Phước Tích diễn đạt nhất là vở Tiêu Anh Phụng loạn trào. Có lần diễn vở này tại xã nhà Tiên Lộc, đến đoạn thái tử Minh Châu viết tờ để vợ, thấy ông Nguyễn Văn Xưng, kép chính, thủ vai thái tử Minh Châu đạt quá, ông Khuê cầm mấy chục đồng (một số tiền không nhỏ lúc ấy) lên thưởng. Ngoài ông Nguyễn Văn Xưng thì bà Nguyễn Thị Đào, đào chính, đóng cũng rất có hồn. Vai nổi nhất của bà là Thoại Khanh trong vở Thoại Khanh - Châu Tuấn. Rồi vai Trịnh Nương trong vở Hồ Mạnh Quế ly thê. Vai anh hề đã có ông Trần Cần... Nói chung, các diễn viên trong gánh hát đều diễn hết mình. Ai cũng có thế mạnh riêng. Nhờ đó, gánh hát Phước Tích tương đối có tiếng tăm. Cho nên, gánh hát được xem như của huyện, lấy tên chung là Đoàn tuồng Tiên Phước. Nhưng, với bà con trong làng, họ gọi bằng tên dân dã, quen thuộc là gánh hát Phước Tích.

Đáng tiếc, gánh hát Phước Tích không tồn tại lâu. Nguyên năm 1992, khi ông Nguyễn Lân, bầu gánh, mất đi thì không còn ai có đủ khả năng và nhiệt tình để thay thế. Anh chị em nghệ sĩ ai nấy trở về với đồng ruộng. Hiện nay, lớp diễn viên này nhiều người đã già yếu. Một số không còn nữa. Nhưng, với lớp người cao tuổi làng Phước Tích, mỗi lần Tết đến xuân về, họ lại nhớ đến gánh hát của làng từng tung hoàng ngang dọc vừa tròn hai mươi năm về trước. Mà, hát bội ngày thường đã vui, ngày Tết càng vui lên gấp bội lần. Đêm nào có hát đêm ấy không khác gì đêm hội. Trong đó, có những năm gánh hát đi hát cả tháng liền. Có thể nói, đối với dân làng, gánh hát Phước Tích, một gánh hát dân dã, với nghệ sĩ là những người nông dân thực thụ chân lấm tay bùn, thực sự đã đi vào dĩ vãng, trở thành kỷ niệm không thể nào xóa nhòa trong ký ức&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2549701825929617625/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2549701825929617625?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2549701825929617625'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2549701825929617625'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/04/may-chuc-nam-tro-ve-truoc-moi-khi-tet.html' title='GÁNH HÁT LÀNG PHƯỚC TÍCH'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgJsdKflZKguOUbZbbvvuODT2i21NPfK-uSs_M5tK6SfxJkA7nWRw1ujJmzYSQG6YNz5aygGVUeDoDIvthZyVDdQE1t4MwQY_9JHE-oWWbq5_v7R_NvW3Yk7t8KTgVLmWhoLZDF47fNlss/s72-c/dfdfb042-3277-4906-b331-411cebf7a0cf_hatboi2.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-499205465916775093</id><published>2013-04-08T16:15:00.000+07:00</published><updated>2013-04-08T16:21:20.222+07:00</updated><title type='text'>CHUYỆN ÔNG BIỂU</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;
Làng Chiên Đàn, hay còn có danh xưng dân dã là Chơn Đờn, hồi nửa đầu thế kỷ XX trở về trước thuộc tổng Chiên Đàn, huyện Hà Đông, nay thuộc xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, có một nhân vật gọi là ông Nguyễn Tấn Biểu. Ông tuy không học giỏi, đỗ dạt cao, nhưng khá nổi tiếng vì tính khí hay nói ngông, chơi ngông. Đối tượng mà ông thường châm chọc là những gã nhà giàu, hợm hĩnh, hay bọn ở làng, ở xã  ỷ thế hiếp đáp dân lành thân cô thế cô. Sinh thời, ông để lại một số câu chuyện kể khá thú vị, được lưu truyền khá phổ biến trong dân gian.

Số là, ở làng Chiên Đàn xưa, có nhiều ruộng đất công, gọi là công điền. Đây là số ruộng đất thuộc quyền sở hữu của làng, do làng quyết định. Thường thì làng cho thuê, tức cho bà con làm rẻ, đến mùa nộp thóc lúa, hoa lợi, để làng dùng vào việc chung như cúng tế, lễ lạt này nọ. Mà, thời trước, chuyện cúng tế, lễ lạt nhiều, không nhờ số ruộng đất này, làng lấy đâu ra tiền để chi tiêu? Ông Nguyễn Tấn Biểu cũng là dân nghèo, cũng thuê ruộng của làng làm rẻ, đến mùa nộp thóc lúa cho làng. Chuyện thường thôi, chẳng có gì đáng bàn. Việc cho nông dân nghèo thuê đất lấy hoa lợi chi tiêu vào việc cúng tế diễn ra từ năm này sang năm khác. Được mùa không nói làm gì, những năm đói kém, mất mùa, dân nghèo đã khổ càng khổ hơn. Ông Nguyễn Tấn Biểu thấy dân đói khổ quá, mới tính “chơi khăm” làng một vố. Thé cho nên, năm ấy, ông cố ý chay ì không nộp thuế. Làng cho người mời năm lần bảy lượt, ông cứ khất lần. “Nhà tui chưa có tiền nộp, để ít bữa nữa… khó quá, khó quá…”. Ông năn nỉ. Lần nào cũng vậy. 

&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgjloZaAwCOh9JzAdfLraSvQ0Lkkw7eq3WDeD6g2ujnNOEh0VAoHrGyEZWzwWJ8FOScxR3Q_z6eCxrS4hWS_r01EgEkXffQEbOv8YgUS1KsH6Lo6ndGR7ABlqT2w1ai6dSymLdh3UUftpY/s1600/D%C3%ACnh+Chi%C3%AAn+%C4%90%C3%A0n.+%E1%BA%A2nh+c%E1%BB%A7a+%C4%90.%C4%90.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; &gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgjloZaAwCOh9JzAdfLraSvQ0Lkkw7eq3WDeD6g2ujnNOEh0VAoHrGyEZWzwWJ8FOScxR3Q_z6eCxrS4hWS_r01EgEkXffQEbOv8YgUS1KsH6Lo6ndGR7ABlqT2w1ai6dSymLdh3UUftpY/s320/D%C3%ACnh+Chi%C3%AAn+%C4%90%C3%A0n.+%E1%BA%A2nh+c%E1%BB%A7a+%C4%90.%C4%90.JPG&quot; /&gt;&lt;/a&gt;

Lý trưởng tức lắm “Thằng ni ù lì. Phải có cách gì trị nó chớ? Không ai cũng như nó làng làm răng thu thuế được?”. Lời lý trưởng đã phán ai dám cãi? Thế là làng làm căng. Ông Nguyễn Tấn Biểu thấy vậy, mới bảo “Tui nói thiệt, nhà tui không có gì mà… Chỉ còn có con trâu, nhưng là trâu cái… Nếu làng đòi hung quá thì bắt nó đi. Khi mô tui có tiền tui đem đến chuộc lại”. Không còn cách nào khác, làng liền lùa ngay con trâu cái về, cột ngay ở đình làng. Thói đời,… trâu chung không ai khóc. Cột trâu vào đình, làng có phân người trông coi nhưng trâu… làng sao bằng trâu nhà. Họ cho ăn qua quýt, chủ yếu để cho trâu khỏi đói, chết mà thôi. Hơi sức đâu cho trâu ăn cho no. Kết quả, chỉ vài ba bữa, trâu ốm đi trông thấy. Đợi đến lúc đó, ông Nguyễn Tấn Biểu mới lựa lúc làng đang họp ở đình làng, liền rảo đi rảo lại quanh con trâu, nói oang oang, cốt để mấy ông làng nghe “Chua choa, ở với ông con mập mạp mà ở với làng có mấy bữa, làng làm chi con ốm kinh rứa”. Mấy ông có chức tước ở làng cứ nghe đi nghe lại, nhột quá, nhưng không biết làm gì, nói gì để “trả đũa” cho bõ tức. Cuối cùng, họ chẳng còn cách nào khác là cho người ra, bảo với ông Nguyễn Tấn Biểu “Thôi, mi dắt về đi, khi mô có tiền thì trả cũng được, răng cứ nói chi nói miết, mệt lắm!”.

Một chuyện khác. Nguyên xưa kia làng nào cũng có bót gác, gọi là điếm canh hay chòi canh. Ở đó có sẵn cái mõ, dụng cụ làm bằng tre, dùng để gõ, phát ra tiếng khá to, cốt để báo động khi có trộm cướp hay có việc gì khẩn cấp cần báo cho làng biết để dân làng đến hỗ trợ... Ngày nọ, ông Nguyễn Tấn Biểu biết làng sẽ kiểm tra chuyện canh gác ở điếm canh. Hốm ấy, ông xung phong trực. Nhưng, ông chẳng thèm trực gì, chỉ thắp ngọn đền hiu hắt cho… có. Khi ông xã đến, thấy điếm canh vắng hiu, chẳng tìm ra ai là người gác, mới nóng máu, xách mõ đánh để báo động. Ông Nguyễn Tấn Biểu, như từ trên trời rơi xuống, tay giựt cái mõ, tay nhè ông xã  mà vả vào mồm. Ông xã hoảng hốt, la lên “Ớ Biểu, răng mi nhè tao mi đánh?”. Ông Biểu giả đò “Ủa, ông xã hả? Rứa mà tui tưởng thằng mô ngỗ ngịch lấy cái mõ đánh tầm bậy”. Ông xã vặn vẹo “Rứa lính canh ở mô?”. Ông Biểu đáp “Tui canh chớ ai. Nhưng tui dại chi ngồi đó cho nó biết hả? Tui ngồi trong bụi. Mà cũng tạit ông, ông ra ông nhè lấy cái mõ đánh, tui không biết, tưởng thằng nào to gan, mới vả vô miệng. Tui xin lỗi nghe”. Ông xã tức lắm, nhưng đành chịu.

Chuyện thứ ba mới… độc đáo. Số là xưa kia theo quy định của làng Chiên Đàn,  mỗi năm một ông trùm chịu trách nhiệm lo việc cúng tế ở làng. Hết ông này sang ông khác. Luân phiên với nhau. Năm nọ, đến lượt ông Nguyễn Tấn Biểu. Đó cũng là năm làng tổ chức long trọng hơn mọi năm, có mời tổng về dự. Lệ thường, làng phải mua đến 7 con heo, mà là heo đực. Ông Nguyễn Tấn Biểu làm khác. Ông mua toàn heo cái rồi dặn mọi người kín tiếng. Mặt khác, ông lén mua một lúc 7 con… cặt heo, giao cho 7 thanh niên thân tín, dặn làm như ri, như ri… Y như ông tiên đoán, chuyện mua heo cái cúng tế đã dặn kỹ phải giữ kín nhưng rốt cuộc rồi cũng lộ ra. Đám quan khách xì xầm “Cái thằng Biểu ni coi khinh làng, làm heo cái đãi khách”. Lý trưởng nghe được, hầm hầm nổi giận, kêu ông lại, nạt nộ “Mi xấc lắm. Ai biểu mi làm heo cái đãi làng?”. Ông bình tĩnh thưa lại “Dạ, làm chi có chuyện đó? Chẳng qua người ta ghen ghét, đặt điều nói bậy thôi, oan cho tui quá! Mà, ai bói tầm bậy rứa?”. Ông lý trưởng giọng gay gắt “Tao nghe người ta nói râm kìa, mi còn chối hả?”. Ông vẫn bình tĩnh “Làng nói rứa thì để tui chứng minh chớ, không tui bị oan”. Vừa nói, ông vừa quay lại, bảo mấy thanh niên “Sắp bay, bưng ra đây!”. Đám thanh niên chỉ chờ có vậy, liền nhanh nhẩu bưng mỗi người bưng lên mỗi mâm. Trên mâm chỉ có mỗi con… cặt heo. Ông lần lượt dẫn từng anh thanh niên đến từng bàn, đặt cái mâm lên, nói “Dạ, con cặt đây làng”. Mâm nào ổng cũng làm vậy. Lý trưởng và đám quan chức biết bị ông chơi xỏ, tức lắm nhưng cũng đành chào thua mưu trí của ông .
                                                                         

</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/499205465916775093/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/499205465916775093?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/499205465916775093'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/499205465916775093'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/04/chuyen-ong-bieu.html' title='CHUYỆN ÔNG BIỂU'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgjloZaAwCOh9JzAdfLraSvQ0Lkkw7eq3WDeD6g2ujnNOEh0VAoHrGyEZWzwWJ8FOScxR3Q_z6eCxrS4hWS_r01EgEkXffQEbOv8YgUS1KsH6Lo6ndGR7ABlqT2w1ai6dSymLdh3UUftpY/s72-c/D%C3%ACnh+Chi%C3%AAn+%C4%90%C3%A0n.+%E1%BA%A2nh+c%E1%BB%A7a+%C4%90.%C4%90.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-9044634689108518133</id><published>2013-02-05T10:09:00.001+07:00</published><updated>2013-10-09T08:54:33.609+07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;b&gt;SỰ TÍCH LĂNG NHƠN THẦN&lt;/b&gt;





Ở làng Tân Lưu, nay thuộc khối Tân Trà, phường Hoà Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, có di tích khá lâu đời. Đó là lăng Nhơn Thần. Sự ra đời của di tích lăng Nhơn Thần gắn liền với câu chuyện kể khá hấp dẫn và thú vị, được lưu truyền qua nhiều đời...




&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjafS5TiqoUA7AzkRdG5l_1iW2VzKWvhK23MCRjaTYak966jSF4xH_wRACWWL3QH0rVLMLnsHXGrfaGAKLPLgzFWdlECnI3O1gOB8srjBwKegf6vFQBjHdY9iIIgi-4FxOkL0U6HaWK4hc/s1600/DSC03242.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;clear: left; float: left; margin-bottom: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;240&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjafS5TiqoUA7AzkRdG5l_1iW2VzKWvhK23MCRjaTYak966jSF4xH_wRACWWL3QH0rVLMLnsHXGrfaGAKLPLgzFWdlECnI3O1gOB8srjBwKegf6vFQBjHdY9iIIgi-4FxOkL0U6HaWK4hc/s320/DSC03242.JPG&quot; width=&quot;320&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
Nguyên hồi trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Tân Lưu có một khu rừng khá rộng, chiều ngang khoảng 2 cây số, chiều dài trên 3 cây số, nằm sát biển. Trong rừng có nhiều loại cây ăn quả, nhiều loại cây cổ thụ. Ngoài bìa rừng có đình làng khá to, gọi là đình làng Tân Lưu. Kế đến, có một xóm chừng ba trăm nóc nhà. Người ta gọi đó là xóm Cát, bởi cả mấy trăm nóc nhà ấy đều nằm trên những bãi cát mênh mông. Rừng Tân Lưu, cũng như nhiều khu rừng của các làng xã bấy giờ đều do làng quản lý, được gọi là rừng cấm. Người dân không có quyền vào đốn cây, lấy củi nếu không được phép của làng. Ai vi phạm không những bị làng quở trách mà còn bị phạt tiền. Nhờ thế rừng được bảo vệ nghiêm ngặt, hết đời này sang đời khác, khu rừng cấm trở thành nguồn lợi của làng. Hàng năm, khi có tế lễ, hoặc tu bổ đình, miếu... làng mới quyết định bán một ít cây làm quỹ.
Cũng vào quãng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở xóm Cát có một nhân vật khá đặc biệt. Đó là một ông họ Đặng. Ông này có vợ người tộc Mai, sinh ra hai người con gái. Gia đình ông nghèo khổ, quanh năm suốt tháng vất vả với miếng cơm manh áo hàng ngày. Đặc biệt, ông có nghề... tìm trầm. Nhưng, ông không lặn lội vào tận những khu rừng sâu, gần như vô chủ để “săn” trầm mà ông khai thác ngay tại khu rừng cấm rồi mang ra Tourane, tức Đà Nẵng ngày nay, bán cho người Hoa. Thoạt tiên, ông giấu kỹ, không cho ai biết. Nhưng, cuối cùng, chuyện chẳng mấy chốc đến tai làng. Thế là làng bắt phạt. Làng phạt, ông chịu. Nghĩa là ông nộp phạt. Tưởng phạt ông sẽ thôi, sẽ tởn đến già, không dám lấy nữa. Nhưng không, ông nộp rồi cứ lâu lâu, khi biết cây dó nào ở rừng Tân Lưu cho trầm, ông đều lẻn vào khai thác hết.
Thấy phạt mãim, phạt mãi mà ông vẫn cứ “chứng nào tật ấy”, lý trưởng và các vị chức sắc trong làng mới tổ chức họp dân hỏi ý kiến với chủ ý để mọi người ký tên vào tờ “đồng thuận”. Ông Quờn, đại diện tộc Nguyễn, là dân biển, lại ít học, hăng hái “lăn” ngón tay điểm chỉ vào tờ “đồng thuận” trước. Sau đó, mới đến các tộc, họ khác. Trên cơ sở đó, làng “sức” dân đốn tre, làm rọ, chuẩn bị bắt ông người tộc Đặng.  Khi biết tin làng sẽ bắt mình, ông bỏ chạy. Đám trai làng đuổi theo. Ông vội núp sau chuồng heo nhà bà Rác, lấy cái nơm úp cá úp lên người. Nhưng, sự việc cuối cùng cũng bại lộ. Đám trai làng bắt ông, nhốt vào rọ, bỏ lên chiếc ghe đậu sẵn ở bến ghe nhà ông Phổ, chở ra ngoài sông Hàn, đoạn giữa cầu Tuyên Sơn với cầu Nguyễn Văn Trỗi hiện nay, thả xuống nước để xác ông trôi đi đâu thì trôi. Bấy giờ, trời đã tháng chín, tháng mười, trời mưa tầm tã, nước dâng cao. Thế cho nên, xác ông không trôi ra biển mà lại trôi ngược về ngay chỗ cũ, trước bến nhà ông Phổ.
Cũng bắt đầu từ lúc đó, một sự kiện lạ lùng và khủng khiếp đã xảy ra. Đầu tiên là 4 người tộc Nguyễn của ông Quởn bỗng nhiên nổi lên ỉa mửa rồi chết. Tiếp đến, các tộc, họ khác cũng diễn ra tình trạng tương tự. Cả làng, đâu đâu cũng có tiếng khóc than thảm thiết. Tổng cộng, đã có hơn mười người chết. Xưa, nghe nói làng nào có nhiều người chết, nhất là chết bất đắc kỳ tử, dân các làng lân cận tò mò đến xem rất đông. Trong số những người đến xem, có thằng bé khoảng mười lăm tuổi, bỗng lên “đồng”, phán một câu xanh rờn rằng “...các người đã giết ta, các ngươi phải chôn cất tao đàng hoàng, làm nhà cho tao ở, không thì tao bắt chết hết”. Chuyện mười mấy người chết cùng một lúc và chuyện thằng bé lên đồng khiến dân làng hoảng hốt thật sự. Nhiều người quả quyết rằng do ông người họ Đặng bị làng bắt chết oan ức nên trả thù. Thế là làng mới cử người đến khiêng xác ông người họ Đặng lên, khấn vái, chôn cất đàng hoàng. 


&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg9MIXUfbb_qVG5epaq9gm99-qrHu0siTXCOuAuCH5ZhDS5H-DiKFUHiKdRvOqLAydqW3jo6Hf-fQ2U90FaX0fiJG2RcHZzPit8IofPXpGvLwpE40plhJVCm7_s_2cOjCpLNmU6ZR8Czwc/s1600/L%25C4%2583ng+Nh%25C6%25A1n+th%25E1%25BA%25A7n.+%25E1%25BA%25A2nh+%25C4%2590.%25C4%2590.jpeg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg9MIXUfbb_qVG5epaq9gm99-qrHu0siTXCOuAuCH5ZhDS5H-DiKFUHiKdRvOqLAydqW3jo6Hf-fQ2U90FaX0fiJG2RcHZzPit8IofPXpGvLwpE40plhJVCm7_s_2cOjCpLNmU6ZR8Czwc/s400/L%25C4%2583ng+Nh%25C6%25A1n+th%25E1%25BA%25A7n.+%25E1%25BA%25A2nh+%25C4%2590.%25C4%2590.jpeg&quot; width=&quot;300&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
Xong, họ lập lăng, nằm ở xóm Cát, gọi là lăng Nhơn Thần, nghĩa là từ người biến thành thần. Đồng thời, làng quy trách nhiệm hàng năm người dân xóm này góp công của, tổ chức cúng tế linh đình. Nhà giàu lưng nửa ang gạo, ang nếp, nhà nghèo có khi chỉ mủng khoai. Ngoài ra, còn có quỹ thu được từ tiền bán gỗ ở khu rừng cấm Tân Lưu và tiền đóng góp của bà con trong làng. Nhờ vậy, năm nào, đến ngày ấy, làng cũng tổ chức làm heo, bò... Trong ký ức của những cụ già cao tuổi, lễ hội cúng Nhơn Thần diễn ra 6 ngày đêm, từ mồng 6 tháng giêng âm lịch và đến ngày 11 tháng giêng mới kết thúc. Trước lúc tổ chức, bà con tập trung dọn sạch khu vực lăng. Sau tế lễ, dân làng thường mời các đoàn hát bộ, hô bài chòi, có bán vé, để mọi người đến xem... Từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám đến nay, do điều kiện khó khăn chung, lễ hội cúng ông Nhơn Thần đông vui, náo nhiệt không còn nữa. Thay vào đó là lễ cúng đơn sơ nhưng cũng không kém phần uy nghi, trang trọng .

                                           


&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/9044634689108518133/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/9044634689108518133?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/9044634689108518133'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/9044634689108518133'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2013/02/su-tich-lang-nhon-than-o-lang-tan-luu.html' title=''/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjafS5TiqoUA7AzkRdG5l_1iW2VzKWvhK23MCRjaTYak966jSF4xH_wRACWWL3QH0rVLMLnsHXGrfaGAKLPLgzFWdlECnI3O1gOB8srjBwKegf6vFQBjHdY9iIIgi-4FxOkL0U6HaWK4hc/s72-c/DSC03242.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-3994551366661654950</id><published>2012-06-22T09:46:00.002+07:00</published><updated>2013-10-09T08:52:34.905+07:00</updated><title type='text'>THẮNG NHỜ.. KHÉO  LÉO</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div align=&quot;right&quot; class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: right; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt; mso-bidi-font-weight: bold;&quot;&gt;&quot;Nhất thợ mộc Vân Hà&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div align=&quot;right&quot; class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: right; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt; mso-bidi-font-weight: bold;&quot;&gt;Nhì đàn bà Phước Lâm&quot;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Vân Hà là một ngôi
làng nhỏ thuộc xã Tam Thành, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:country -region=&quot;-region&quot; w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:country&gt;&lt;/st1:place&gt;. Tuy cách thị xã chừng tám cây
số nhưng đây lại là miền quê xa xôi, hẻo lánh, nằm tương đối tách biệt với
những vùng dân cư đông đúc, chốn phố thị phồn hoa. Tương truyền, ngay trước,
tuy có khai phá đất ruộng nhưng cánh đàn ông Vân Hà không chú trọng nông
nghiệp, chẳng thiết tha với cây lúa, củ khoai mà chỉ gắn bó với nghề mộc truyền
thống. Họ cho nông là nghề của...đàn bà và phó mặc vợ con gánh vác. Quanh năm
suốt tháng, họ xách một chiếc rương gỗ đựng nào cưa, đục, chàng, khoan... lặng
lẽ đi các nơi hành nghề mộc, nghề của... cánh đàn ông Vân Hà!&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjNJpCPTnxjQkHm-IlaCk-OCO5Ag9gIrDjRSlUk-Snz_jawQOByW27R8vT8C3U-p-GutExhQ_48FIuJOmt-waaPjQYAidedlWuN4MODsbkHVUZ8i5hel85d4NgGhEwqy_1e5OBkYlgtHtA/s1600/File8.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;426&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjNJpCPTnxjQkHm-IlaCk-OCO5Ag9gIrDjRSlUk-Snz_jawQOByW27R8vT8C3U-p-GutExhQ_48FIuJOmt-waaPjQYAidedlWuN4MODsbkHVUZ8i5hel85d4NgGhEwqy_1e5OBkYlgtHtA/s640/File8.jpg&quot; width=&quot;640&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Nghề mộc. Ảnh Đ.Đ&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Ở Quảng Nam, nhắc
đến nghề mộc, không ai không biết làng mộc Kim Bồng. Chính bàn tay tài hoa,
khéo léo của người thợ ở làng mộc danh tiếng này đã góp phần công sức không nhỏ
tạo ra những ngôi nhà gỗ với những đường nét chạm trổ tinh vi, độc đáo của đô
thị cổ Hội An, nơi được liệt vào hàng Di sản Văn hoá Thế giới.&amp;nbsp; &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Tuy không tiếng
tăm bằng thọ Kim Bồng nhưng người thợ làng mộc Vân Hà cũng rất tài hoa, khéo
léo. Bởi thế, mới có câu chuyện kể khá lý thú rằng thời Pháp thuộc, khi Vân Hà
còn thuộc tổng Chiên Đàn, huyện Hà Đông, triều đình Huế có mở cuộc thi làm trụ
đèn bằng gỗ. Biết tiếng thợ mộc Kim Bồng cũng như thợ mộc Vân Hà, nhà vua bèn
giao mỗi nơi làm một cái xem thử ai đẹp hơn ai. Ông Trần Thưởng, sinh năm 1925,
một trong những người hành nghề thợ mộc hơn nửa thế kỷ, nhớ lại rằng cuộc thi xảy ra dưới thời ông Phủ Lê, tên
thật là ông Lê Trung Khuẩn, tri phủ huyện Hà Đông, tức vùng đất nay thuộc thành
phố Tam Kỳ, huyện Phú Ninh, huyện Núi Thành… hiện nay. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt; mso-bidi-font-style: italic;&quot;&gt;Bấy giờ, ông Phủ Lê triệu tập cả làng, đưa kiểu trụ đèn ra và bảo với
những người thợ mộc giỏi nhất nghiên cứu, làm thế nào để&amp;nbsp; trụ đèn khi thành hình phải đẹp hơn, độc đáo
hơn trụ đèn của thợ Kim Bồng. Có như vậy, người dân làng &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;mới ngẩng cao
đầu, mới ăn nói với thiên hạ
được... Kết quả cuộc thi thành công ngoài sự mong đợi. Trụ đèn thợ Vân Hà làm
ăn đứt trụ đèn thợ Kim Bồng. Nguyên do là vì thợ mộc Vân Hà làm trụ đèn bằng
một khúc gỗ liền, đục rỗng ở giữa cả khúc cây. Trong khí đó, thợ Kim Bồng làm
trụ ở giữa riêng, rồi làm vỏ trụ riêng. &amp;nbsp;Cũng theo ông Trần Thưởng, người thợ có công
chính hồi ấy là ông Đinh Khúa. Không thi thì thôi. Nhưng đã thi phải có phần
thưởng. Phần thưởng là một con ngựa bằng gỗ, một bằng khen có đóng triện đỏ
chói của vua.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 6.0pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Câu chuyện trở
thành niềm tự hào của dân làng Vân Hà. Nhưng, sự tài hoa, khéo léo của họ không
chỉ thể hiện trong cuộc thi để đời ấy mà còn bộc lộ rõ nét thông qua những công
trình cổ được chạm khắc công phu, đẹp mắt, có giá trị nghệ thuật và lịch sử
khắp nhiều nơi trong và ngoài huyện như Khổng Miếu, đình Chiên Đàn, đình Phương
Hoà, đình Mỹ Thạch ở thị xã Tam Kỳ, ngôi nhà cổ của ông Nguyễn Huỳnh Anh ở Tiên
Phước và nhiều công trình khác nữa&lt;a href=&quot;file:///D:/THU%20VIEN/BAN%20IN%20CHUYENKEXUQUANG%20SUA%2010.6.2011.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoBodyText2&quot; style=&quot;text-indent: .3in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;br /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;line-height: 15.0pt; mso-line-height-rule: exactly;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/THU%20VIEN/BAN%20IN%20CHUYENKEXUQUANG%20SUA%2010.6.2011.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 10pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ghi theo lời kể của ông Trần Thưởng, sinh năm 1925, trú tại làng Vân Hà,xã Tam
Thành, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/3994551366661654950/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/3994551366661654950?isPopup=true' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/3994551366661654950'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/3994551366661654950'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/06/thang-nho-kheo-leo.html' title='THẮNG NHỜ.. KHÉO  LÉO'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjNJpCPTnxjQkHm-IlaCk-OCO5Ag9gIrDjRSlUk-Snz_jawQOByW27R8vT8C3U-p-GutExhQ_48FIuJOmt-waaPjQYAidedlWuN4MODsbkHVUZ8i5hel85d4NgGhEwqy_1e5OBkYlgtHtA/s72-c/File8.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-1027633768653543113</id><published>2012-06-17T10:03:00.002+07:00</published><updated>2013-10-09T08:54:47.475+07:00</updated><title type='text'>LÀNG NẠI HIÊN ĐÔNG</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Theo lời kể của những bậc cao niên thì xưa kia ở làng
Nại Hiên Đông, nay thuộc phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng,
có hai tộc tiền hiền là tộc Huỳnh và tộc Trương. Người đầu tiên tộc Huỳnh vào
Nại Hiên Đông là ông Huỳnh Văn Muộn, gốc Nam Định, đến đây đã 11 đời. Còn tộc
Trương vốn gốc xã Đại Việt, tỉnh Thanh Hoá. Lúc bấy giờ, ông tổ tộc Trương vào
đánh Chiêm Thành, lấy vợ là bà Trương Thị Giác, sinh ra một người con trai là
ông Trương Văn Sáo. Rồi, không biết vì lý do gì, ông lại về Thanh Hoá. Cho nên,
gia phả chỉ có tên bà mà không có tên ông (?). Tính từ đời ông Trương Văn Sáo
những năm đầu thế kỷ XXI cũng đã 10 đời. Sau hai tộc Huỳnh và Trương là các tộc
Lê, Nguyễn, Trần... Nhưng, dù dến trước hay đến sau, các tộc họ ở Nại Hiên Đông
vẫn luôn phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương trợ lẫn nhau trên tình
làng nghĩa xóm.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Khởi thuỷ, Nại Hiên Đông còn có tên dân
dã là xứ Cồn Nhàn. Có người cho rằng không phải Cồn Nhàn mà là Cồn Nhạn. Chữ &lt;i&gt;“Nhàn”&lt;/i&gt;
do chữ &lt;i&gt;“Nhạn”&lt;/i&gt; đọc trệch mà ra. Nguyên xưa kia, đây là vúng đầm lầy nước
đọng, chịu ảnh hưởng nặng nề của dòng nước thuỷ triều. Khi thuỷ triều xuống,
bầy chim nhạn và một số loài chim khác thường bay tới kiếm mồi. Mồi phổ biến là
những con tôm, cua, cá khi thuỷ triều lên, theo dòng nước trào vào và khi thuỷ
triều xuống, chúng bị bị mắc cạn, không theo ra kịp. &lt;i&gt;“Mồi”&lt;/i&gt; nhiều nên
chim nhạn tập trung kiếm mồi khá đông, đặc kín cả cồn. Thế là, dân trong làng
nhiều người khi rảnh rỗi thường đi bẫy chim bán kiếm tiền cải thiện cuộc sống
gia đình.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Hồi đầu thế kỷ XX trở về trước, số
người đi bẫy chim khá đông. Càng về sau, càng ít đi. Có nhiều nguyên nhân.
Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là đất cồn càng ngày càng bị thu hẹp, không có
chỗ cho chim về, kiếm mồi. Và, cho đến nay, một số người còn nhớ như in rằng ở
Nại Hiên Đông, người đi bẫy chim cuối cùng là ông Thủ Oai, người tộc Mai. Cứ
chiều chiều, dân làng thường thấy ông cầm bộ giò đi bẫy. Chim bẫy được chủ yếu
là chim mía. Đến tối, được bao nhiều, ông đem bỏ mối cho các quán. Chuyện bẫy
chim ở Nại Hiên Đông chấm dứt vào khoảng đầu những năm 1980 của thế kỷ trước,
khi ông Thủ Oai, người bẫy chim cuối cùng nghỉ đi bẫy vì già yếu, vì sức nặng
của tuổi tác.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjW199_VSWCEBcVysdJYuyRO89bOFTvtvCM1shUg3wTUAglT2lZPxRrfXDa23WuHeSpGLpgLgjHp5sUn48LmkiFsB_C1_yI8RRt6Cxr0HXWA2_ZA2L-GTT6uVXCcuSuczruUzKyQytTkXY/s1600/5504759668_25398d524d_b.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;425&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjW199_VSWCEBcVysdJYuyRO89bOFTvtvCM1shUg3wTUAglT2lZPxRrfXDa23WuHeSpGLpgLgjHp5sUn48LmkiFsB_C1_yI8RRt6Cxr0HXWA2_ZA2L-GTT6uVXCcuSuczruUzKyQytTkXY/s640/5504759668_25398d524d_b.jpg&quot; width=&quot;640&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Đánh cá trên sông Hàn năm 1951.Ảnh tu liệu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17pt; margin: 0in 0in 12pt; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Nhưng, bẫy chim chỉ là nghề phụ, nghề làm chơi. Còn nghề nghiệp chính
của người dân trong làng là nghề đánh bắt cá sông, cá biển, tuy số ghe tàu xưa
không nhiều. Đầu thế kỷ trước, cả làng có khoảng hơn chục chiếc. Cá đánh bắt
chủ yếu cá chim, cá nục. Được bao nhiêu, bà con đem ra chợ bán, mua gạo mắm...
sống qua ngày. Ngoài nghề đánh bắt cá sông, cá biển, người dân Nại Hiên Đông
còn sinh sống bằng nghề nông. Họ trồng lúa, trồng khoai, đậu phụng, rau màu. Cứ
thế cũng tạm đủ sống qua ngày. Ngoài nghề đánh cá sông, cá biển và nghề nông...
theo ông Trương Văn Ngò, sinh năm 1941 cho biết thì ở Nại Hiên Đông xưa còn có
thêm nghề làm muối. Cánh đồng muối của làng hiện giờ thuộc khu vực Đài Phát
thanh phường. Khi thực dân Pháp chiếm Đà Nẵng, thành lập khu nhượng địa Tourane, chúng mới làm một con đường bằng đất đỏ nối
đường Ngô Quyền ra bờ sông Hàn khiến nước mặn không thể vào được. Nghề làm muối
coi như không còn tồn tại nữa.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Đặc biệt, ở Nại Hiên Đông còn có một
ngôi mộ cổ bằng đá. Ngôi mộ nằm về phía tây, chỉ cách đình làng chừng 50 mét,
hình vuông, mỗi cạnh 4 mét. Xung quanh mộ có thành bằng đá bao bọc. Chính giữa
là phần mộ. Trên đầu mộ có khắc phù điêu hình con dơi. Dưới chân mộ có văn bia
chữ Hán, nguyên văn như sau : &lt;i&gt;&quot;Việt cố. Thái tuế Ất Sửu niên mạnh thu
cốc nhật. Hiển khảo thuộc thứ đội trưởng Phan quí công Thuỵ linh trí Chi linh
mộ. Hiếu tử nhị thứ Phan&lt;/i&gt; &lt;i&gt;(... )&lt;/i&gt; &lt;i&gt;lập”.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEis6YucNqBHdUcjOb-MzJ5kGsaRGH1mHb6QW08xuhLfIlZn3wVDnerZZwedmCsZ0Y8QI1HKWZp3vj_eAm7ZZHUaUG7mb68e8T7ImoT5duswEiiq7XrqACdkZYMyRGcgOnPSi0Z4pMkfUJo/s1600/T%C3%9F%C2%A6%C3%91m+bia+tr+%C2%ACn+ng+%C2%A6i+m%C3%9F+%C3%96+c%C3%9F+%C3%B2+%C3%9F+%C6%92+N%C3%9F%C2%A6%C3%ADi+Hi+%C2%ACn+-%C3%89+%C2%A6ng.+%C3%9F%C2%A6%C3%B3nh+-%C3%89.-%C3%89.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;480&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEis6YucNqBHdUcjOb-MzJ5kGsaRGH1mHb6QW08xuhLfIlZn3wVDnerZZwedmCsZ0Y8QI1HKWZp3vj_eAm7ZZHUaUG7mb68e8T7ImoT5duswEiiq7XrqACdkZYMyRGcgOnPSi0Z4pMkfUJo/s640/T%C3%9F%C2%A6%C3%91m+bia+tr+%C2%ACn+ng+%C2%A6i+m%C3%9F+%C3%96+c%C3%9F+%C3%B2+%C3%9F+%C6%92+N%C3%9F%C2%A6%C3%ADi+Hi+%C2%ACn+-%C3%89+%C2%A6ng.+%C3%9F%C2%A6%C3%B3nh+-%C3%89.-%C3%89.JPG&quot; width=&quot;640&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Bia cổ
ở làng Nại Hiên Đông. Ảnh Đ.Đ &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Theo những cụ già thông hiểu Hán văn,
từ dòng chữ “&lt;i&gt;Thái tuế Ất Sửu niên mạnh thu cốc nhật”&lt;/i&gt;, có thể suy ra rằng
mộ được xây dựng từ thời chúa Nguyễn, ước vào tháng 7 năm Ất Sửu, tức năm 1625.
Chủ ngôi mộ là một vị quan họ Phan, với chức vụ là &lt;i&gt;“thứ đội trưởng”&lt;/i&gt;.
Người khắc bía là con của vị quan nói trên &lt;i&gt;“Hiếu tử nhị thứ Phan...”&lt;/i&gt;.
Còn hai chữ &lt;i&gt;“Việt cố” &lt;/i&gt;được khắc trên văn bia nhằm tưởng nhớ quê hương. “&lt;i&gt;Việt”&lt;/i&gt;
ở đây là nước Việt, tức Việt Nam
ngày nay. Còn “&lt;i&gt;cố”&lt;/i&gt; là cố hương. “&lt;i&gt;Việt cố”&lt;/i&gt; có nghĩa nhớ về quê cũ.
Rõ ràng, với những phát hiện và lý giải trên, làng Nại Hiên Đông là một trong
những làng ra đời sớm nhất ở Đà Nẵng nói chung và quận Sơn Trà nói riêng. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Cũng như nhiều làng quê khác, Nại Hiên
Đông có đình từ rất sớm. Đình làng là nơi hàng năm người dân tổ chức lễ tế Xuân
và tế Thu. Tế Xuân nhằm ngày 12 tháng 2, tế Thu vào ngày 20 tháng 8 âm lịch. Tế
Xuân là tế sống, nghĩa là khi cúng, phải cúng bằng heo sống. Cúng nguyên cả
con. Cúng xong, Hội chủ, tức người chủ tế có bổn phận phải ăn một miếng thịt
sống, uống một ly rượu. Sau đó, mới đem heo xuống xẻ thịt, xào nấu. Mùa thu, là
lễ cúng âm linh nhằm vào ngày 12 tháng 7 và tế tiền hiền vào ngày 20 tháng 8 âm
lịch. Tế Xuân, tế Thu là dịp dân làng tụ tập lại, vừa tưởng nhớ ông bà tổ tiên,
những người đã có công lập làng, lập xóm... vừa là dịp bà con được ăn uống no
say, hàn huyên tâm sự, hàn gắn những rạn nứt trong cuộc sống đời thường, thắt
chặt sự đoàn kết giữa các tộc họ với nhau.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Từ khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực
thuộc trung ương, cũng như nhiều phường, xã khác, Nại Hiên Đông nhanh chóng
thay da đổi thịt. Những ngôi nhà tranh tre sơ sài hồi đầu thế kỷ XX, những ngôi
nhà chồ dọc bờ đông sông Hàn, những ngôi nhà tôn, vách ván thời Mỹ nguỵ còn sót
lại, những con đường nhỏ hẹp ngoằn ngoèo, những con đường đất đỏ đầy bụi... đã
dần dần biến mất. Vùng đất ngày xưa được gọi là &lt;i&gt;“Cồn Nhạn”&lt;/i&gt; với những câu
chuyện kể về bầy chim nhạn bay về kiếm mồi, về những người đi bẫy chim thế kỷ
trước chỉ còn là ký ức. Thay vào đó là những ngôi nhà mới xây, khang trang và
sạch đẹp, những đường phố dọc ngang hình bàn cờ được tráng nhựa phẳng lì. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt;&quot;&gt;Cùng với quá trình chỉnh trang đô thị,
đời sống kinh tế của người dân cũng không ngừng được cải thiện. Tình trạng
nghèo, đói từng bước được đẩy lùi... Tất cả đều thể hiện sinh động sự phát
triển không ngừng của phường Nại Hiên Đông, nhất là trong những năm đầu của thế
kỷ XXI.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: right;&quot;&gt;
&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;text-decoration: none;&quot;&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;u&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;text-decoration: none;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/u&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/1027633768653543113/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/1027633768653543113?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/1027633768653543113'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/1027633768653543113'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/06/lang-nai-hien-ong.html' title='LÀNG NẠI HIÊN ĐÔNG'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjW199_VSWCEBcVysdJYuyRO89bOFTvtvCM1shUg3wTUAglT2lZPxRrfXDa23WuHeSpGLpgLgjHp5sUn48LmkiFsB_C1_yI8RRt6Cxr0HXWA2_ZA2L-GTT6uVXCcuSuczruUzKyQytTkXY/s72-c/5504759668_25398d524d_b.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-7951967791847005862</id><published>2012-06-08T14:51:00.002+07:00</published><updated>2012-06-08T14:54:58.663+07:00</updated><title type='text'>CỌP CŨNG BIẾT… TRẢ THÙ?</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;Nằm tiếp giáp với dãy Trường Sơn hùng vĩ, ngay từ thời xa xưa, khi đến
khai canh, khai cư, người dân làng An Bằng, xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc, tỉnh
Quảng Nam, phải thường xuyên đối phó với nhiều loại thú dữ, nhất là cọp, vị
chúa tể sơn lâm. Và, trong thời kỳ gần như &lt;i&gt;“sống chung với thú dữ ấy”&lt;/i&gt;,
người dân làng An Bằng đã để lại nhiều câu chuyện kể khá lý thú, hấp dẫn về
việc bắt cọp, bẫy cọp, bắn voi, rồi cả chuyện bị... cọp bắt hồi nửa đầu thế kỷ
XX trở về trước!&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;Và,
ly kỳ nhất là chuyện ông Lê Văn Sính, người bắt cọp giỏi nhất… làng!&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;Cũng xin nói thêm, Làng
An Bằng bấy giờ dân cư thưa thớt, chưa đến 60 nóc nhà, lại ở rải rác, nhà nọ
cách nhà kia nhiều khi hàng mấy trăm mét, thậm chí tính bằng cây số. Còn cây
cối thì um tùm, rậm rạp. Lý do thật dễ hiểu. Bấy giờ, người ta mới đến khai phá
An Bằng. Cho nên, làng với rừng cứ đan xen. Mớii có chuyện khi đến rìa làng, đã
thấy núi, thấy rừng, có thể nghe cả tiếng chim kêu, vượn hú ở phía xa xa. Đi một
mình, nhiều khi nghe tiếng cọp gầm, tự dưng rợn tóc gáy chứ chẳng chơi. Dĩ
nhiên, chuyện thú dữ, đặc biệt chuyện cọp, vị chúa tể sơn lâm, thì... nhiều vô
kể. Thỉnh thoảng, lại xảy ra việc trâu, bò của ai đó bị cọp bắt ăn thịt. Hồi ấy,
trâu bò bị cọp rình bắt không có gì lạ.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;Có thể nói, cọp trở
thành nỗi ám ảnh của dân làng An Bằng. Và, những người ở tuổi quá &lt;i&gt;“thất thập
cổ lai hi”&lt;/i&gt; thường nhắc đến một nhân vật bắt cọp giỏi, có tiếng của làng là
ông Lê Văn Sính. Ông này rất giỏi võ, có những đòn thế rất hay, tương truyền có
sức mạnh ghe người, mạnh đến mức thừa sức đấu tay không với cọp. Người ta kể
rằng có lần, cọp vồ trâu ông Lê Văn Sính. Ông ta nhảy ra đánh cọp khiến cọp
thua, chạy thẳng một hơi. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiqT9NATDKrKYjWXKz0zriYSn2xSeujFhQ8L20FvV5r5ye_v1ttcapMzDeTUx8QEEgROfG6mmGtmif-INJgiNRE5KFTCHkO86AbQ_7XNf3EzUHKvhaH6wRYgjxyMEGwobETAcgXyAbXxHA/s1600/thu+(16).JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;275&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiqT9NATDKrKYjWXKz0zriYSn2xSeujFhQ8L20FvV5r5ye_v1ttcapMzDeTUx8QEEgROfG6mmGtmif-INJgiNRE5KFTCHkO86AbQ_7XNf3EzUHKvhaH6wRYgjxyMEGwobETAcgXyAbXxHA/s400/thu+(16).JPG&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Một con cọp bị giết. Ảnh tư liệu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;Nhiều lần cọp vào
bắt heo ở làng Lộc Phước kế bên. Mỗi khi nghe dân làng nổi trống, gõ mõ, la
làng, ông Lê Văn Sính nhanh chân chạy vào Hóc Lách, đứng rình ngay khu vực Đá
Chồng. Theo kinh nghiệm của ông, đây là nơi mỗi lần cọp lẻn vào bắt heo, bò...
thường đi ngang. Đúng y như ông dự kiến, ngay sau đó, cọp cắp con heo qua. Đợi
cọp vừa đi sát, thình lình, ông hét một tiếng. Là con nhà võ, tiếng hét ông rất
to, dứt khoát, đanh thép, rồi nhắm ngay lưng con cọp, lấy hết sức bình sinh
quất một roi mạnh. Cọp lại nghe tiếng hét vang dội, lại nghe lưng đau điếng,
hoảng sợ, bỏ heo mà chạy thẳng vào rừng. Thế là ông Lê Văn Sính đem heo về, hễ
có ai đến xin thì cho lại. Bằng không, ông xẻ thịt mà ăn. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;Người dân làng An
Bằng không biết ông Lê Văn Sính có bao nhiêu lần &lt;i&gt;“hớt tay trên”&lt;/i&gt; cọp như
thế. Chắc nhiều vô kể. Nhưng cọp cũng tinh khôn. Mà, ai dám bảo loài cọp không
tinh khôn, riêng dân làng An Bằng lại nghĩ khác. Bằng chứng là không ít lần, &lt;i&gt;“cắp”&lt;/i&gt;
heo đến Hóc Lách, cọp thả heo xuống, rồi thình lình vồ ngay đúng lùm cây lần
trước ông Lê Văn Sính đứng rình. Cọp nghĩ chắc lần trước ông Lê Văn Sính núp ở
đây thì giờ này cũng vậy. Có điều trí khôn của cọp sao bằng trí khôn của
người? Ông Lê Văn Sính có cách đề phòng. Hễ lần này núp lùm cây kia thì lần
khác núp lùm cây nọ. Cọp dù tinh khôn nhưng cuối cùng cũng chịu thua ông. Cho
nên, không lần nào cọp vồ được ông. Người ta còn kể câu chuyện khá kỳ quặc và
cũng rất đáng ngờ là lần nọ, ông Lê Văn Sính ngồi trong bụi rậm quan sát bầy
trâu. Bất ngờ, có ông cọp từ đâu xộc tới, ngồi... ngay trên hai bắp đùi ổng.
Thế là ổng dùng hai tay đánh khiến cọp chạy thẳng một mạch vô rừng... Chuyện
tưởng như đùa. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 19.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;Nhưng, như người ta
nói &lt;i&gt;“sinh nghề tử nghiệp”,&lt;/i&gt; cuối cùng, ông Lê Văn Sính cũng chết vì bị
cọp &lt;i&gt;“bấm”&lt;/i&gt;, tức bị cọp vồ. Số là hôm nọ, ông thức dậy nấu cơm để chuẩn bị
đi núi thì bị cọp rình sẵn, thừa cơ hội ông không phòng bị, vồ chết ngay. Dân
làng bảo con cọp vồ ông Lê Văn Sính là con cọp thù dai. Thì có chi, cứ bắt được
&lt;i&gt;“con mồi”&lt;/i&gt; nào cũng bị ông Lê Văn Sính &lt;i&gt;“hớt tay trên”&lt;/i&gt; nên nó tức,
ra tay &lt;i&gt;“trả thù”.&lt;/i&gt; Rình một lần
không được, nó rình lần thứ hai, rồi thứ ba… Con người, ai không có lúc sơ sẩy.
Thế là lợi dụng cơ hội, cọp ra tay. Cũng nghe kể, sau khi ông chết,
chúng kéo nhau đến nhà ông, &lt;i&gt;“ăn”&lt;/i&gt; cho hết 7 con trâu trong chuồng&lt;a href=&quot;file:///D:/THU%20VIEN/COPCUNGBIETTRATHU.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt; letter-spacing: 0.1pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;!
Ai bảo cọp không biết… trả thù?&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/THU%20VIEN/COPCUNGBIETTRATHU.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 10pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Lê Văn Pháp,&amp;nbsp; sinh năm 1927, làng An
Bằng, xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, kể&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/7951967791847005862/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/7951967791847005862?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/7951967791847005862'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/7951967791847005862'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/06/cop-cung-biet-tra-thu.html' title='CỌP CŨNG BIẾT… TRẢ THÙ?'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiqT9NATDKrKYjWXKz0zriYSn2xSeujFhQ8L20FvV5r5ye_v1ttcapMzDeTUx8QEEgROfG6mmGtmif-INJgiNRE5KFTCHkO86AbQ_7XNf3EzUHKvhaH6wRYgjxyMEGwobETAcgXyAbXxHA/s72-c/thu+(16).JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-5190797876387255945</id><published>2012-06-05T07:57:00.004+07:00</published><updated>2012-06-05T07:57:50.481+07:00</updated><title type='text'>KHI CỌP VÀO LÀNG</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
Trong ký ức những cụ cao niên tại vùng tây Đại Lộc, chuyện động rừng và cọp về làng vẫn còn là nỗi ám ảnh đối với cuộc sống bình yên của người dân…&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
LÀNG Hà Dục Tây nay thuộc xã Đại Lãnh (Đại Lộc) được khai phá từ khá sớm. Theo gia phả tộc Quách, vào thế kỷ XVII có 5 anh em họ Quách từ Thái Thụy (Thái Bình) vào Nam lập nghiệp, định cư tại ngã ba sông Vu Gia và sông Con. Ban đầu làng được đặt tên là là Thái Nguyên ấp, sau đổi thành Hà Dục Tây châu. Là một trong những vùng tiếp giáp với núi rừng, hồi trước Cách mạng Tháng Tám thỉnh thoảng cọp lẻn về làng bắt trâu bò và đe dọa đến đời sống người dân trong vùng. Cho đến nay, nhiều cụ già cao tuổi vẫn còn nhớ lần cuối cùng cọp về làng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
﻿﻿&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ5RfjbLTGobeiIdu-tZ0qcy6MvMLXXH6qvc5daOtglhU1pNZlUkahknr7COJpuWWMqU8BzuNdvlIA11Xq94afaYiNHFEwT2UzgguAiPm6q6p4ufAIcVsiyxMV8JWJKcKAHy0LMQ-CDrY/s1600/cop-ve-lang.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; fba=&quot;true&quot; height=&quot;242&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ5RfjbLTGobeiIdu-tZ0qcy6MvMLXXH6qvc5daOtglhU1pNZlUkahknr7COJpuWWMqU8BzuNdvlIA11Xq94afaYiNHFEwT2UzgguAiPm6q6p4ufAIcVsiyxMV8JWJKcKAHy0LMQ-CDrY/s400/cop-ve-lang.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Một con cọp bị giết. Ảnh tư liệu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
﻿﻿&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
Bấy giờ, trong làng có ông Quách Đăng Thái là một phú gia. Ông không những có nhiều đất ruộng, chủ một số xe gió mà còn mở truông khai thác gỗ với 32 con trâu kéo và thường đóng trại trâu trong rừng. Đùng một cái, tháng ba âm lịch năm 1945 bỗng dưng trâu nhà ông Thái bị cọp bắt. Ngày xưa, nghe nói chuyện động rừng, ai cũng sợ. Đã động rừng, tất nhiên cọp sẽ về làng. Thế là người đi than không dám đi, kẻ đốn củi cũng chẳng có gan vào rừng. Trước tình hình ấy, ông Thái bảo bọn trai kéo dẫn trâu từ trại trong núi về làng ngay trong chiều ngày mùng 9. Chiều hôm ấy trời lại kéo mây đen, mưa ùn ùn đổ xuống như trút nước. Đường rừng gặp mưa to trơn nhẫy rất khó đi, nên mãi đến 10 giờ đêm bầy trâu kéo của ông mới về tới làng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và chuyện không ai ngờ đã xảy ra: một con cọp to đã lẻn đi theo bầy trâu rồi núp ngoài vườn khiến dân làng một phen khiếp hãi. Thời ấy, nhà cửa còn thưa thớt, vườn rộng có khi đến ba, bốn sào ruộng. Sáng sớm hôm sau, vợ ông Thái ra vườn thì phát hiện ra “ông ba mươi” bèn chạy vào nhà báo chồng. Ông Cửu Thái hoảng hồn, gì chứ cọp về làng không phải chuyện đùa, phải báo dân các làng lân cận biết tìm cách đối phó. Sau khi dặn người nhà chốt cửa cẩn thận, ông liền thông báo cho các làng ở chung quanh, chủ yếu dân ở 6 xã lân cận (thường được gọi là vùng sáu xã Lục Bắc). Nghe hung tin, lý trưởng các làng cấp tốc huy động những người khỏe mạnh, nhất là thanh niên trai tráng, ai có gậy dùng gậy, có giáo dùng giáo. Mọi người tổ chức thành từng đoàn, sử dụng tất cả những gì có thể gây tiếng động, từ trống, mõ đến thùng để gõ nhằm làm cho cọp hoảng mà chạy lên rừng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgHLDCpjqXLXt63yFbKWjPqYXTscp2TnLq9syGh69B5vvPC-PE8RZUjr_E2xhOXQC4NtplenZ3eBArz4Y23MLXmgSTZdFXPDqj4Q07uqgmWNfTYXEJTnHCSefxKRwNicYEH39a-mgdcIRg/s1600/2_filtered.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; fba=&quot;true&quot; height=&quot;361&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgHLDCpjqXLXt63yFbKWjPqYXTscp2TnLq9syGh69B5vvPC-PE8RZUjr_E2xhOXQC4NtplenZ3eBArz4Y23MLXmgSTZdFXPDqj4Q07uqgmWNfTYXEJTnHCSefxKRwNicYEH39a-mgdcIRg/s400/2_filtered.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Bẫy cọp. Ảnh tư liệu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nghe tiếng trống, mõ, thùng... nhưng cọp cứ lòng vòng trong vườn mà chưa chạy. Người đầu tiên bị cọp tấn công là ông Quách Đăng Phấn (làng Hà Dục Tây), anh ruột ông Quách Đăng Thái. Thấy vậy, ông Thái đang cầm mõ xảy đập vào tai con cọp. Nó đau quá, chạy đi chỗ khác. Từ Hà Dục Tây, cọp qua làng Tịnh Yên Đông Tây, vồ ông Cửu Phùng. Nguyên ông này nghe nói có cọp dữ về làng, vội cầm chiếc dụ (một thứ vũ khí đầu bịt sắt nhọn, dùng để đi săn hươu, nai hoặc heo rừng) đi ra, liền bị cọp vồ. Ở làng Tịnh Yên Đông Tây, ngoài ông Cửu Phùng, cọp còn vồ tiếp ông Hương Bốn, rồi ông Thạnh. Trước tình hình có quá nhiều người bị cọp vồ, dân làng bèn cử người lên báo bọn Nhật nhờ giúp đỡ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hồi ấy, sau khi lật đổ Pháp, bọn Nhật có đóng một đồn gọi là đồn Nhật ở Hà Tân (Đại Lãnh). Nói là dân làng báo bọn Nhật, thực ra người đi báo không biết tiếng Nhật nên chỉ dùng tay ra hiệu. Bọn Nhật rốt cuộc cũng hiểu, liền cử 3 tên lính mang theo súng đi đuổi cọp. Lúc đó, cọp từ làng Tịnh Yên Đông Tây đã vòng lại làng Hà Dục Tây, vồ ông Hương A. Nạn nhân kế tiếp là bà Hai Trúc khi đang từ nhà trên xuống nhà dưới thì bị vồ. Mọi người phát hiện kịp thời la lên, cọp mới bỏ đi chỗ khác. Lúc này 3 tên lính Nhật vừa đến làng Hà Dục Tây. Tên thứ nhất biết cọp đang ở góc vườn liền nhảy vào, nhưng chưa kịp bắn đã bị cọp vồ. Tên thứ hai thấy vậy, bắn liền một phát ngay tai cọp. Rồi tên thứ 3 bắn theo, cọp chết tại chỗ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi cọp chết, nhiều người không đến xem được do phải đưa nạn nhân đi cấp cứu. Cũng may hầu hết họ chỉ bị cọp vồ sơ bên ngoài nên không nguy hiểm đến tính mạng. Chuyện cọp về làng với bà con ở vùng giáp ranh núi rừng hồi nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, có thể nói là chuyện thường. Người ta bảo cọp ra là do động rừng. Mà đã động rừng, không chỉ cọp, nhiều khi có cả hươu, nai và voi rừng vào làng. Vì vậy, trong dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền chuyện vây cọp được tổ chức vào những ngày xuân như một lễ hội độc đáo. Đây được xem là “hội lạ” mà cố học giả Nguyễn Văn Xuân từng gọi là “Vây Hội” - hội làng vây bắt “ông ba mươi” vào tháng giêng hằng năm…&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: left;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/5190797876387255945/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/5190797876387255945?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/5190797876387255945'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/5190797876387255945'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/06/khi-cop-vao-lang.html' title='KHI CỌP VÀO LÀNG'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ5RfjbLTGobeiIdu-tZ0qcy6MvMLXXH6qvc5daOtglhU1pNZlUkahknr7COJpuWWMqU8BzuNdvlIA11Xq94afaYiNHFEwT2UzgguAiPm6q6p4ufAIcVsiyxMV8JWJKcKAHy0LMQ-CDrY/s72-c/cop-ve-lang.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-8709060107195102197</id><published>2012-05-29T16:22:00.000+07:00</published><updated>2012-06-01T09:55:59.198+07:00</updated><title type='text'>CHUYỆN GHI Ở MỘT VẠN CHÀI</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Đó là vạn
chài Nồi Rang, nay thuộc xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;. Đây
là vạn chài có bề dày lịch sử hàng trăm năm. Cũng như nhiều vạn chài khác ở Quảng
Nam, vạn chài Nồi Rang có những bước thăng trầm…&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Theo các bậc cao niên, vạn chài Nồi Rang
hình thành muộn nhất cũng vào nửa đầu thế kỷ XIX. Hầu hết các tộc họ đến vạn
Nồi Rang đều là ngư dân ở nhiều địa phương, từ Duy Xuyên, Điện Bàn đến Hội An,
Đại Lộc… Như tộc Nguyễn của ông Nguyễn Bụi, sinh năm 1939, nguyên gốc ở làng
Thăng lộc, nay thuộc xã Duy Phước, huyện Duy Xuyên. Ông cho biết &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“Thật ra, từ đời xửa đời xưa, tổ tiên tui
người Thanh Hoá. Khi vào Quảng &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;,
mới chọn mảnh đất Thăng Lộc làm nơi sinh sống. Tổ tiên tui cũng là những người
góp phần lập nên đình làng Thăng Lộc. Nhưng họ lại sinh sống bằng nghề chươm nò
trên sông. Mãi đến đời ông cố tui, thấy nghề chươm nò cực quá, lại không đủ
sống, mới qua làng Hội Sơn Nghĩa Lệ làm nghề mói. Đó là nghề lưới trích. Dĩ
nhiên, tiếng là qua nhưng cũng như nhiều ngư dân ở vạn chài Nồi Rang lúc bấy
giờ đều phải ở trên ghe. Vì đất trên bờ là đất của dân chính cư…”&lt;/i&gt;. Có thể
nói, đó là bức tranh chung về quá trình tụ cư của ngư dân vạn chài Nồi Rang.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhtnss6Ve8q79WDjCJqEqVBLL80okD-AAJFIlBk4A2qLxK7-EOm7k2l8hjXipiWL4UNN0Owxjnngve8V5WDZBV4c4ri6ITsmwjmhfM5rtHH62w4M-BKHv_GZd0k947nfgIMxbMMZ_IO6RY/s1600/M%E1%BB%99t+g%C3%B3c+l%C3%A0ng+v%E1%BA%A1n+N%E1%BB%93i+Rang%5B1%5D.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;241&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhtnss6Ve8q79WDjCJqEqVBLL80okD-AAJFIlBk4A2qLxK7-EOm7k2l8hjXipiWL4UNN0Owxjnngve8V5WDZBV4c4ri6ITsmwjmhfM5rtHH62w4M-BKHv_GZd0k947nfgIMxbMMZ_IO6RY/s400/M%E1%BB%99t+g%C3%B3c+l%C3%A0ng+v%E1%BA%A1n+N%E1%BB%93i+Rang%5B1%5D.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Mot goc lang van Noi Rang. &amp;nbsp;D.D&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Ngư dân phải làm nhiều nghề, từ nghề lưới
trích, đến nghề câu, nghề giã cào, nghề rớ… Xưa, chưa có máy nổ nên họ phải
gồng sức để chèo. Lưới hồi ấy bằng tơ. Giá tơ đắt nên lưới cũng rất đắt. Trong
các nghề thì hồi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nghề lưới trích là nghề khá
phát triển. Mỗi ghe thường đi khoảng năm, bảy người, đem theo chừng ấy tấm lưới.
Mỗi tấm dài độ 30 sải tay, rộng 1 sải. Cứ chiều tối, cả đoàn khoảng sáu, bảy
chiếc ghe chèo ra biển, cùng thả lưới mà đánh. Thời trước, cá trích ở gần bờ
nhiều nên họ không cần phải đi xa. Khi đến nơi, bà con phân nhau thả lưới dày,
chặn các lối đi nên cá không mắc lưới này thì mắc lưới khác. Hễ cá dính lưới
nào thì chủ lưới hưởng. Ngoài cá trích, nghề lưới trích còn bắt được cả cá
trỏng. Con cá này có hình thức gần giống với cá cơm nhưng đầu cá có khác chút
ít. Hôm nào cá nhiều, đánh đến nửa khuya, còn không, phải đến 6 giờ sáng hôm sau
chèo về cho kịp buổi chợ mai. Bà con thường đánh lưới trích ở Khô Đôi Nghê, một
địa điểm gần hòn Khô, mũi Nghê. Đó cũng là đại điểm có nhiều mực, nên mới có
danh xưng là Cồn Mực. Ai đánh mực thì hành nghề ở đây.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhERB2Zam3Xd9N6Hx0yWPFR3LR_E7Bnh36E7wmxscrze3IGPi6qyMyXzeoreEApvYJR3b7r13iFDCxwdiuj4jlGK0VlC98ZCBlcMcJuiD5WTRDyojeAVpO7bllzgUGgJ_Y6eAVQLoUfy5k/s1600/ANNAM+-+TOURANE+-+Sampans+de+P%C3%AAche.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;257&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhERB2Zam3Xd9N6Hx0yWPFR3LR_E7Bnh36E7wmxscrze3IGPi6qyMyXzeoreEApvYJR3b7r13iFDCxwdiuj4jlGK0VlC98ZCBlcMcJuiD5WTRDyojeAVpO7bllzgUGgJ_Y6eAVQLoUfy5k/s400/ANNAM+-+TOURANE+-+Sampans+de+P%C3%AAche.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Tren song Han, Da nang. Anh tu lieu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Khi nghề lưới trích gặp khó khăn, bà con chuyển
qua nghề câu. Nghề này đòi hỏi phải có mồi. Mùa nào mồi nấy. Nhưng gần như làm
quanh năm, mùa nắng cũng như mùa mưa. Chỉ trừ trường hợp mua to, gió lớn. Ngư
dân chủ yếu bủa cau trên biển, hiếm khi bủa sông. Nghề câu bắt nhiều loại cá
ngừ, cá rựa, cá đổng, cá hồ, cá mối… Ở Duy Nghĩa, nghề câu tương đối nổi bật
nên vạn Nồi Rang còn có danh xưng là vạn câu Nồi Rang. Ngay ở thôn Hồng Triều
cũng có không dưới ba chục hộ hành nghề câu. Bên cạnh nghề câu, còn có nghề rớ,
nghề giã cào. Nghề rớ bắt nhiều loại cá. Nhưng nghề giã cào chủ yếu bắt tôm vì
tôm thường năm im. Trước đây, cá tôm nhiều, tuy đánh bắt thủ công nhưng ngư dân
vẫn có ăn. Ở vạn câu Nồi Rang, người bủa câu giỏi nhất là ông Nguyễn Có. Sau
đó, là các ông Nguyễn Bưng, Nguyễn Đủ… Cùng với nghề câu, ngư dân địa phương
còn phát triển nghề mành. Xưa, nghề mành xưa khi chưa có đèn. Ngư dân phải đánh
thầm. Cứ đêm đến, giong thuyền ra biển mà đánh. Mãi đến đầu thế kỷ XX, bà con
mới sử dụng đèn măng xông đánh bắt. Sau năm 1975, người ta bắt đầu dùng thêm
đèn điện.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Đặc biệt, ở đây cũng có nghề câu cá mập.
Lưỡi câu cá mập lớn nhất, có thể bắt được những con nặng hàng trăm ký. Thường,
câu cá mập, mỗi ghe đi năm, bảy người. Người đông nhưng lắm lúc gặp con cá to
quá kéo cũng không nổi, phải mượn người ghe khác kéo giùm. Xưa câu cá mập câu
ban ngày. Sau, không hiểu sao cá mập không ăn mồi ban ngày mà ăn ban đêm nên
phải chuyển qua bủa câu vào ban đêm. Chờ đến sáng mới kéo. Có hôm một giàn câu
ăn đôi ba con. Nhiều con còn sống quẫy đập rất mạnh. Nó vừa quẫy, vừa cố sức
kéo ghe đi. Nhưng ngư dân có cách khống chế nó. Họ dùng một dụng cụ gọi là &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;chằm&lt;/i&gt;. Đó là một cây dài hai ba sải, phía
trước có lưỡi bằng sắt để bấu vào thân cá, không cho nó quẫy. Chằm có &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;chằm nhứt, chằm nhì, chằm ba&lt;/i&gt;. Cứ ba cái
chằm này bấu vào thân cá mập, kèm chặt, khiến nó khó có thể quẫy. Càng quẫy
mạnh, lưỡi chằm càng &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“ăn”&lt;/i&gt; vào thân,
khiến nó đau thắt. Thế là ngư dân mới dần dần đưa nó vào gần ghe, rồi lấy vồ
đập cho chết. Ấy là những con cá hàng trung. Gặp cá to quá, phải có thêm người
phụ giúp. Xưa, những ngư dân đi câu cá mập thường đem theo cờ. Khi có cá to
quá, phất cờ lên, làm dấu. Ghe khác, thấy phất cờ, biết có chuyện, chạy đến
giúp. Nay tôi giúp anh, mai anh giúp lại, nên không phải trả tiền công cán gì.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Cá đánh được, nếu cá lớn, thường là cá
biển, bán cho chủ các &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;lò kho&lt;/i&gt;. Nguyên
những đầu thập kỷ 1960 trở về trước, ngư dân đánh bắt ngoài Cửa Đại. Họ chèo
ghe ra. Ghe là ghe lớn nên đi rất lâu. Cá đánh được rồi, nếu chèo về Duy Nghĩa,
sẽ ươn mất. Bởi làm gì có đá để ướp. Và, chì có nước… đổ đi. Cũng may không
biết từ bao giờ, ở làng Nhân Bồi, nay thuộc xã Duy Thành, có nhiều gia đình làm
lò để… kho cá, đem lên cung cấp cho dân ở các làng, xã miền núi. Thế cho nên,
làng Nhân Bồi còn có tên dân dã là… Làng Kho. Cứ mỗi lò kho ngày ngày cử hai
người đi mua cá. Họ đi ghe con con, dùng mái chèo nhỏ mà chèo. Người ta gọi là &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“bơi”&lt;/i&gt;. Ghe đi nhanh lắm. Cứ men theo hai
bên bờ sông lướt đi thoăn thoắt. Đến nơi, họ mua các chủ ghe quen. Tươi ươn gì
cũng mua. Xong, quay đầu ghe &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“bơi”&lt;/i&gt;
về. Ở nhà, chủ lò kho đã nhen lửa sẵn, chỉ việc bỏ cá vào… hấp cách thủy.
Nhưng, trong nồi nước hấp, họ bỏ muối. Cho nên, hơi nước đã mang theo muối. Vậy
là cá cứng ngắt. Con ươn cũng cứng. Cá sẽ để được lâu. &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“Kho”&lt;/i&gt; rồi, ngay sáng sơm ngày mai sẽ có bạn hàng mua cá lên cung
cấp cho bà con ở miền núi. Từ sau năm 1975, những lò kho cá ở làng Nhân Bồi
không còn hoạt động. Riêng cá tươi, chủ yếu cá nhỏ, đánh bắt trên sông, được bà
con bán ở chợ Nồi Rang. Có một chi tiết khá đặc biệt. Bất cứ mùa nào, nếu là cá
nhỏ, còn tươi, người dân có một cách để &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“ướp”&lt;/i&gt;
cá mà không cần đá. Đó là &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;muối&lt;/i&gt; đất.
Cứ trải một lớp cá, phủ lên lớp đất. Coi như đất thay đá. Theo bà con, muối như
vậy có thể giữ cá khỏi ương qua đêm. Sáng mai, rửa sạch cá, con cá vẫn còn
tươi, dù không được đẹp&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;Cũng như nhiều làng cá khác, nghề cá hiếm
ai giàu có, chủ yếu đắp đổi qua ngày là chính. Số hộ khá lên chỉ đém trên đầu
ngón tay. Cho nên, hồi nửa đầu thế ký XX, cả vạn Nồi Rang, không có ai đủ sức
mua đất làm nhà. Tất cả đều ở dưới ghe. Nhà kha khá một chút, có ba bốn chiếc
ghe. Nhà nghèo, cũng hai, ba chiếc. Tùy theo túi tiền mà sắm ghe to, ghe nhỏ.
Rồi, cả gia đình, vợ con… chen chúc trên ghe. Đám cưới, đám hỏi, tiệc tùng, giỗ
chạp cũng ở trên ghe. Bấy giờ, cứ đến vạn Nồi Rang, sẽ thấy ghe đậu chật cả bến
sông. Thời trước, ngư dân làm đến tháng 7 thì nghỉ vì mưa bão. Đồ nghề họ cất
đi, năm sau làm tiếp. Thời gian chủ yếu họ tán dóc. Còn vợ con đi thu hoạch
khoai mùa tháng tám giùm cho gia chủ rồi họ cho bao nhiêu thì cho. Cũng có
người đi mót khoai mụt, khoai chạc còn sót lại để ăn hoặc bán. &lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“Xưa cực đắng chứ không phải như bây giờ”.&lt;/i&gt;
Ông Nguyễn Bụi vừa vá lưới vừa kể. Cho nên, mãi đến năm&amp;nbsp; 1954, trong làng vạn mới có người mua đất lên
bờ. Trong đó, người đầu tiên là ông Nguyễn Thơm. Ông này mua đất được là nhờ bà
vợ đi buôn bán ở vạn Nồi Rang. Kế đến là các ông Đinh Trải, Đinh Xây và một số
gia đình khác.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 14pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;Từ
sau ngày giải phóng, bà con làng vạn lần lượt lên bờ, chấm dứt cuộc sống dưới
ghe. Nhờ sự quan tâm, hỗ trợ về nhiều mặt của chính quyền các cấp, đời sống của
bà con từng bước được cải thiện. Hầu hết bà con đều xây được nhà kiên cố. Trong
hàng trăm hộ ngư dân ở làng cá Duy Nghĩa, đã có trên 30 hộ sắm tàu lớn, có khả
năng đi đánh bắt cá xa bờ. Những hộ còn lại làm nhiều nghề, từ nghề câu, nghề
rớ, giã cào đến nghề mành… Và, cũng khác xưa, họ áp dụng nhiều phương tiện đánh
bắt cá tiên tiến. Sản lượng khai thác cũng nhiều hơn. Đặc biệt, bà con gần như
làm quanh năm. Trời yên, biển lặng thì ra khơi. Không thì làm những nghề ven
bờ. Hoặc đánh bắt cá trên sông. Nói như ông Nguyễn Bụi, chỉ trừ những khi trời
mưa to, gió lớn, sóng biển dữ dội, còn những ngày còn lại, phải bám biển, bám
sông mà sống. Như ông chẳng hạn, dù không có tàu lớn đi xa, nhưng mỗi ngày đi
câu, cũng kiếm bình quân ba, bốn trăm ngàn. Còn, với những hộ đánh bắt cá xa
bờ, mỗi chuyến đi kiếm vài triệu là chuyện thường. Cũng theo ông, nhờ vậy mà&lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal;&quot;&gt;“đời sống dân làng chài chúng tôi so với
trước đỡ hơn nhiều….”&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/8709060107195102197/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/8709060107195102197?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/8709060107195102197'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/8709060107195102197'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/05/chuyen-ghi-o-mot-van-chai.html' title='CHUYỆN GHI Ở MỘT VẠN CHÀI'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhtnss6Ve8q79WDjCJqEqVBLL80okD-AAJFIlBk4A2qLxK7-EOm7k2l8hjXipiWL4UNN0Owxjnngve8V5WDZBV4c4ri6ITsmwjmhfM5rtHH62w4M-BKHv_GZd0k947nfgIMxbMMZ_IO6RY/s72-c/M%E1%BB%99t+g%C3%B3c+l%C3%A0ng+v%E1%BA%A1n+N%E1%BB%93i+Rang%5B1%5D.+%E1%BA%A2nh+%C4%90.%C4%90.jpg.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-7725960164533029928</id><published>2012-05-18T14:15:00.001+07:00</published><updated>2012-06-01T10:03:40.265+07:00</updated><title type='text'>TRUYỀN THUYẾT MỘT LÀNG RAU</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Ghé thăm đô thị cổ Hội An, Di sản văn hoá thế giới của tỉnh Quảng Nam,
một trong những địa chỉ tham quan không thể thiếu với du khách trong và ngoài
nước là ghé thăm làng rau truyền thống Trà Quế. Đến đây, du khách không những
có thể tận mắt chứng kiến khung cảnh sinh hoạt quen thuộc hàng ngày của người
dân làng rau truyền thống, trực tiếp “thử” làm cư dân Trà Quế mà trong dịp hãn
hữu nào đó, còn được các cụ già kể một số truyền thuyết khá lý thú và hấp dẫn…&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Truyền thuyết kể rằng, thuở sơ khai, ông bà tổ tiên của cư dân Trà Quế
vốn là những ngư dân thực thụ. Họ sinh sống bằng nghề lưới bén, chuyên đánh bắt
cá tôm trên sông Đế Võng kiếm ăn qua ngày. Thế rồi, càng về sau, việc đánh bắt
ngày càng khó khăn. Cuộc sống của ngư dân làng vạn rơi vào chỗ lao đao. Nhiều
gia đình bữa đói, bữa no. Trong lúc bị dồn vào chân tường, một số bà con mới
nghĩ đến việc thử khai phá thêm đất. Thôi thì nếu không thể trồng lúa, ta trồng
thứ khác. Như rau chẳng hạn. Trước mắt là có rau ăn. Dư thừa bán cũng có tiền. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh4G87nDLvBVK-qv8euen5S43I9NW2RsxZukf1dF2KTqrgjMOx2pN8TeL30mceaKEBf6I233QIZee-fchaDkeYRrahbp8B1rCy5t4J9zYq2Jn8rHgjtyUEGdrCW_JpaQ6_m45FoQ18M9zY/s1600/Picture+010.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;266&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh4G87nDLvBVK-qv8euen5S43I9NW2RsxZukf1dF2KTqrgjMOx2pN8TeL30mceaKEBf6I233QIZee-fchaDkeYRrahbp8B1rCy5t4J9zYq2Jn8rHgjtyUEGdrCW_JpaQ6_m45FoQ18M9zY/s400/Picture+010.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Lang rau Tra Que. Anh D.D&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Từ suy nghĩ đơn giản ấy, họ bắt tay vào thực hiện. Những vạt ngò, rau
húng rồi đến rau é, hành, cải, hẹ... lần lượt mọc lên trên vùng đất mới khai
phá. Và, cũng thật bất ngờ, các loại rau kể trên không những lên xanh tốt mà
còn có hương vị đặc biệt thơm ngon, không đâu sánh bằng. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, cây rau Trà Quế từng bước nổi danh
dần. Chẳng mấy chốc, các chợ lớn, chợ nhỏ trong vùng Hội An và lân cận trở
thành thị trường tiêu thụ chính&amp;nbsp; của rau Trà Quế. Thấy có thể sống được từ
nghề mới mẻ này, những hộ còn lại bắt chước làm theo. Chẳng ai đủ sức trụ lại
với nghề đánh bắt cá tôm bấp bênh, bữa đực bữa cái nữa. Từ một làng vạn thuở
ban đầu, Trà Quế dần dần biến thành một làng rau. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Cũng theo truyền thuyết, thuở sơ khai, khi mới đến lập làng, Trà Quế có
tên là Nhự Quế, nghĩa nôm na là nhà nhà đều trồng rau thơm. Thế rồi, hồi đầu
thập niên 1800, sau khi lên ngôi, nhân một lần đến Hội An, nghe các quan địa
phương giới thiệu ở đây có một ngôi làng nhỏ bốn bề sông nước, chuyên trồng rau
làm kế sinh nhai. Lại nghe nói rau ở đây hương vị rất thơm ngon tuyệt vời,
không đâu sánh kịp, vua Gia Long lấy làm lạ. Thế là ngài mới ngự đến xem.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.1pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6ChNoivnvzQ-mm51mZYC2H9LXJC82X55ljQKvCiRxNSzKren4SaePvh0T7uOm9ZmnCZ4Lle-pMEHtcawz6b09KwtfrghtofCZKEkvIJcxKNPwDGRw1hMrBQ2PywD6E0QQaaB16qiLYe4/s1600/gl.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;640&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6ChNoivnvzQ-mm51mZYC2H9LXJC82X55ljQKvCiRxNSzKren4SaePvh0T7uOm9ZmnCZ4Lle-pMEHtcawz6b09KwtfrghtofCZKEkvIJcxKNPwDGRw1hMrBQ2PywD6E0QQaaB16qiLYe4/s640/gl.jpg&quot; width=&quot;542&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Vua Gia Long. Anh tu lieu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.1pt;&quot;&gt;Được tin vua &lt;i&gt;“ngự”,&lt;/i&gt; các bô lão trong làng hớn hở chọn những loại
rau ngon nhất,&amp;nbsp; thơm nhất để dâng lên, gọi là rau &lt;i&gt;“tiến vua”&lt;/i&gt;. Tất
nhiên, phải là những thứ rau thượng hảo hạng. Gia Long thưởng thức, tấm tắc
khen. Rồi ngài hỏi tên làng. Các bô lão bẩm rằng tên làng là Nhự Quế. Vua Gia
Long trầm ngâm trong chốc lát. Sau đó, ngài phán rằng tên Nhự Quế cũng hay. Thế
nhưng, tên Trà Quế hay hơn. &lt;i&gt;“Vì “trà” chỉ một loại thức uống không kém phần
thơm ngon, quen thuộc của người Việt. Cho nên, Gia Long mới cải sửa lại, từ Nhự
Quế thành Trà Quế. Và, cũng theo tương truyền, danh xưng Trà Quế tồn tại mãi
đến ngày nay…”&lt;a href=&quot;http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=3174140239933725569#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; style=&quot;mso-footnote-id: ftn1;&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;; font-size: 13pt; letter-spacing: -0.1pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/i&gt;.&amp;nbsp;
&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.1pt;&quot;&gt;Truyền thuyết vẫn là truyền thuyết, thật hư khó mà đoán định nổi. Điều
chắc chắn là xưa nay, người Trà Quế luôn lấy nghề trồng rau làm nghề sinh sống
chính.&amp;nbsp; Xưa, cư dân Trà Quế thường thức dậy từ lúc hai, ba giờ sáng, ăn
uống qua loa rồi gánh gánh rau nặng ì ra tận Đà Nẵng. Khi tới An Hải, họ qua đò
Hà Thân rồi bán sỉ ngay tại chợ Hàn. Xong, cũng theo đường biển mà về. Cả đi và
về mất ngót năm sáu chục cây số, đâu ít ỏi gì. Mãi đến thập kỷ 1960, khi tuyến
đường Đà Nẵng - Hội An có xe đò chạy thường xuyên, họ mới chuyển qua đi xe đò. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.1pt;&quot;&gt;&lt;v:shape id=&quot;_x0000_i1025&quot; style=&quot;height: 155.25pt; width: 242.25pt;&quot; type=&quot;#_x0000_t75&quot;&gt;
 &lt;v:imagedata grayscale=&quot;t&quot; o:title=&quot;Picture 017&quot; src=&quot;file:///C:\DOCUME~1\admin\LOCALS~1\Temp\msohtml1\03\clip_image003.jpg&quot;&gt;
&lt;/v:imagedata&gt;&lt;/v:shape&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp;Hiện nay, phương tiện giao thông phát triển, rau Trà Quế là loại rau được
thị trường trong và ngoải tỉnh ưa chuộng. Nhờ vậy, nó có mặt ở nhiều nơi, từ
Hội An, Tam Kỳ đến Đà Nẵng, có lúc còn vươn ra cả Huế. Và, thật thú vị biết
nhường nào nếu có dịp hãn hữu nào đó, khách ghé thăm làng rau truyền thống nổi
tiếng Trà Quế, vừa thưởng thức món ăn có sự góp mặt của rau thơm nổi tiếng địa
phương, vừa nghe các cụ già xưa kể lại chuyện xưa, giữa buổi trưa hè, lại nghe
giọng hát của ai đó từ xa vọng lại &lt;i&gt;“Ai về Trà Quế thì về/ Trà Quế có nghề
nấm giá đậu xanh/ Sớm mai đi bán rau hành/ Chiều về tưới nước suốt canh chưa
nằm/ Khuya thì dậy sớm cắt rau/ Sáng lo đi bán suốt năm không nhàn”&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;mso-element: footnote-list;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot; style=&quot;mso-element: footnote;&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;margin-right: 6.0pt; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.blogger.com/blogger.g?blogID=3174140239933725569#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; style=&quot;mso-footnote-id: ftn1;&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;; font-size: 12pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Nguyễn Chấn, sinh năm 1937, một trong những bô lão làng Trà Quế, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/7725960164533029928/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/7725960164533029928?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/7725960164533029928'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/7725960164533029928'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/05/truyen-thuyet-mot-lang-rau.html' title='TRUYỀN THUYẾT MỘT LÀNG RAU'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh4G87nDLvBVK-qv8euen5S43I9NW2RsxZukf1dF2KTqrgjMOx2pN8TeL30mceaKEBf6I233QIZee-fchaDkeYRrahbp8B1rCy5t4J9zYq2Jn8rHgjtyUEGdrCW_JpaQ6_m45FoQ18M9zY/s72-c/Picture+010.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-4798206091436759553</id><published>2012-05-13T16:41:00.000+07:00</published><updated>2012-06-01T10:02:01.019+07:00</updated><title type='text'>SẮC BÙA NGÀY TẾT</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;h1 style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;


&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; font-weight: normal; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Mỗi khi Tết đến, Xuân về,
hình ảnh đội sắc bùa với khăn đóng áo dài, đem theo trống cơm, sinh tiền, phách
tre, phía trước có một người xách chiếc lồng đèn bằng giấy, hình tam giác, thắp
bằng dầu phụng, dưới có bốn tua đủ màu sắc, đi chúc Tết khắp làng trên xóm dưới
trở thành hình ảnh quen thuộc với người dân ở làng Chấn Sơn: &quot;Sắc bùa là
sắc bùa âu/ Mong cho năm mới ăn xôi với chè/ Sắc bùa là sắc bùa hoè/ Mong cho
năm mới ăn chè với xôi!&quot;. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; font-weight: normal; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h1&gt;
&lt;h1 style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;


&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; font-weight: normal; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Không chỉ làng Đại Sơn, hồi
trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hát sắc bùa còn là loại hình sinh hoạt văn
hoá văn nghệ dân gian khá phổ biến ở ở nhiều làng xã ở Đại Lộc, Quế Sơn, Điện
Bàn, Duy Xuyên, nhất là tại Giảng Hoà, Cổ Tháp, Thanh Châu, Bảo An, Đại
Bình.... Có làng có một đội nhưng cũng có làng có đến... hai đội hắt sắc bùa.
Môĩ đội ít cũng 5 người, nhiều có khi trên mười thành viên. Trong đó,&amp;nbsp;
làng Chấn Sơn, nay thuộc xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, là một trong những địa
phương có truyền thống lâu đời về hát sắc bùa.&lt;/span&gt;&lt;/h1&gt;
&lt;h1 style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;


&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; font-weight: normal; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Tết cuối cùng làng Chấn Sơn
còn hát sắc bùa là Tết năm 1953&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.
Lúc đó, ông Lê Nhì còn trẻ lắm, chỉ hai mưới tám tuổi. Hồi ấy, ông nghe các cụ
thuật lại rằng&amp;nbsp; trong cuộc hành trình từ Bắc vào &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;, ông bà tổ tiên làng Chấn Sơn
đã mang theo loại hình sinh hoạt văn nghệ truyền thống này. Và, từ đó, hát sắc
bùa được lưu truyền qua nhiều đời. Lớp trước dạy lớp sau. Mãi đến đầu thế kỷ XX
thì đến thế hệ của ông Lê Nhì, thế hệ cuối cùng còn&amp;nbsp; duy trì hình thức
sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc này.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; font-weight: normal; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h1&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhphOH5q26oKXjuTpuY6Vwq1YHI3yJZbmVlhr8KhkgLXv-qBzaxFVXWh9r4dedYGLD6hQWqobqY09zWc6aiUB56tMUczZM5Y-Tp0Ckk18X-3vUFCPoL6T5shqTQon688sfLnWhBbIEdJzY/s1600/SB+(4).jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;300&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhphOH5q26oKXjuTpuY6Vwq1YHI3yJZbmVlhr8KhkgLXv-qBzaxFVXWh9r4dedYGLD6hQWqobqY09zWc6aiUB56tMUczZM5Y-Tp0Ckk18X-3vUFCPoL6T5shqTQon688sfLnWhBbIEdJzY/s400/SB+(4).jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Hat bai chuc mung gia chu. Anh D.D&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Hát sắc bùa xưa thình hành vì nó có &lt;i&gt;“đất sống”&lt;/i&gt;, được người dân yêu
thích. Cho nên, Tết đến, người ta cứ háo hức trông chờ đội đi hát. Người lớn
trông một thì đám con nít trông mười. Bấy giờ, tiếng trống cơm, tiếng sinh
tiền, tiếng phách tre hoà lẫn tiếng hát của cả đôi sắc bùa.... có sức lôi cuốn
diệu kỳ, trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân gian phổ biến
không chỉ trong mà còn ở ngoài làng, ngoài tổng. &lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Không vui sao được khi những bài hát
kháng chiến, có sức động viên, cổ vũ, nhưng cũng có sự lôi cuốn mạnh mẽ nhờ
nhịp điệu sôi nổi, hào hứng, phù hợp với không khí rộn ràng của những ngày đầu
năm mới&lt;i&gt;“Ngoại hoá ngoại hoá/ Thứ gì xa lạ/ Vải ú hồng mao/ Vải phin hồng
đào/ Những hàng xa xỉ/ Xà bông lược Mỹ/ Phấn sáp nước hoa/ Kẹp tóc sáng loà/ Xì
gà thuốc điếu/ Thứ gì không thiếu/ Bán hết khắp nơi/ Xanh đỏ rợp trời/ Cũng đồ
vải địch/ Trong lúc ham thích/ Chẳng biết rèn mình/ Vì đã vô tình/ Làm giàu cho
giặc...”.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div align=&quot;center&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
&lt;b&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhG01H11pGPTVzedGfNNaAyr5CaEupTt5g4hiF-9mRAfrqO4fZQBQOjwm4pwTwATCwrobfD3PjV0TpFHWZsnDyXmAnY6bS2yKQheVRBIO_M3V3ff6o2Wc-GJuew-_pA8uJG2VlktY5vauU/s1600/SB+(2).jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;300&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhG01H11pGPTVzedGfNNaAyr5CaEupTt5g4hiF-9mRAfrqO4fZQBQOjwm4pwTwATCwrobfD3PjV0TpFHWZsnDyXmAnY6bS2yKQheVRBIO_M3V3ff6o2Wc-GJuew-_pA8uJG2VlktY5vauU/s400/SB+(2).jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Doi sac bua Le Trach. Anh D.D&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Nhưng, đó chỉ là bài trong chín năm chống Pháp. Riêng những bài hát xưa
nhiều lắm. Nào là bài hát chúc nghề làm ruộng, nghề dệt, nghề mộc, nghề rèn,
nghề buôn... Trong đó, nhiều bài hát hay đến mức dù đã hơn năm mươi năm nhưng
ông vẫn còn nhớ một số đoạn, như bài chúc người trồng thuốc lá &lt;i&gt;“Ngày xưa hái
một nhắm bông hoa/ Tháng chín vãi ra/ Hột còn lút chút/ Tháng mười hết lụt/
Thuốc đã mọc lên/ Kêu trai đắp nền/ Nhổ ra mà cấy/ Thuốc xanh dẫy dẫy/ Thuốc
xanh dầy dầy/ Ông trở đất này/ Kêu trai trồng thuốc/ Trồng thuốc trồng thuốc/
Kẻ thời đất cuốc/ Người lại đất cày/ Kẻ thời no may/ Người thời no rủi...”&lt;/i&gt;.
&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Đến hẹn lại lên, năm nào, đội sắc bùa cũng tập trung khoảng hai mươi
tháng chạp để luyện tập, ôn bài cũ, học bài mới. Thế nhưng, trong quá trình
biểu diễn, họ cũng không thể tránh được vài &lt;i&gt;&quot;tai nạn&quot;&lt;/i&gt; nho nhỏ.
Điển hình vào Tết năm 1938, đội của ông Lê Nhì được ông Hội Mẹo, người làng An
Mỹ, mời đến hát. Bấy giờ, ông Hội Mẹo giàu có tiếng ở tổng Đức Thượng, huyện
Đại Lộc, tỉnh Quảng &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;.
Ổng không những đất ruộng nhiều mà còn có trâu bầy, nhà ngói. Đêm hội sắc bùa
biểu diễn là đêm mồng hai Tết. Sau khi hát bài &lt;i&gt;“Mở ngõ”, “Mở cửa”…&lt;/i&gt; đến
phần hát chúc gia chủ, không hiểu sao đội lại hát bài&lt;i&gt; “…Thợ rèn thợ rèn/
Nghề nghiệp đã quen/ Lưu truyền con cháu/ Rèn gươm rèn giáo/ Rèn mác rèn chàng
/ Của để ngàn trùng/ Rèn riều rèn rựa/ Nào ai khéo nữa/ Đánh cuốc đánh cưa...”&lt;/i&gt;.
&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Mới hát nửa chừng, ông Hội Mẹo bỗng đứng lên, cao giọng &lt;i&gt;“Mời các ông
ra cho!”&lt;/i&gt;. Cả hội kinh ngạc, nhao nhao hỏi &lt;i&gt;“Ủa, làm răng ông lại đuổi tụi
tui?Tụi tui có làm chi sai mô mà đuổi”&lt;/i&gt;. Ông Hội Mẹo &lt;i&gt;“Nhà tui đâu phải
mạt đến mức gia đình phải đi làm thợ rèn mà các ông chúc. Bộ các ông muốn tui
làm thợ rèn hay răng ?”&lt;/i&gt;. Đến lúc này, đội sắc bùa mới hiểu ra, vội vàng xin
lỗi và xin chuyển sang bài khác. Kỳ thực, ông Hội Mẹo bắt bẻ chủ yếu để hội rút
kinh nghiệm chứ không hề có ác ý gì. Cho nên, ông giảng giải một hồi để anh em
hiểu và bỏ qua lỗi, cho tiếp tục hát, bồi dưỡng đầy đủ. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Điều đáng tiếc là từ năm 1954, do ảnh hưởng của chiếu tranh, đội sắc bùa
Chấn Sơn phải giải tán. Những người nằm trong đội hát sắc bùa mỗi người mỗi
nơi. Sau ngày giải phóng, do cuộc sống khó khăn, không ai nghĩ đến chuyện lập
lại đội hát sắc bùa. Hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân gian khá sặc sắc
này từng bước mai một dần. &lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Và, đã mấy chục năm qua, mỗi khi Tết
đến, Xuân về, những người ở lớp tuổi lại nhớ đến hát sắc bùa xưa. Không khí sôi
động trên các ngả đường làng, nơi đội sắc bùa đi qua như hiển hiện trong tâm
trí họ: &lt;i&gt;&quot;Sắc bùa là sắc bùa âu/ Mong cho năm mới ăn xôi với chè/ Sắc
bùa là sắc bùa hoè/ Mong cho năm mới ăn chè với xôi!&quot;. &lt;/i&gt;Nó trở thành
những kỷ niệm không thể nào quên&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13.5pt;&quot;&gt;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 10pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Theo ông Lê Nhì, sinh năm 1923, làng Chấn Sơn, xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, tỉnh
Quảng Nam, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/4798206091436759553/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/4798206091436759553?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/4798206091436759553'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/4798206091436759553'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/05/sac-bua-ngay-tet.html' title='SẮC BÙA NGÀY TẾT'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhphOH5q26oKXjuTpuY6Vwq1YHI3yJZbmVlhr8KhkgLXv-qBzaxFVXWh9r4dedYGLD6hQWqobqY09zWc6aiUB56tMUczZM5Y-Tp0Ckk18X-3vUFCPoL6T5shqTQon688sfLnWhBbIEdJzY/s72-c/SB+(4).jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-7437469736328047938</id><published>2012-05-12T16:16:00.002+07:00</published><updated>2013-10-09T08:53:15.888+07:00</updated><title type='text'>NGƯỜI HOA Ở TRÀ MY XƯA</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;i style=&quot;line-height: 17pt; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Do đặc điểm về địa lý, lịch sử, Hoa kiều đến Việt &lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt; từ rất lâu
đời. Còn ở Quảng Nam, họ tập trung đông ở đô thị cổ Hội An. Thế nhưng, Hoa kiều
không chỉ tập trung ở Hội An mà còn toả đi nhiều nơi khác, kể cả mảnh đất xa
xôi, ngay cả huyện Trà My xưa. Có thể nói, sau Hội An, Tiên Phước, Tam Kỳ thì
Trà My là địa phương thu hút khá đông Hoa kiều lập nghiệp. Họ đến đây sinh sống
bằng nhiều nghề,chủ yếu là những nghề “ruột” từ bốc thuốc Bắc chữa bệnh&amp;nbsp;
đến mở hiệu tạp hoá, bán những đồ dùng cần thiết hàng ngày cho cư dân địa
phương và đặc biệt nhất là kinh doanh lâm thổ sản... &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; line-height: 17pt; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Hồi nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, Trà My, nay chia ra làm hai huyện là
Bắc Trà My và Nam Trà My, là mảnh đất có thể nói được liệt vào nơi &lt;i&gt;“rừng
thiêng nước độc”&lt;/i&gt;. Thị trấn Trà My tương đối đông đúc ngày nay trước kia nhà
cửa chỉ lưa thưa, lẫn khuất sau những ngọn đồi, những đồi cây. Để cai trị vùng
đất hẻo lánh này, thực dân Pháp có xây dựng một đồn gọi là đồn Trà My, có cả
lính Tây lẫn lính người Việt. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjVrSth5ie2IUd7tscIavJhwv8tE_oM8_8jr_1PAnvmv1M-AoVgu6CaBn8o21cWIW8RbJYRGLww0lBfqeWOeagSKnfY_i3d0qA9ECET4Lmf_N1TrsSbGSnkGBhIzE8s5sdbtPkYS1C8E1U/s1600/tau4.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;408&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjVrSth5ie2IUd7tscIavJhwv8tE_oM8_8jr_1PAnvmv1M-AoVgu6CaBn8o21cWIW8RbJYRGLww0lBfqeWOeagSKnfY_i3d0qA9ECET4Lmf_N1TrsSbGSnkGBhIzE8s5sdbtPkYS1C8E1U/s640/tau4.jpg&quot; width=&quot;640&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Người Hoa ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Tuy xa xôi, hiểm trở nhưng Trà My có sức thu hút Hoa kiều là do đây là
địa phương có nguồn đặc sản quý hiếm. Đó là quế. Vỏ quế là mặt hàng xuất khẩu
đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Thế cho nên, bấy giờ có đến vài hiệu buôn Hoa
kiều. Lớn nhất là hiệu Phước Ký rồi đến Hồng An, Thoại An, Phước Hưng... Dĩ
nhiên, mặt hàng buôn bán chính và có khả năng thu lợi nhiều nhất của nhưng hiệu
buôn này là quế!&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 12.0pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Cũng như người Hoa ở nhiều địa phương khác, người Hoa ở Trà My không trực
tiếp mua quế mà thông qua &lt;i&gt;“các lái”&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-font-size: 13.5pt; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/i&gt;
người Việt sinh sống tại Trà My để làm đại lý thu mua. Hằng năm, cứ đến mùa
quế, khung cảnh núi rừng Trà My lại nhộn nhịp khác thường. Điểm khởi đầu là
đồng bào các dân tộc vùng trung du và vùng cao của huyện Trà My tìm các lái
người Việt để tạm ứng trước đồ dùng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày như
mắm, muối, vải, nồi đồng, mâm đồng... Sau đó, khi có quế, các lái người Việt,
cũng không đông lắm, độ hai ba chục người, lên tận các bản để lấy quế. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 12.0pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Theo tục lệ, họ không vào nhà dân mà dựng tạm trại nhỏ phía ngoài rìa
làng để ăn ở trong một hai tháng theo theo thời gian ghi trong giấy phép do
người Pháp ở đồn Trà My cấp. Đồng bào đem quế về bỏ ở trại của người Việt nào
mà họ đã ứng trước đồ dùng. Khi thấy đủ số lượng hoặc thấy quế quá nhiều, các
lái người Việt mới thuê người địa phương gùi xuống để ở nhà họ tại thị trấn Trà
My. Công gùi tính riêng, cũng được trả bằng hiện vật. Việc đổi quế lấy đồ dùng
giữa đồng bào các dân tộc miền núi với các lái người Kinh cứ diễn ra quanh năm,
dai dẳng từ mùa này sang mùa khác, tạo thành mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 12.0pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Các hiệu người Hoa mua lại quế của các lái người Việt. Quế lúc này vẫn
còn là quế tươi. Do đó, họ phải thuê thợ gia công, uốn quế. Mỗi hiệu, tuỳ theo
số lượng quế ít nhiều mà thuê thợ. Có thể đôi ba người nhưng cũng có thể vài ba
chục người. Thợ uốn quế chia làm hai loại. Loại làm tháng chiếm đa số, làm hết
tháng này sang tháng khác, khi nào hết quế thì thôi. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Loại làm khoán tình theo số lượng quế đã uốn mà hưởng tiền công. Thời ấy,
quế uốn nhỏ hơn bây giờ. Dụng cụ uốn đơn giản chỉ ba thanh gỗ nhỏ gác dọc và
tám thanh tre gác ngang. Mỗi lần phơi quế là mỗi lần uốn. Uốn thế nào để thân
vỏ quế tạo thành hình số 3. Thường thì quế nhỏ uốn bốn lần, quế lớn phải năm,
sáu lần. Và, cứ 100 miếng quế làm thành một kẹp. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;!--[if gte vml 1]&gt;&lt;v:shapetype id=&quot;_x0000_t75&quot;
 coordsize=&quot;21600,21600&quot; o:spt=&quot;75&quot; o:preferrelative=&quot;t&quot; path=&quot;m@4@5l@4@11@9@11@9@5xe&quot;
 filled=&quot;f&quot; stroked=&quot;f&quot;&gt;
 &lt;v:stroke joinstyle=&quot;miter&quot;/&gt;
 &lt;v:formulas&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;if lineDrawn pixelLineWidth 0&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;sum @0 1 0&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;sum 0 0 @1&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;prod @2 1 2&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;prod @3 21600 pixelWidth&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;prod @3 21600 pixelHeight&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;sum @0 0 1&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;prod @6 1 2&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;prod @7 21600 pixelWidth&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;sum @8 21600 0&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;prod @7 21600 pixelHeight&quot;/&gt;
  &lt;v:f eqn=&quot;sum @10 21600 0&quot;/&gt;
 &lt;/v:formulas&gt;
 &lt;v:path o:extrusionok=&quot;f&quot; gradientshapeok=&quot;t&quot; o:connecttype=&quot;rect&quot;/&gt;
 &lt;o:lock v:ext=&quot;edit&quot; aspectratio=&quot;t&quot;/&gt;
&lt;/v:shapetype&gt;&lt;v:shape id=&quot;_x0000_i1025&quot; type=&quot;#_x0000_t75&quot; style=&#39;width:306pt;
 height:213pt&#39;&gt;
 &lt;v:imagedata src=&quot;file:///C:\Users\ADMIN\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image001.jpg&quot;
  o:title=&quot;Chợ quê thời trước&quot; gain=&quot;52429f&quot; grayscale=&quot;t&quot;/&gt;
&lt;/v:shape&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if !vml]--&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi3Y5htQ1Kit8-rm9pPjay9s-yFwFcAMKhd-vT1xJa42tGE9oEWLJc447_Mpfqq5rIWZ2Vqj_JLTbiEryOQewPzt9Pc55a48VNqqXle7h5IutN7dNIwTv_v2uqF-bcD3EWDYUo34r_xcC0/s1600/Ch2.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;436&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi3Y5htQ1Kit8-rm9pPjay9s-yFwFcAMKhd-vT1xJa42tGE9oEWLJc447_Mpfqq5rIWZ2Vqj_JLTbiEryOQewPzt9Pc55a48VNqqXle7h5IutN7dNIwTv_v2uqF-bcD3EWDYUo34r_xcC0/s640/Ch2.jpg&quot; width=&quot;640&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Chợ Hàn Đà Nẵng hồi đầu thế kỷ XX. Ảnh tư liệu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 15px;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Sau khi uốn xong, các hiệu buôn người Hoa như Thuận An, Hồng An, Phước
Hưng...mang trực tiếp đi Hồng Kông bán. Còn quế xô, các hãng Hồng Kông có chi
nhánh ở Hội An, Đà Nẵng thu mua và chở đi. Nguồn cung cấp qiế xô là các lái
buôn người Việt ở Trà My. Riêng hiệu Phước Ký cũng có kinh doanh quế xô. Được
bao nhiêu, họ đều bán lại cho đại diện các hãng Hồng Kông.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Ngoài kinh doanh quế, mặt hàng chiến lược ở Trà My, Hoa kiều còn làm
nhiều nghề khác như bốc thuốc Bắc chữa bệnh, bán các mặt hàng thiết yếu như mắm
muối, các loại lương thực, thực phẩm... Có thể nói, đây là những sản phẩm họ
buôn bán quanh năm, mùa mưa cũng như mùa nắng. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Nhìn chung, trong kinh doanh, cũng như Hoa kiều ở các nơi khác, Hoa kiều
ở Trà My luôn biết cách tạo &lt;i&gt;“thương hiệu”&lt;/i&gt;, &lt;i&gt;“uy tín”&lt;/i&gt; cho mình. Cụ
thể, trong quá trình kinh doanh, buôn bán, bên cạnh sự khôn ngoan,&amp;nbsp; họ rất
coi trọng chữ tín. Không bao giờ họ nuốt lời hứa với bất cứ ai. Và, đã hứa, họ
làm cho bằng được. Làm ăn với Hoa Kiều thường thì Tết nhứt hay lễ lạc quan
trọng nào đó, họ hay có quà biếu. Tuỳ theo độ đậm nhạt trong quan hệ buôn bán
mà món quà &lt;i&gt;“nặng”&lt;/i&gt; hay &lt;i&gt;“nhẹ”&lt;/i&gt;. Đây là &lt;i&gt;“nghệ thuật”&lt;/i&gt; giữ bạn
hàng của họ. Thật ra, chút quà ấy chẳng thấm vào đâu so với món lợi họ thu cả
năm trời nhưng rõ ràng, họ đã biết cách đánh vào tâm lý để bảo đảm sang năm
mới, công việc kinh doanh của họ sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến hơn&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftn2&quot; name=&quot;_ftnref2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-font-size: 13.5pt; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US;&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 12.0pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13.0pt; letter-spacing: .2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;b&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 24.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US; text-shadow: auto;&quot;&gt;&lt;!--[if gte vml 1]&gt;&lt;v:shape
 id=&quot;_x0000_i1026&quot; type=&quot;#_x0000_t75&quot; style=&#39;width:306.75pt;height:195pt&#39;&gt;
 &lt;v:imagedata src=&quot;file:///C:\Users\ADMIN\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image003.jpg&quot;
  o:title=&quot;tau4&quot; grayscale=&quot;t&quot;/&gt;
&lt;/v:shape&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if !vml]--&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;

&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;br clear=&quot;all&quot; /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;!--[endif]--&gt;

&lt;br /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 10.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US; mso-font-kerning: 14.0pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Theo lời kể của ông Trịnh Hiếu An, sinh năm 1916, ở thị trấn Trà My, huyện Trà
My, nay huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div id=&quot;ftn2&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftnref2&quot; name=&quot;_ftn2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;!--[if !supportFootnotes]--&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 10.0pt; mso-ansi-language: EN-US; mso-bidi-language: AR-SA; mso-fareast-font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;; mso-fareast-language: EN-US; mso-font-kerning: 14.0pt;&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;!--[endif]--&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Khương, sinh năm 1905, ở thị trấn Trà My, huyện
Trà My, nay huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/7437469736328047938/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/7437469736328047938?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/7437469736328047938'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/7437469736328047938'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/05/nguoi-hoa-o-tra-my-xua.html' title='NGƯỜI HOA Ở TRÀ MY XƯA'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjVrSth5ie2IUd7tscIavJhwv8tE_oM8_8jr_1PAnvmv1M-AoVgu6CaBn8o21cWIW8RbJYRGLww0lBfqeWOeagSKnfY_i3d0qA9ECET4Lmf_N1TrsSbGSnkGBhIzE8s5sdbtPkYS1C8E1U/s72-c/tau4.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2958751207484638664</id><published>2012-05-09T19:31:00.003+07:00</published><updated>2013-05-07T17:31:33.165+07:00</updated><title type='text'>TẬP SÁCH &quot;CHUYỆN XƯA ĐẤT QUẢNG&quot; SẮP RA MẮT BẠN ĐỌC</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: .0001pt; margin-bottom: 0in; margin-left: 0in; margin-right: 5.75pt; margin-top: 0in;&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: right;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot;&gt;&amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&quot;Dời chợ dời chợ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 0in; margin-left: 0in; margin-right: 5.75pt; margin-top: 0in; text-align: right; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Lời nói nên nợ &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 12pt; margin-left: 0in; margin-right: 5.75pt; margin-top: 0in; text-align: right; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Lở chợ phải dời...&quot;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 6.0pt; margin-top: 0in; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Tương
truyền, hồi cuối thế kỷ XIX, ở làng Thu Bồn, nay là thuộc xã Duy Tân, huyện Duy
Xuyên, có cha con ông Phạm Tự Điện chuyên đi buôn vải. Quanh năm suốt tháng, họ
cứ gánh vải đi khắp nơi, từ Duy Xuyên, qua Đại Lộc đến Quế Sơn... để bán. Bấy
giờ, do người ít, đường vắng nên bọn cướp thường tổ chức trấn lột. Nhiều phen
bị mất vải, mất hồn, suýt mất cả mạng, ông Phạm Tự Điện kinh hãi, thấy gánh vải
đi bán quá bất tiện, khó đối phó với những hiểm nguy trên đường, bèn nghĩ cách
xin lý trưởng cho phép lập quán bán vải ngay ở đuôi làng. Do là dân buôn vải
chuyên nghiệp, quen biết nhiều nên chẳng bao lâu sau người trong làng, rồi
ngoài làng đến chỗ ông mua vải khá đông. Thấy vậy, một số bà con kẻ bán thêm
cái này, người bán thêm món kia, đông dần lên thành ra chợ...&quot;&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjl1uzkJeH2EhyYyOA5FZPPYadM1e0TJnUKG3KeX1_rlQanO6VTaraFzwUoml1byMTAhkDWgRcaDsTCwzo6zi8HzKns7mLTWFkyho0T8nnMRUU-QAzzt_JLCi1lh_EsAfC-ssg6BY-vxSw/s1600/CXXQMAU+DONG.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;287&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjl1uzkJeH2EhyYyOA5FZPPYadM1e0TJnUKG3KeX1_rlQanO6VTaraFzwUoml1byMTAhkDWgRcaDsTCwzo6zi8HzKns7mLTWFkyho0T8nnMRUU-QAzzt_JLCi1lh_EsAfC-ssg6BY-vxSw/s400/CXXQMAU+DONG.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 6.0pt; margin-top: 0in; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 6.0pt; margin-top: 0in; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 17px;&quot;&gt;Đó là một đoạn trích trong tập sách &quot;Chuyện xưa đất Quảng&quot; sắp ra mắt bạn đọc. Đây là tập sách được tác giả điền dã, ghi chép những mẩu chuyện nho nhỏ về làng quê, từ chuyện lập chợ đến chuyện Dinh bà Phường Rạnh, chuyện săn cọp, chuyện về một số nhân vật như huyền thoại... Có thể nói, là truyện kể mang tình chất truyện kể dân gian nên có thể tam sao thất bổn. Âu, đó cũng là lẽ thường tình. Mục đích của tác giả là cố gắng vẽ lại, hình dung lại một phần nhỏ nào đó cuộc sống tinh thần, tâm linh... của người Quảng xưa.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 6.0pt; margin-top: 0in; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 17px;&quot;&gt;Được như vậy, đã quý hóa lắm rồi!&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 12pt; margin-left: 0in; margin-right: 6pt; margin-top: 0in; text-align: right; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 17px;&quot;&gt;&lt;b&gt;PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2958751207484638664/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2958751207484638664?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2958751207484638664'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2958751207484638664'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/05/tap-sach-chuyen-xua-at-quang-sap-ra-mat.html' title='TẬP SÁCH &quot;CHUYỆN XƯA ĐẤT QUẢNG&quot; SẮP RA MẮT BẠN ĐỌC'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjl1uzkJeH2EhyYyOA5FZPPYadM1e0TJnUKG3KeX1_rlQanO6VTaraFzwUoml1byMTAhkDWgRcaDsTCwzo6zi8HzKns7mLTWFkyho0T8nnMRUU-QAzzt_JLCi1lh_EsAfC-ssg6BY-vxSw/s72-c/CXXQMAU+DONG.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2473214652284906971</id><published>2012-04-14T14:06:00.001+07:00</published><updated>2012-04-20T14:54:21.267+07:00</updated><title type='text'>SỰ TÍCH MỘT BÀI VÈ</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Hồi nửa đầu thế kỷ XX, ở làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam có lưu truyền một bài vè mà theo truyền khẩu là của ông Phạm Khôi, một người nổi tiếng hay chữ, khéo đặt vè, sáng tác. Đặc biệt, bài vè này toàn sử dụng cách nói “ngược” truyền thống của dân Quảng. Về nguyên nhân ra đời, cũng theo tương truyền, bài vè mô tả một vụ kiện về đất đai xảy ra ngay những năm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Có thể nói, đó cũng là vụ kiện &lt;i&gt;&quot;nổi đình nổi đám&quot;&lt;/i&gt; nhất ở làng Thu Bồn. Thời điểm xảy ra vụ kiện là năm 1940, lúc Nhật qua xâm chiếm Việt Nam. Không rõ lý do vì sao làng tổ chức đo đạc lại diện tích ruộng đất. Các vị chức sắc bấy giờ muốn &lt;i&gt;&quot;ăn&quot;&lt;/i&gt; bớt đất của dân nên cứ mỗi hộ đo thiếu 4 thước. &lt;i&gt;“Tất đất tấc vàng”&lt;/i&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;Người mất đất dĩ nhiên tức sôi máu. Họ bàn nhau đồng tâm hiệp lực phản đối đến cùng. Thế cho nên, khi lý trưởng dẫn đám thuộc hà đi do đất, moị người kéo nhau ra phản đối, cãi cọ, đánh lý trưởng và bọn tuỳ tùng chạy thục mạng. &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&amp;lt;!--[if !vml]--&amp;gt;&amp;lt;!--[endif]--&amp;gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6h4WWf8auEY4TSWM0hkrhYkBxoO1tacHJsGR1R3K3O4I0J3kkZl5lVK9k8_eCTSdWyD4O248nGgCalx248VlptXudgsg57dqDnd3yAVYuUabBtCxBGtkrbAnxhVwWNkL4MkzbkDKmtEo/s1600/DSC01835.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;266&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6h4WWf8auEY4TSWM0hkrhYkBxoO1tacHJsGR1R3K3O4I0J3kkZl5lVK9k8_eCTSdWyD4O248nGgCalx248VlptXudgsg57dqDnd3yAVYuUabBtCxBGtkrbAnxhVwWNkL4MkzbkDKmtEo/s400/DSC01835.JPG&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 15px; text-align: justify;&quot;&gt;Đường làng Thu Bồn. Ảnh Đ.Đ&lt;/span&gt; &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 11pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 11pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 15px;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Đặc biệt, do đất đai chưa đo đạc xong, dân cả làng nhất tề... bỏ cấy vụ lúa năm ấy, cùng nhau xách đơn lên kiện tổng, rồi huyện. Trong đó, người đứng đơn đại diện cho dân kiện là ông Võ Tùng. Bấy giờ, quan tri huyện Duy Xuyên thấy tình hình quá căng thẳng, mới đưa ông Thất Hoanh, xuống đo lại ruộng đất. Ông này chặt một cây tre thật thẳng, lấy thước ngoài Huế chặt đúng thước, đúng tấc, rồi cứ thế mà đo. Lý trưởng và cả bà con thấy ông Thất Hoanh làm đúng quá, không ai có ý kiến gì. Đặc biệt, nếu người lý trưởng đo dân mất 4 tấc, lần này, ông Thất Hoanh đo, dân lại lời ra đúng... 4 tấc! &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Nhân vụ kiện này, ông Phạm Khôi, một người hay chữ, đặt bài vè khá nổi tiếng rằng &lt;i&gt;&quot;Chuyên tùng, dám kiện, quấy ơi anh?/ Thức cóc giá cao ruộng bỏ đành / Ưng cắt năm sào liền một bọc/ Giựt quằn bốn thước xé đồng canh/ Đề mô sổ cấp làm cao lý/ Mực đặc đồng dân ký thuận tình…”.&lt;/i&gt; &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-ansi-language: VI; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Bài vè này, ông vận dụng toàn cách nói ngược &lt;i&gt;&quot;Truyền thống” &lt;/i&gt;của dân Quảng Nam. Câu đầu, &lt;i&gt;&quot;Chuyên tùng, dám kiện, quấy ơi anh?”&lt;/i&gt;. Ở đây&amp;nbsp; ý nói &lt;i&gt;&quot;Chuyên tùng” tức &quot;Chung tiền” &lt;/i&gt;để đi kiện và đi kiện thì chẳng phải chuyện sai quấy gì hết. &lt;i&gt;&quot;Thức cóc giá cao ruộng bỏ đành”.&amp;nbsp; &quot;Thức cóc”&lt;/i&gt; tức &lt;i&gt;&quot;Thóc cức”&lt;/i&gt;, ông muốn ám chỉ bọn cường hào làm bậy, làm những chuyện thối tha, khiến dân làng đành phải bỏ cả ruộng đất, không thể cày cấy được. Do đó, ông chửi khéo &lt;i&gt;&quot;Ưng cắt năm sào liền một bọc”&lt;/i&gt;. &lt;i&gt;&quot;Ưng cắt”&lt;/i&gt;&amp;nbsp; ở đây rõ ràng ông ám chỉ bọn làm chuyện xấu ấy đều đáng &lt;i&gt;&quot;ăn cức”. &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16pt; margin: 0in 0in 12pt; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-ansi-language: VI; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;Đến câu &lt;i&gt;&quot;Giựt quằn bốn thước xé đồng canh”&lt;/i&gt; nghĩa &lt;i&gt;&quot;Giựt quằn” &lt;/i&gt;tức&lt;i&gt; &quot;Giặt quần”&lt;/i&gt;, còn bốn thước xé đồng canh tức mấy ổng lấy bốn thước để mà chia nhau. &lt;i&gt;&quot;Đề mô sổ cấp làm cao lý”&amp;nbsp; &lt;/i&gt;tức &lt;i&gt;&quot;Đề mô” &lt;/i&gt;nói ngược lại là&lt;i&gt; &quot;Đồ mê”&lt;/i&gt;, tiếng chửi khéo bọn tham lam, ngu muội mới làm chuyện bậy bạ như thế. &lt;i&gt;&quot;Mực đặc đồng dân ký thuận tình”&lt;/i&gt; ở đây &lt;i&gt;&quot;Mực đặc” &lt;/i&gt;tức&lt;i&gt; &quot;mặt đực”&lt;/i&gt; chỉ bọn người làm việc trái đạo lý này là những người không biết phải trái, cứ thấy lợi là làm. Thế cho nên, dân phải đồng lòng mà ký đơn đi kiện&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt; mso-ansi-language: VI; mso-bidi-font-size: 13.5pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
1.Ông Trịnh Bốn, sinh năm 1931, người làng Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, kể.&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;h3 style=&quot;text-align: left;&quot;&gt;
&lt;strong&gt;Tập sách &quot;Chuyện xưa Đất Quảng&quot; của tác giả Phạm Hữu Đăng Đạt sắp ra mắt. Mời các bạn đón xem!&lt;/strong&gt;&lt;/h3&gt;
&lt;div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgJbrA87tiQufKiwpZkk0rYqAIRI_CHHwqw1wXhYHiZ4LF2L0bPQF1yRS2v8YFJvo2z1_U7laGgb3yPqiKjeSA6fJC16FjeIrW4mHCZuOZ5c_tt7R77NDpzNPP4FYb9gxzVUGOHGmGGjqE/s1600/CXXQNOI+MAU+DO+dam.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;460&quot; qda=&quot;true&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgJbrA87tiQufKiwpZkk0rYqAIRI_CHHwqw1wXhYHiZ4LF2L0bPQF1yRS2v8YFJvo2z1_U7laGgb3yPqiKjeSA6fJC16FjeIrW4mHCZuOZ5c_tt7R77NDpzNPP4FYb9gxzVUGOHGmGGjqE/s640/CXXQNOI+MAU+DO+dam.jpg&quot; width=&quot;640&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2473214652284906971/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2473214652284906971?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2473214652284906971'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2473214652284906971'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/04/su-tich-mot-bai-ve.html' title='SỰ TÍCH MỘT BÀI VÈ'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6h4WWf8auEY4TSWM0hkrhYkBxoO1tacHJsGR1R3K3O4I0J3kkZl5lVK9k8_eCTSdWyD4O248nGgCalx248VlptXudgsg57dqDnd3yAVYuUabBtCxBGtkrbAnxhVwWNkL4MkzbkDKmtEo/s72-c/DSC01835.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-8727246387602090238</id><published>2012-04-08T17:23:00.002+07:00</published><updated>2012-04-08T17:29:54.888+07:00</updated><title type='text'>NGƯ DÂN  VẠN PHƯỜNG ĐÔNG</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Hồi nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, trên đoạn sông Vu Gia chảy qua xã Đại
Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, có một vạn chài đông đúc ghe thuyền. Đó
là vạn Phường Đông. Theo ký ức của lớp người cao tuổi lúc bấy giờ, van Phường
Đông có không dưới năm mươi gia đình nhưng làm đủ thứ nghề, từ chài lưới đến
buôn bán mắm muối, gạo chuối đến chở hàng thuê, rồi đánh bắt cá trên sông. Mỗi
gia đình mỗi nghề, sinh sống từ đời này sang đời khác…&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEigT5GkF_cP91ESUtRyDwuKJYHqDch50wezzNn5GYvtL9A4ac0YrwY7y1RqSQSw2kfqPK4QZLYI0k42LWT_lE13YfCsaQW5SqL359iaoqQSpmb630Wsr9xHd__-623kGDHKfUAbOs_mLdc/s1600/5504759668_25398d524d_b.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;266&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEigT5GkF_cP91ESUtRyDwuKJYHqDch50wezzNn5GYvtL9A4ac0YrwY7y1RqSQSw2kfqPK4QZLYI0k42LWT_lE13YfCsaQW5SqL359iaoqQSpmb630Wsr9xHd__-623kGDHKfUAbOs_mLdc/s400/5504759668_25398d524d_b.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Đánh cá ở Đà Nẵng hồi nửa đầu thế kỷ trước. Ảnh tư liệu&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Người ta không biết vạn Phường Đông xuất hiện từ bao giờ. Có lẽ là khi
mảnh đất dọc theo hai bên bờ sông Vu Gia được lưu dân Việt đến lập nghiệp, khai
phá đất đai, tạo dựng xóm thôn trù phú. Cùng với việc lập các ấp Nam, ấp Bắc…
thì chợ chiều Phường Đông ra đời, tạo điều kiện cư dân địa phương có nơi để mua
bán, trao đổi hàng hóa. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Theo ước đoán, vạn Phường Đông
xuất hiện muộn nhất cũng vào nửa đầu thế kỷ XIX. với ba tộc sinh sống là Võ,
Lê, Trần. Trong đó, tộc Trần vốn có nguồn gốc là dân vạn chài ở làng Phong Thử,
gặp mẹ ông, cũng là dân vạn chài ở Phường Đông. Thế là thương nhau rồi lấy
nhau. Sau đó, cha ông ở rể luôn... Do vậy, tộc Trần, so với nhiều tộc khác, có
thể gọi là tộc &lt;i&gt;“ngụ cư”&lt;/i&gt;. Tuy nhiên, khác với dân trên bờ, hầu như không
có sự phân biệt đối xử giữa dân chính với dân ngụ ở vạn Phường Đông&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Khác với tộc Trần, hai tộc còn lại đều lập nghiệp từ rất lâu. Đáng chú ý,
tộc Võ đầu tiên họ vào &lt;st1:place w:st=&quot;on&quot;&gt;&lt;st1:country-region w:st=&quot;on&quot;&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;,
lập nghiệp ở Quảng Ngãi và cũng là dân hành nghề sông nước. Theo truyền khẩu,
khi giặc giã nổi lên, ông tiền hiền tộc Võ của vạn Phường Đông trước kia và
làng Mỹ Hảo ngày nay mới mang gia phả mà chạy. Cũng không biết nguyên nhân vì
sao lại chạy mãi vào Mỹ Hảo, rồi &lt;i&gt;“định cư” &lt;/i&gt;ở vạn Phường Đông. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Hồi ấy, gia đình ông cđi theo đường bộ. Thời kỳ chống Mỹ, gia phả bị
cháy, mất luôn. Cho nên, hiện tộc Võ không biết từ đời ông tiền hiền tộc đến
đời ông Võ Khuê đã bao nhiêu đời. Chỉ biết, gia phả xưa, theo ông Võ Khuê, có
cả ấn của vua.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgWHl2HzXn42zniLhJEefL2EoeXwfEButZSuV6gOjIV451taprnPuTA99SabFhk3pzuiT2WXzyko6e5eX7wBAmaCfWt-SKUllF5Qmqed6vHpvPb_2mOkhvTl3lw0PTKfwp78tREBmtVQ6c/s1600/DSC02583.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;300&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgWHl2HzXn42zniLhJEefL2EoeXwfEButZSuV6gOjIV451taprnPuTA99SabFhk3pzuiT2WXzyko6e5eX7wBAmaCfWt-SKUllF5Qmqed6vHpvPb_2mOkhvTl3lw0PTKfwp78tREBmtVQ6c/s400/DSC02583.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 15px; text-align: justify;&quot;&gt;Một khúc sông Vu Gia. Ảnh Đ.Đ&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Ở vạn Phường Đông, chỉ có khoảng hơn mười gia đình sinh sống bằng nghề
đánh bắt cá. Xưa, người ta dùng lưới bằng gai. Gai trước là gai trồng, tới lứa
mới lột vỏ, đập, nhồi, làm thành từng cuộn. Mỗi cuộn nặng khoảng một lạng. Bà
con mua về, tước ra rồi đánh cho săn lại để đan thành lưới. Đan xong, bỏ vô nấu
với vôi cho &lt;i&gt;“chín”&lt;/i&gt; gai đi… Nói chung, muốn làm lưới không đơn giản, phải
qua nhiều công đoạn. Lưới gai dĩ nhiên không đẹp và chắc bằng lưới cước nhưng
ngày trước, cá nhiều nên việc đánh bắt khá dễ dàng. Những gia đình làm nghề
đánh bắt cá có hai ghe, một ghe nhỏ để hành nghề và một ghe lớn để vợ con ăn ở,
sinh hoạt hàng ngày. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Ngư dân vạn Phường Đông làm một số nghề từ nghề bủa lưới, chươm, bủa câu
đến nghề đắp. Nghề bủa lưới chỉ sử dụng trong mùa nước lụt, diễn ra vào khỏang
tháng bảy, tháng tám âm lịch hàng năm. Đây là lúc cá từ trên nguồn theo dòng
nước lụt về để trong nà dọc bờ sông Vu Gia. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Xưa, trong &lt;i&gt;“bộ nhớ”&lt;/i&gt; của các bô lão quen nghề sông nước, cá trên
sông Vu Gia nhiều vô kể. Chúng đi thành từng đàn. Lắm lúc lội xuống nà, cá đụng
&lt;i&gt;“chưn”.&lt;/i&gt; Nghe sướng lắm... Lưới có bề rộng mét năm, dài đến ba, bốn chục
mét. Người ta mạnh ai nấy bủa. Có người bủa ngang, lại có người bủa dọc. Cá
trôi mắc lưới, quẫy mạnh. Khi phát hiện, ngư dân chèo ghe đến, nhấc lên, lấy
vợt… xúc cá. Cá mùa lụt chủ yếu cá trôi. Có nhiều con nặng năm, sáu ký. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;table align=&quot;center&quot; cellpadding=&quot;0&quot; cellspacing=&quot;0&quot; class=&quot;tr-caption-container&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;&quot;&gt;&lt;tbody&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhS1bXD1AQkXqHmcdJ3j2o_q0W4QGLG09T6E1w987bqwBFxfcdwJyV1foOLEArthxXx7RTyoUBx4h-B3peZPfJJCNZGM54DDXtBeoPaeELgYfOkb8RSyuU0OqnbIm9-0Tg5iUItyQAg22A/s1600/DSC02579.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: auto; margin-right: auto;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhS1bXD1AQkXqHmcdJ3j2o_q0W4QGLG09T6E1w987bqwBFxfcdwJyV1foOLEArthxXx7RTyoUBx4h-B3peZPfJJCNZGM54DDXtBeoPaeELgYfOkb8RSyuU0OqnbIm9-0Tg5iUItyQAg22A/s400/DSC02579.jpg&quot; width=&quot;300&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;tr&gt;&lt;td class=&quot;tr-caption&quot; style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 15px; text-align: justify;&quot;&gt;Công cụ đánh bắt cá của ngư dân vạn Phường Đông. Ảnh Đ.Đ&lt;/span&gt;&amp;nbsp;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;
&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Thường, bắt cá xong, bà con phải lấy dây… xâu môi con cá rồi thả xuống
dưới nước để cá tự do bơi qua bơi lại. Khi muốn bán, chỉ cần kéo dây lên, gỡ
ra. Nhờ vậy, mỗi lần lụt, bắt cá xong, họ bán phải đôi ba ngày mới hết cá. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Trong các loại cá, cá to nhất là loại cá mà ngư dân vạn Phường Đông gọi
là cá chiên. Cá này cũng ở trên nguồn nhân mùa lụt trôi xuống. Nhưng hiếm khi
bắt được. Cá chiên dài gần mét, ngang hơn gang tay, miệng to như cá nhám. Khi
biết loại cá này mắc lưới, phải thủ thế cẩn thận. Chân đạp lưới, tay nắm hai vi
cá rồi hất nó lên ghe. Hết nghề bủa lưới đến nghề bủa câu, thường&amp;nbsp; trùng vào các tháng cuối năm. Có câu sưa và
câu dày. Câu sưa lưỡi câu to, câu dày lưỡi câu nhỏ. Nghề bủa câu chuyên bắt các
loại cá như cá lấu, cá leo, cá chạp, cá mương, cá chày… Nhưng cá bắt được nhiều
nhất là cá bống. Ở van Phường Đông thời trước người bủa câu giỏi nhất là ông
Lợi. Ông này có nhiều kinh nghiệm. Bất kỳ bủa ở đâu, ông cũng kiếm được nhiều cá
hơn người khác. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Cuối năm, bà con lại giong buồm ngược lên Thạnh Mỹ chặt một loại cây
chuyên mọc ở gành sông, chủ yếu loại cây có tên là cây &lt;i&gt;“rì nính”&lt;/i&gt;. Chặt
xong, bó lại, phơi thật khô rồi chở về. Nói thì dễ nhưng thực tế rất nhọc công,
phải chịu khó đi lùng. Chỗ này không có thì chuyển sang tìm chỗ khác. Và, trong
quá trình chặt cây, có đôi người như ông Trần Tự, ngư dân vạn Phường Đông, cũng
tranh thủ bủa câu kiếm thêm ít cá để bán kiếm tiền mua mắm muối, gạo thóc. Cá
bắt được chủ yếu cá ngạnh, cá rói, cá chày… và đôi loại cá khác.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Nghề &lt;i&gt;“chươm”&lt;/i&gt; bắt đầu từ tháng 11 âm lịch năm trước đến tháng 6,
tháng 7 âm lịch năm sau. Khi cắm bổi xuống sông, phải có cọc giữ cẩn thận. Khi
cá vào ở, người ta mới dùng đăng, tức một tấm đan bằng tre, dài khoảng 20 thước
mộc, cao khoảng 4 thước mộc, bao lại. Xong, bà con vừa lấy bổi ra, dồn cá vào
một chỗ rồi xúc. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Cá bắt được đủ loại, từ cá lấu, cá bống, cá chày đến cá leo, cá diếc và
cả tôm. Nhưng, nhiều nhất vẫn là cá diếc. Ngoài ra, ngư dân vạn Phường Đông còn
hành nghề đắp. Nghề này chỉ làm được ở những đoạn có lạch sông, tức một đoạn
sông ăn vào trong bờ, thành &lt;i&gt;“lạch”&lt;/i&gt;. Người ta dùng đăng tấn ngay cửa
lạch, phía trong để sẵn đó, hai bên có tấn bằng đăng, làm sao để khi tấn lại,
nước đứng, cá tự đi vào đó. Cá bắt được thường là cá chạc, cá bống.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Vào nửa cuối thập kỷ 1970, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai
đoạn ác liệt, địch tăng cường bắn phá bằng máy bay. Một trong những mục tiêu
chúng thả bom là ghe, thuyền đi lại trên sông. Nhiều ghe thuyền của ngư dân vạn
Phường Đông bị máy bay bắn nát, chìm xuống đáy sông. Thế cho nên, dù không muốn
lên bờ, tình thế bắt buộc họ cũng phải lên bờ. Danh xưng van Phường Đông dần
dần mất đi. Người dân ly tán, mỗi người mỗi ngả. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Và, cũng bắt đầu từ đó, bà con dần dần chuyển đổi ngành nghề. nhất là từ
sau ngày giải phóng, khi Nhà nước cấp đất cho bà con làng vạn. Hiện nay, chỉ
còn duy nhất một trường hợp còn hành nghề đánh bắt cá. Đó là ông Trần Hựu. Hầu
hết bà con có truyền thống nhiều đời đánh bắt cá chỉ đánh bắt vào mùa lụt, khi cá
trôi từ trên nguồn về đẻ ở nà dọc bờ sông. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Nguyên nhân chính khiến h&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;VI&quot; style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;ọ&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt; không
mặn mà với nghề cũ là do nạn chích điện tràn làn khiến cả cá con cũng chết. Môi
trường bị hủy diệt. Cá đã ít, lại bị đánh bắt theo kiểu tận diệt, ai còn đủ sức
bám lấy nghề đánh bắt quá bấp bênh này? Hệ quả là nghề đánh bắt cá truyền thống
của bà con vạn Phường Đông xưa nay chỉ còn trong ký ức mà thôi…&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftn2&quot; name=&quot;_ftnref2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 10pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Trần Tự, sinh năm 1923, ngư dân vạn Phường Đông, xã Đại Phong, huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div id=&quot;ftn2&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftnref2&quot; name=&quot;_ftn2&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 10pt;&quot;&gt;[2]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Võ Khuê, sinh năm 1926 và ông Trần Tự, sinh năm 1923, cùng trú thôn Mỹ Hảo,
xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/8727246387602090238/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/8727246387602090238?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/8727246387602090238'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/8727246387602090238'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/04/ngu-dan-van-phuong-ong.html' title='NGƯ DÂN  VẠN PHƯỜNG ĐÔNG'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEigT5GkF_cP91ESUtRyDwuKJYHqDch50wezzNn5GYvtL9A4ac0YrwY7y1RqSQSw2kfqPK4QZLYI0k42LWT_lE13YfCsaQW5SqL359iaoqQSpmb630Wsr9xHd__-623kGDHKfUAbOs_mLdc/s72-c/5504759668_25398d524d_b.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3174140239933725569.post-2281689254404848603</id><published>2012-04-02T10:44:00.001+07:00</published><updated>2012-04-02T10:49:39.559+07:00</updated><title type='text'>NGHỀ LÀM XE GIÓ Ở THANH ĐƠN</title><content type='html'>&lt;div dir=&quot;ltr&quot; style=&quot;text-align: left;&quot; trbidi=&quot;on&quot;&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;i style=&quot;line-height: 17pt; text-indent: 0.5in;&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;Chuyện kể rằng mấy trăm năm
trước, khi từ đất Bắc vào đây khai canh khai cư, lập làng lập xóm, bà con các
tộc họ làng Thanh Đơn, nay thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, chủ yếu sinh sống
bằng nghề nông. Tuy nhiên, do đất ruộng ít, hầu hết đều tập trung vào tay một
số gia đình giàu có như gia đình các ông Như, ông Huyến, ông Xã Thể, ông Xã
Liễn nên đại đa số phải làm thuê, làm rẻ và làm đủ các nghề khác để kiếm miếng
cơm manh áo hàng ngày.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;&amp;nbsp;Trong những nghề khác ấy, phổ biến nhất là đi
cây. Muốn đi cây, họ phải thực dậy từ ba, bốn giờ sáng đã, ăn một bụng… thật no
rồi đùm thêm một ít cơm độn toàn khoai, sắn đem theo. Cứ thế, cả đoàn độ bảy,
tám người rủ nhau âm thầm đi xuyên bóng đêm, làm sao để trời vừa sáng thì đã
đến chân rừng, bắt đầu luồn suối, băng rừng, tìm cây mà chặt, mà hạ. Xong xuôi,
nghỉ ngơi ăn uống rồi cứ thế, vác gỗ về. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;Thế rồi, vào khoảng giữa thế kỷ XIX, có một người thợ quê gốc Quảng Ngãi
được thuê làm xe gió ngay trên khúc sông Vu Gia chảy qua xã Đại Cường. Rồi,
không biết lý do gì, ông ở luôn tại Thanh Đơn, truyền nghề cho dân làng. Từ đời
ông đến đời ông Hứa Minh, sinh năm 1923 cũng đã ba đời. Còn tính cả thế hệ con
cháu nữa thì cũng lên đến năm, sáu đời. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;Như vậy, nghề làm xe gió ở Thanh Đơn hình thành cách nay khoảng 150 năm
trong lịch sử. Thời gian đầu, còn &lt;i&gt;“lạ nước lạ cái”&lt;/i&gt;, trong làng chỉ có
đôi người theo nghề làm xe gió. Khi họ làm được, gây chút ít tiếng tăm, thoát
khỏi cảnh ngày ngày phải trèo đèo lội suối, sợ cọp rừng, ngại thú dữ rập rình…
thì số người tình nguyện gia nhập đội quân &lt;i&gt;“xe gió”&lt;/i&gt; mỗi lúc một đông
thêm. Tính đến đầu thế kỷ XX, đã có hàng chục thợ làm xe gió. &lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;Thường thường, trong nghề làm xe gió, phải có một ông chuyên nhận thầu,
gọi là ông Thủ mực&lt;sup&gt;13&lt;/sup&gt;. Khi ai đến đặt vấn đề, ông Thủ mực sẽ tính
toán tiền công một cách rõ ràng, rồi ra giá. Nếu đối tác đồng ý, ông sẽ tập
trung thợ lại, phổ biến kế hoạch để bắt tay vào làm. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: .0001pt; margin: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;Tại Thanh Đơn, cũng trong
khoảng thời gian ấy, trong làng có ba ông Thủ mực. Đó là các ông Hương Lưỡng,
ông Hương Thu và ông Hương Nhứt. Nhiều công trình xe gió được thợ Thanh Đơn thi
công và hoàn thành như các công trình xe gió ở Hà Nha, Phước Yên, Bồ Khoan, Tân
Đợi, Phúc Hương. Đó là những công trình nằm trên địa bàn huyện, chưa kể nhiều
công trình khác ở các huyện chung quanh. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: -0.2pt;&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhupcVCKOwoU6zItcPylEMSx-D_VOcYHXmDcwDZuRqvfO2rPvPhkQC2OHxvDhxfkpTlUo8-poo1B1537ZjizEHG1usfCYjifDgKKXjbOZCXLfarQH6Jn-nnI4sEW3HcDCMDbRiNtd3LGpM/s1600/18351435.jpg&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;295&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhupcVCKOwoU6zItcPylEMSx-D_VOcYHXmDcwDZuRqvfO2rPvPhkQC2OHxvDhxfkpTlUo8-poo1B1537ZjizEHG1usfCYjifDgKKXjbOZCXLfarQH6Jn-nnI4sEW3HcDCMDbRiNtd3LGpM/s400/18351435.jpg&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;margin-bottom: 6.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;span style=&quot;font-size: 11pt;&quot;&gt;Xe gió hay còn gọi là xe
nước xưa. Ảnh tư liệu.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Khoảng nửa đầu thế kỷ XX
trở về trước, cũng như nhiều địa phương khác, khi các vùng nông thôn chưa có
máy bơm thì ở Quảng Nam, chuyện sử dụng xe gió để lấy nước tưới các cánh đồng
trong mùa khô hạn là một giải pháp hợp lý được nhiều nơi áp dụng. Theo tính
toán, để tưới 100 mẫu lúa, xe gió phải có 10 &lt;i&gt;“bánh”&lt;/i&gt;. Bình quân, mỗi &lt;i&gt;“bánh”&lt;/i&gt;
có thể tưới được 10 mẫu. Mỗi người có thể nhận nửa bánh, một bánh hoặc hai
bánh, tuỳ theo khả năng &amp;nbsp;của &amp;nbsp;mình. Cứ &amp;nbsp;nhận &amp;nbsp;nhiều
thì trả tiền nhiều. Bấy giờ, xe gió thường bắt đầu chạy vào tháng 2 âm lịch và
đến khoảng tháng bảy, tháng tám âm thì tháo ra, nghỉ. Đây cũng là thời điểm bắt
đầu mùa mưa, không thiếu nước. Hơn nữa, cũng là mùa lụt lội. Nếu cứ để nguyên,
khi xảy ra lũ lụt, dòng nước chảy quá mạnh có khả năng sẽ phá hỏng xe gió.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 17.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Những người bỏ tiền ra thuê thợ làm xe gió họp lại bầu ra ban quản trị,
chịu trách nhiệm lo việc trông nom xe gió, đắp kênh mương để dẫn nước vào đồng
ruộng và… thu thuế nước. Thuế bấy giờ được tính bằng lúa. Cứ quy ra, một mẫu
một mùa là bao nhiêu, khi thu hoạch phải trả đủ. Khi thu hoạch, mấy anh bỏ tiền
ra làm xe gió cứ canh lấy đủ lúa. Tất cả đều được đổ vào một nơi quy định. Rồi,
họ có thể đạp chung rồi chia, theo phần đóng góp của mỗi người. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgYbYI9fiiUFBlCrHaRgUsPmpvKAuq_DVbnKjzpx02DUTbhFgllCCyHcdqwJkyFfU6yFrhUjmFpFaH5LGfP7l2-F8UfUzC8Ubk4THFZxsy8zMZj80m5V-Mcxjkad7lYMNFMZArffjxlqw4/s1600/DSC03609.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;640&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgYbYI9fiiUFBlCrHaRgUsPmpvKAuq_DVbnKjzpx02DUTbhFgllCCyHcdqwJkyFfU6yFrhUjmFpFaH5LGfP7l2-F8UfUzC8Ubk4THFZxsy8zMZj80m5V-Mcxjkad7lYMNFMZArffjxlqw4/s640/DSC03609.JPG&quot; width=&quot;480&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;letter-spacing: 0.2pt; line-height: 17pt; text-align: justify; text-indent: 27pt;&quot;&gt;Bờ xe gió hiếm hoi còn sót lại ở Đại Lộc. Ảnh Đ.Đ&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Cũng lắm khi chia theo gánh. Phần ai gánh phần người nấy, về nhà mới đạp
ra. Với những người thợ làng Thanh Đơn, sau khi hoàn thành xe gió, thường được
ban quản trị thuê túc trực sửa chữa khi hư hỏng, trục trặc trong quá trình vân
hành xe gió. Tiền thuê được tính bằng lúa. Cứ mỗi mùa quy định bao nhiêu, khi
thu lúa, ban quản trị có bổn phận trả cho thợ đầy đủ.&lt;/span&gt;&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Vào những năm thập kỷ 1960, 1970, trên các dòng sông Vu Gia, người ta bắt
đầu dùng máy bơm bơm nước thay cho xe gió. Hễ máy bơm được lắp đặt đến đầu thì
xe gió biến mất đến đó. Rõ ràng, máy bơm tiện lợi hơn xe gió nhiều mặt. Thế cho
nên, thay vì làm xe gió, tiện lợi nhất là… mua một chiếc máy bơm, vừa gọn nhẹ,
vừa hiệu quả gấp nhiều lần xe gió. Cho nên, chiếc xe gió cuối cùng mà người thợ
làm xe gió Thanh Đơn thi công là chiếc xe gió Phúc Hương được làm ngay sau ngày
giải phóng, cũng trên mảnh đất Đại Cường. Phụ trách thi công lúc bấy giờ là ông
Thê. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;line-height: 16.0pt; margin-bottom: 12.0pt; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; mso-line-height-rule: exactly; text-align: justify; text-indent: .5in;&quot;&gt;
&lt;span style=&quot;font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;Và, sau hàng chục năm vắng bóng, khách đi trên tuyến đường sông Vu Gia
qua Đại Cường vào thời kỳ ấy không mấy ai không mục kích chiếc xe gió này. Nhờ
nó mà hàng trăm mẫu đất quanh đó được tưới nước đều đặn, góp phần không nhỏ
chống hạn hán, tăng năng suất cây lúa lúc bấy giờ. Kể từ khi chiếc xe gió Phúc
Hương bị dẹp bỏ, nghề làm xe gió Thanh Đơn cũng thật sự cáo chung. Hình ảnh
những chiếc xe gió to đùng trên những dòng sông xứ Quảng giờ chỉ còn là kỷ niệm
trong tâm trí của lớp ngưòi cao tuổi mà thôi&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftn1&quot; name=&quot;_ftnref1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 13pt; letter-spacing: 0.2pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;hr align=&quot;left&quot; size=&quot;1&quot; width=&quot;33%&quot; /&gt;
&lt;div id=&quot;ftn1&quot;&gt;
&lt;div class=&quot;MsoFootnoteText&quot; style=&quot;text-align: justify;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;file:///D:/BON%20CAM%20XOA/2010/LICH%20SU%202011/sachNguyenKimHuy0913405405/CXDQ.%20TAP1.%2025.3.2012.doc#_ftnref1&quot; name=&quot;_ftn1&quot; title=&quot;&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span class=&quot;MsoFootnoteReference&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: &#39;Times New Roman&#39;, serif; font-size: 10pt;&quot;&gt;[1]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;
Ông Hứa Minh, sinh năm 1923, làng Thanh Đơn, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh
Quảng Nam, kể.&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/feeds/2281689254404848603/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment/fullpage/post/3174140239933725569/2281689254404848603?isPopup=true' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2281689254404848603'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3174140239933725569/posts/default/2281689254404848603'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://huongvixuquang.blogspot.com/2012/04/nghe-lam-xe-gio-o-thanh-on.html' title='NGHỀ LÀM XE GIÓ Ở THANH ĐƠN'/><author><name>Unknown</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='https://img1.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhupcVCKOwoU6zItcPylEMSx-D_VOcYHXmDcwDZuRqvfO2rPvPhkQC2OHxvDhxfkpTlUo8-poo1B1537ZjizEHG1usfCYjifDgKKXjbOZCXLfarQH6Jn-nnI4sEW3HcDCMDbRiNtd3LGpM/s72-c/18351435.jpg" height="72" width="72"/><thr:total>0</thr:total></entry></feed>