<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<?xml-stylesheet type="text/xsl" media="screen" href="/~d/styles/rss1full.xsl"?><?xml-stylesheet type="text/css" media="screen" href="http://feeds.feedburner.com/~d/styles/itemcontent.css"?><rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:syn="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/" xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:feedburner="http://rssnamespace.org/feedburner/ext/1.0">




    



<channel rdf:about="http://www.diendan.org/index_html/RSS_fulltext">
  <title>Diễn Đàn - Các bài mới</title>
  <link>http://www.diendan.org</link>
  
  <description>
    
       
       
  </description>
  
  
  
            <syn:updatePeriod>daily</syn:updatePeriod>
            <syn:updateFrequency>1</syn:updateFrequency>
            <syn:updateBase>2006-09-01T13:16:06Z</syn:updateBase>
        
  
  <image rdf:resource="http://www.diendan.org/logo.jpg" />

  <items>
    <rdf:Seq>
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/muon-hay-khong-muon" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/sang-tac/chiec-den-lo-thut" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/mua-tet-nho-lai-nhung-con-111uong" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/sang-tac/mien-hu-ao/phap-su-blog-ch-11" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/vu-tien-lang-truoc-ngay-thu-tuong-ra-quan" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/dich-thuat/wislawa-szymborska" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/tu-su-kien-tien-lang-nho-lai-va-suy-ngam" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/gia-dinh-co-so-3" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ve-mot-111oan-van-trong-thuong-hang-bieu-cua-mac-111ang-dung" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/trau-nguoi" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/bao-cao-ve-vu-noi-day-o-thai-binh" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/sang-tac/mien-hu-ao/soi-blog" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/thay-loi-chuc-tet" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/ngo-bao-chau-va-du-luan" />
        
        
            <rdf:li rdf:resource="http://www.diendan.org/viet-nam/ve-mot-bai-viet-cua-nha-van-pham-thi-hoai" />
        
    </rdf:Seq>
  </items>

<atom10:link xmlns:atom10="http://www.w3.org/2005/Atom" rel="self" type="application/rdf+xml" href="http://feeds.feedburner.com/diendan_fulltext" /><feedburner:info uri="diendan_fulltext" /><atom10:link xmlns:atom10="http://www.w3.org/2005/Atom" rel="hub" href="http://pubsubhubbub.appspot.com/" /></channel>


    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/muon-hay-khong-muon">
        <title>Muốn hay không muốn</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/1PXqWgFDg7s/muon-hay-khong-muon</link>
        <description>Một nghịch lý khác mà giới trí thức ở các nước phát triển rất khó có thể hình dung, nhưng đang là thực tế của xã hội chúng ta: giới lao động trí óc ở Việt Nam không những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị / tự bần cùng hóa cả về đời sống tinh thần</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br><br>
<h1 style="text-align: center;"><big><big><b>Muốn
hay không muốn </b></big></big></h1>
&nbsp; <br>
<h3 style="text-align: center;"><big>Nguyễn Thị Từ
Huy </big></h3>
<br>
<br>
<div
 style="float: right; width: 300px; margin-bottom: 20px; margin-left: 40px; margin-top: 10px;"><img
 style="width: 300px;" alt="TuHuy" src="tuhuy.jpg"><br>
</div>
<p align="justify">Ở Việt Nam hiện nay, ta thấy không chỉ
có nông dân bị bần cùng
hóa bởi chính sách ruộng đất bất hợp lý và bởi chế độ cưỡng chế đất đai
bất công mà vụ Đoàn Văn Vươn là một ví dụ nổi bật, đang là mối quan tâm
chung của dư luận ở thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới này.
Cũng không chỉ có công nhân bị bần cùng hóa. Mà cả giới lao động trí óc
cũng bị bần cùng hóa. </p>
<p align="justify">Trong khi mà trong xã hội hiện
thời có những nghề cho phép một
số người lao động hưởng lương
lên đến cả trăm triệu đồng
một tháng, thì lương khởi điểm
của giáo viên nói chung chưa đến
hai triệu, lương khởi điểm của
giảng viên đại học trên hai triệu
một chút. Lương của các nghiên
cứu viên ở các viện nghiên cứu
còn thấp hơn, vì dù sao ngạch
giảng dạy còn được cộng thêm
một số phần trăm đứng lớp.
Với giá cả hiện tại, mức lương
đó không thể đảm bảo cho các
sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của
những người lao động trí óc,
nhất là ở các thành phố lớn.
Một chế độ lương như vậy
là một chế độ lương mang tính
chất bần cùng hóa. Người lao
động trí óc bị bần cùng
hóa và bị đẩy đến chỗ
không còn có thể nghĩ gì khác
ngoài việc làm sao kiếm cho đủ
tiền để sống. Nghịch lý ở
đại học (và các trường học
nói chung) là sau khi mất nhiều năm
học hành, cố gắng để đạt
kết quả xuất sắc, người giảng
viên được giữ lại trường
giảng dạy, thì nỗi lo lắng bận
tâm của họ không phải là trau
dồi kiến thức, phát triển năng
lực chuyên môn, mà là làm gì
để sống. Vậy đấy, đi làm
rồi, có được một nghề rồi,
một nghề được xem là cao quý
hẳn hoi, nhưng lại phải khốn khổ
loay hoay tìm cách trả lời câu hỏi&nbsp;:
«&nbsp;làm gì để sống&nbsp;?&nbsp;»<a name="1_"></a><a
 href="#1">[1]</a></p>
<p align="justify">Điều
nguy hại đáng nói ở đây
là&nbsp;: người lao động trí óc
bị bần cùng hóa bởi chế độ
lương phải lao vào các hoạt động
kiếm sống, và sau một thời gian thì
họ khó có thể giữ được
các hoạt động trí óc, mặc
dù lao động của họ vẫn được
xếp vào loại lao động trí óc,
ví dụ như nghề nghiên cứu hay đi
dạy. Thực tế cho thấy là có một
số giảng viên ở bậc đại học
đi dạy rất nhiều nhưng để nói
là họ có hoạt động trí óc
thì rất khó, bằng chứng là họ
không có công bố hoặc nếu có
thì đó là những bài viết
mà chất lượng khoa học thấp, ít
hàm lượng tri thức và phát
kiến, ít hàm lượng tư duy. Bài
giảng của họ chỉ là tổng hợp
lại kiến thức của người khác,
đã thế nhưng kiến thức cũng
không được thường xuyên cập
nhật, bài giảng của họ có thể
được soạn một lần để
giảng trong nhiều năm và giảng ở
nhiều nơi. </p>
<p align="justify">Một
nghịch lý khác mà giới trí
thức ở các nước phát triển
rất khó có thể hình dung, nhưng
đang là thực tế của xã hội
chúng ta: giới lao động trí óc
ở Việt Nam không những bị bần
cùng hóa về đời sống vật
chất, mà còn bị / tự bần cùng
hóa cả về đời sống tinh thần.
Hiện tượng này đang thành ra phổ
biến&nbsp;: những người, về nguyên
tắc, phải làm việc với sách vở
lại rất ít đọc sách, không
quan tâm đến các vấn đề xã
hội. Họ tự phủ nhận vai trò và
trách nhiệm xã hội của họ.
Không hiếm những lời phàn nàn
kiểu như&nbsp;: giới văn chương gặp
nhau không nói chuyện văn chương,
mà nói chuyện bất động sản,
đất đai, nhà cửa, ô tô. </p>
<p align="justify">Mặt
khác đa số tự nguyện tuân theo
những quy định thành văn và bất
thành văn về cách thức tư duy,
đường hướng tư duy, hệ quả
tất yếu là sự nghèo nàn trong
nội dung tư duy, và hệ lụy thê
thảm nhất là không ít người
có nguy cơ đánh mất khả năng
tư duy và thói quen tư duy, dẫn đến
việc mất khả năng phân tích, mất
khả năng tự quyết định, chỉ
còn biết chấp nhận và chờ đợi
những quyết định từ trên xuống,
dù những quyết định đó sai
hay đúng, dù chúng có tác hại
như thế nào chăng nữa. Thậm chí
có những người còn rất trẻ
cũng đã tỏ ra không biết làm
gì nếu không được định
hướng. Trong khi đó, hoạt động
trí óc, về thực chất, là một
hoạt động mang tính tự do&nbsp;; và
không có gì có thể tước
đoạt được thứ tự do đó.
Đối với tư duy tất cả đều
được phép. Người ta có thể
bị tước đoạt tự do công bố,
tự do phát ngôn và trình bày
công khai&nbsp;; nhưng tự do tư duy thì
không gì có thể động đến
được. Do đó có thể nói
rằng đa số thuộc giới lao động
trí óc ở ta <i>tự nguyện</i> tuân
theo các định hướng suy nghĩ từ
bên ngoài, hoặc khép mình vào
những giới hạn do tự mình đặt
ra, và hình dung rằng giới hạn đó
trùng với những gì được
phép, không lấn sang khu vực của những
gì không được phép.&nbsp;Tuy
nhiên thực tế cho thấy, sự tự
giới hạn này phản ánh một nỗi
lo sợ nhiều khi thiếu căn cứ, bởi
vì những gì «&nbsp;không được
phép&nbsp;» đối với người
này lại là «&nbsp;được
phép&nbsp;» (đúng hơn là «&nbsp;tự
cho phép&nbsp;») đối với người
kia.&nbsp;Cái vòng kim cô, do vậy, không
phải chỉ là sự áp đặt từ
bên ngoài, mà nó còn có tính
nội sinh. Giới lao động trí óc
tự tạo ra cái vòng đó và
để nó xiết chặt từ bên
trong vỏ não. Sự tự nguyện này,
xét kỹ, không gì khác hơn là
hệ quả của sự bần cùng hóa
tinh thần. Nếu như một bộ phận lớn
thuộc giới lao động trí óc Việt
Nam được gọi là «&nbsp;trí
thức trùm chăn&nbsp;» thì đó
chính là hậu quả của sự (tự)
bần cùng hóa về phương diện
tinh thần này. Bởi lẽ giờ đây,
khi các thói quen và quán tính đã
được thiết lập một cách vững
chắc, nếu họ có hất cái chăn
đi, thì việc trình bày ý kiến
cũng hoàn toàn không đơn giản
và không dễ dàng. Thử giả định
rằng họ được chuyển sang sống
ở các nước dân chủ và họ
có toàn quyền phát ngôn về mọi
chuyện mà không có bất kỳ một
đe dọa nào hay một áp lực nào,
thì liệu họ có thể tham gia phản
biện như các trí thức ở các
nước sở tại không&nbsp;? </p>
<p align="justify">Sự
bần cùng hóa tinh thần là một
trong những nguyên nhân khiến giới lao
động trí óc ở đây đánh
mất sức mạnh, đánh mất khả
năng phân biệt đúng sai, phải
trái, và khiến họ có thể vi
phạm các chuẩn mực đạo đức
mà vẫn cảm thấy yên ổn lương
tâm. Họ tìm sự yên ổn bằng
cách sử dụng các lý lẽ mang
tính&nbsp;ngụy biện để bào chữa
hoặc hợp pháp hóa cho sự vi phạm
đạo đức hay sự vi phạm pháp
luật. Chẳng hạn giới giáo viên
có thể tự cho là chính đáng
khi nhận phong bì của học sinh và phụ
huynh. Họ lập luận rằng đấy là
để bù lại sự bất công trong
chế độ thù lao của nhà nước.
Họ đã dùng cái sai này để
sửa cái sai khác, trong khi những giải
pháp đúng đắn đã không
được lựa chọn. (Chúng tôi sẽ
còn trở lại bàn sâu
hơn về điều&nbsp;này). Họ thấy
hay không thấy rằng, giữa cái phong bì
và sự suy đồi đạo đức,
sự suy thoái trầm trọng của nền
giáo dục, có mối quan hệ khăng
khít&nbsp;? Họ thấy hay không thấy mối
liên hệ nhân quả giữa cái phong
bì và tệ nạn bằng cấp dởm,
chức danh dởm, những thứ đã và
đang đẩy chất lượng giáo dục
xuống bờ vực thẳm&nbsp;? Đơn giản
là một khi đã nhận tiền của
sinh viên thì họ không thể đánh
trượt hay dành điểm kém cho luận
văn hay luận án của sinh viên, dù
cái luận văn hay luận án ấy có
kém cỏi đến mức độ nào
chăng nữa. Họ thấy hay không thấy
rằng khi quyết định trao bằng thạc
sĩ hay tiến sĩ cho một người không
có năng lực tương xứng với
học vị đó, thì họ đã
gián tiếp đẩy bao nhiêu thế hệ
học sinh vào nguy cơ bị ngu hóa, bị
bần cùng hóa về mặt trí tuệ&nbsp;?
Vấn đề không chỉ là việc
cho ra đời một tiến sĩ dỏm, mà
cùng với tiến sĩ dỏm đó là
hàng loạt thế hệ thanh thiếu niên
phải gánh chịu hậu quả. Rồi
những người thầy kém sẽ tạo
ra các thế hệ những người thầy
kém tiếp theo, cứ như vậy mà kéo
dài tình trạng suy thoái.<a name="2_"></a><a
 href="#2">[2]</a>
Vậy những người làm giáo dục
muốn đẩy trách nhiệm ấy cho ai&nbsp;?
</p>
<p align="justify">Vấn
đề đối với giới lao động
trí óc không hẳn chỉ là hợp
tác hay bất hợp tác. Voltaire từng bị
triều đình bỏ tù vài lần,
nhưng rồi sau đó cũng có lúc
ông hợp tác với triều đình
Versailles và triều đình của Friedrich
II, rồi lại bất hợp tác. Goethe từng
giữ nhiều chức vụ trong các triều
đình của Đức thời bấy giờ.
Hugo từng thực sự mong muốn tham gia triều
chính, muốn có ảnh hưởng để
thực hiện các ý tưởng của
mình. Ông trở thành người tin
cẩn của Louis-Philippe năm 1844, và sau đó
làm Nguyên lão nghị viên. Rồi
tự lưu đày, từ chối trở về
nước Pháp khi mà ông chưa thấy
đất nước này có tự do. Dù
ở thời kỳ nào trong đời họ,
dù họ lựa chọn thái độ
nào, hợp tác hay bất hợp tác,
thì đó cũng là những nhân
cách lớn, những trí tuệ lớn và
những bản lĩnh văn hóa đáng
nể trọng. Họ biết rõ họ làm
việc vì ai, vì cái gì. Nhân
loại đã được hưởng lợi
rất nhiều từ sản phẩm của lao
động trí óc của họ</p>
<p align="justify">Sự
(tự) bần cùng hóa về tinh thần,
về đời sống trí tuệ đã
khiến cho đa phần giới lao động trí
óc Việt Nam hiện nay mất dần các
phẩm chất tư duy, mất cả năng lực
làm việc trong lĩnh vực chuyên môn
hẹp của mình, mất luôn cả bản
lĩnh văn hóa, cả ý thức về
sự đúng sai, cả phẩm chất đạo
đức công dân. Tự giữ cho mình
trong sạch, chuẩn mực còn khó, nói
chi đến chuyện dám đứng lên
bảo vệ công lý, bảo vệ nhân
tính&nbsp;! Do vậy mà thuật ngữ «&nbsp;trí
thức trùm chăn&nbsp;» cũng chưa hẳn
đã xác đáng. Bởi lẽ trí
thức trùm chăn dù thơ ơ với
thế sự thì ít ra cũng còn giữ
được căn cốt của người
trí thức.</p>
<p align="justify">Vấn
đề quan trọng đặt ra cho giới lao
động trí óc Việt Nam hiện nay là
<b>làm thế nào</b> để thoát ra
khỏi tình trạng bần cùng hóa
cả về vật chất lẫn tinh thần.
(Nếu nhìn vào các dấu hiệu của
tài sản thì có vẻ như một
số người thuộc giới lao động
trí óc đã thoát khỏi sự
bần cùng hóa về vật chất, nhưng
nghịch lý là ở chỗ&nbsp;: phương
thức mà phần lớn trong số đó
sử dụng để thoát nghèo lại
góp phần thúc đẩy quá trình
bần cùng hóa về tinh thần ở họ.
&nbsp;Điều này sẽ được đề
cập vào một dịp khác.)</p>
<p align="justify">Nhưng
có lẽ vấn đề còn quan trọng
hơn là làm thế nào để, nếu
không phải toàn bộ thì cũng là
phần lớn, giới lao động trí óc
của chúng ta <b>mong muốn</b> thoát
khỏi tình trạng bần cùng hóa
ấy, nhất là thoát khỏi sự bần
cùng hóa về tinh thần. Để tránh
sa vào duy ý chí, cần nói rõ
hơn rằng, dù «&nbsp;Muốn&nbsp;»
chưa phải là điều kiện đủ,
thì đó cũng là điều kiện
cần. Hiện nay còn quá ít những
người có mong muốn này. Một khi
còn chưa có sự mong muốn, khi mà
tình trạng chung là chấp nhận, chịu
đựng và thỏa hiệp, thì việc
đặt câu hỏi «&nbsp;làm thế
nào&nbsp;» chỉ là một thứ xa xỉ
phẩm mà thôi. Mong muốn là điểm
khởi đầu giúp ta nhận ra rằng
thực ra trong mỗi người đều có
một nguồn năng lượng rất lớn.
Cần phải để cho nguồn năng lượng
đó được giải phóng để
biến thành sức mạnh&nbsp;; giải phóng
khỏi nỗi sợ hãi, khỏi những định
kiến, khỏi sự ràng buộc và hạn
hẹp trong nhận thức. Mong muốn là điểm
khởi đầu &nbsp;giúp ta có thể đi
tới chỗ đồng ý với John Stuart
Mill rằng&nbsp;: «&nbsp;…nguồn gốc của
mọi thứ đáng trọng trong con người
như một thực thể có trí tuệ
cũng như một thực thể có đạo
đức, đó là phẩm chất sửa
lại sai lầm của mình&nbsp;»<a name="3_"></a><a
 href="#3">[3]</a>,
và càng đồng ý với ông
hơn về nhận định&nbsp;: «&nbsp;Con
người có khả năng sửa chữa
sai lầm của mình bằng thảo luận
và trải nghiệm. Không phải chỉ
có bằng trải nghiệm không thôi.
Phải có thảo luận để biết
trải nghiệm cần được suy đoán
ra sao.&nbsp;»<a name="4_"></a><a href="#4">[4]</a>
</p>
<p align="justify">Chỉ
khi nào giới lao động trí óc có
mong muốn thoát khỏi tình trạng bần
cùng hóa này thì lúc đó
họ mới nghĩ đến việc tìm
giải pháp, tìm cách làm thế
nào, khi đó họ mới có cơ
may tìm lại được các giá
trị của lao động trí óc. Bởi
vì sự mong muốn sẽ kích hoạt
trí não, sẽ khiến cho trí óc
hoạt động, và sự hoạt động
của trí óc là cách duy nhất
giúp người ta tìm ra giải pháp
tích cực nhất trong hoàn cảnh của
mình. Như câu ngạn ngữ của người
Pháp&nbsp;: «&nbsp;vouloir c’est pouvoir&nbsp;»<a
 name="5_"></a><a href="#5">[5]</a>,
hoặc như Đam San của Tây Nguyên&nbsp;:
«&nbsp;Ta sẽ đi tới nơi ta muốn&nbsp;».</p>
<p align="justify">&nbsp; &nbsp;</p>
<p align="right">Vinh,
ngày 24/1/2012</p>
<h3 align="right">Nguyễn Thị
Từ Huy</h3>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<p align="justify">Nguồn: <a
 href="http://vanhoanghean.vn/van-hoa-va-doi-song/cuoc-song-quanh-ta/4021-muon-hay-khong-muon.html">Văn
hoá Nghệ An</a> ngày 9/2/2012</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<div id="ftn1" dir="ltr">
<p align="justify"><a name="1"></a><a
 href="#1_">[1]</a> Vì muốn tập trung vào chủ đề
chính của bài viết, chúng tôi sẽ không đề cập đến một hiện tượng, đó là
một số người thuộc giới lao động trí óc ở Việt Nam, bất chấp sự khắc
nghiệt của hoàn cảnh, đã không ngừng nỗ lực làm việc. Đến mức mà, có lẽ
các đồng nghiệp nước ngoài của họ cũng khó có thể hiểu được họ lấy đâu
ra sức lực để có thể làm việc như thế trong một điều kiện tồi tệ như
thế. </p>
</div>
<div id="ftn2" dir="ltr">
<p align="justify"><a name="2"></a><a
 href="#2_">[2]</a> Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ
mà người viết bài này từng chứng kiến khi còn ở Pháp&nbsp;: một
sinh viên bậc master (tương đương với thạc sĩ ở Việt Nam) có cơ hội
nhận học bổng làm tiến sĩ, nhưng cô ấy không nhận, và giải thích rằng,
cô ấy tự thấy không có thiên hướng và không đủ khả năng làm nghiên cứu,
vì thế cô ấy nghĩ rằng nên để suất học bổng đó cho người nào thực sự có
năng lực và say mê nghiên cứu. Cô ấy sẽ tìm một việc phù hợp với trình
độ và sở thích của mình. Trong ví dụ này ta thấy rõ những gì mà nền
giáo dục Pháp đã đạt tới trong việc giáo dục con người. Những gì được
Rousseau nói tới từ thế kỷ XVIII&nbsp;: «&nbsp;Con người thực
sự tự do chỉ muốn điều gì anh ta có thể, và làm điều gì anh ta
thích&nbsp;» (<i>Emile hay là về giáo dục, </i>bản
dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, NXB Tri Thức, 2008,
tr. 95)</p>
</div>
<div id="ftn3" dir="ltr">
<p align="justify"><a name="3"></a><a
 href="#3_">[3]</a> John Stuart Mill, <i>Bàn
về tự do,</i> bản dịch tiếng Việt của&nbsp;Nguyễn Văn Trọng,
NXB Tri Thức, 2005, tr. 56&nbsp;.</p>
</div>
<div id="ftn4" dir="ltr">
<p align="justify"><a name="4"></a><a
 href="#4_">[4]</a> Như trên, tr. 56</p>
</div>
<div id="ftn5" dir="ltr">
<p align="justify"><a name="5"></a><a
 href="#5_">[5]</a> Muốn là có thể thực hiện được.</p>
</div>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/1PXqWgFDg7s" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Nguyễn Thị Từ Huy</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-09T17:38:20Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/muon-hay-khong-muon</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/sang-tac/chiec-den-lo-thut">
        <title>Chiếc đèn ló thụt</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/VCgn4WNI7Ak/chiec-den-lo-thut</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<br>
<h1 style="font-weight: bold; text-align: center;"><big><big>
Chiếc đèn
ló thụt</big></big><br>
</h1>
<br>
<h3 style="text-align: center;"><big><big>
Nguyễn thị
Kim Thoa</big></big></h3>
<br>
<br>
<p align="justify">
Giữa tháng
tư năm 1975 gia đình tôi từ Đà
Nẵng trở lại Huế sau chuyến di tản
dài gần hai tháng. Chúng tôi thở
phào vì nhà cửa vẫn y nguyên
không sụp đổ do bom đạn, cũng
không bị đập phá bởi những
người tạm cư khi chúng tôi vắng
mặt. Trên đại thể, biến cố
1975 không để lại những hậu quả
nặng nề của biến cố 1968 như tuyên
truyền của chính quyền Việt Nam Cộng
Hòa và Mỹ, cũng không theo như dự
kiến của chúng tôi. Anh cả tôi
NĐH - đại úy quân y, đi học
tập cải tạo 06 tháng, được
về nhà sớm hơn những người
cùng cảnh ngộ. Anh rể tôi PVT trung úy
bộ binh bị mất tích trong cơn tháo
chạy tán loạn. Chị gái lớn của
tôi NTKH, người của Mặt trận trong
phong trào đô thị ở Đà Lạt,
bị chết do tai nạn giao thông trong một
chuyến về thăm ông anh cả đang cải
tạo ở Cồn Tiên. Như thế biến
cố 1975 đã để lại cho gia đình
tôi một tổn thất, một nỗi đau
lớn. Nhưng mẹ tôi, như một gà
mẹ xòe đôi cánh khẳng khiu che
chở cho đàn con còn lại, đã
trấn an chúng tôi bằng một nhận
định: Chiến tranh kéo dài quá
lâu, chết chóc, thù hận, đổ
vỡ quá nhiều, kết thúc như vậy
là tốt lắm rồi. Tôi đồng ý
và chia sẻ tấm lòng của mẹ,
chúng tôi nén vào lòng nỗi
đau riêng, cố gắng hòa nhập vào
cuộc “đổi đời”. Nhưng
cái được gọi là hòa bình
và cuộc cách mạng Xã hội chủ
nghĩa long trời lở đất, từng bước
khiến chúng tôi ngỡ ngàng và
thất vọng. Những vết thương chiến
tranh chỉ được khâu vá vội
vã và tạm bợ ở lớp da bên
ngoài. Những cắt xé, rách vỡ ở
lớp bì mô bên dưới, những
ung thối ở lục phủ ngũ tạng vẫn
còn y nguyên và cuộc đấu tranh
giai cấp không khoan nhượng đã làm
tăng thêm những vết thương mới.</p>
<p align="justify">
Tôi trở
lại trường y nơi mà thầy trò,
bạn bè đã thân quen sáu năm
tròn nay trở nên e dè, thận trọng,
chẳng có nụ cười trọn vẹn
của niềm vui tái ngộ, chỉ có
những lời chào hỏi chiếu lệ,
những cái bắt tay hững hờ, những
ánh mắt thăm dò, tra vấn, ái
ngại. Đất nước đã thống
nhất, nhưng lòng người thì tiếp
tục cắt chia. Nhiều người thu mình
lại trong các vỏ bọc tưởng rằng
đã kiên cố. Nhiều người khác
kín đáo bày tỏ nhiều thất
vọng quá sớm chỉ sau mấy ngày
vồ vập đón mừng cuộc trùng
phùng mong ước chờ đợi suốt
hai chục năm với người ruột thịt.
Những người khác nữa, hăm hở,
xông xáo bày tỏ quan điểm lập
trường và quyền lực cách mạng
một cách quá đáng và bệnh
hoạn – một thứ quyền lực được
ban phát từ một đấng nào đó,
được quơ cào, nắm bắt nóng
vội và cơ hội.</p>
<p align="justify">
Chúng tôi
ngày hai buổi bị đẩy vào hai nơi
chẳng một ai muốn đến. Buổi sáng
đi bệnh viện và buổi chiều đến
giảng đường để học tập
chính trị.</p>
<p align="justify">
Ở bệnh
viện, ngoại trừ một vài buổi may
mắn gặp được các đại sư
cỡ Tôn Thất Tùng vừa có trình
độ chuyên môn cao, sâu và rộng,
vừa có phong cách giao tiếp lịch sự
tinh tế, suốt một năm chúng tôi
bị bắt buộc phải chấp nhận những
ông thầy, những bác sĩ giả, chọn
không đúng nghề. Và như thế
chúng tôi – thầy trò của trường
y cũ và các vị ở Bắc vào
tiếp quản – đã xẩy ra hằng
ngày những chuyện trái khuấy. Những
chuyện trái khuấy đầy tính chất
bi hài đó nếu kể hết là
cả một cuốn sách dài, tôi không
có ý định kể lại ở đây.</p>
<p align="justify">
Ở giảng
đường các buổi học chính
trị thực tế là những cuộc tẩy
não tại chỗ, một cuộc trấn áp
tinh thần chúng tôi hoàn toàn không
chờ đợi. Thay vì dạy và học,
chúng tôi: Thầy và trò đã
diễn ra một tương quan đáng buồn.
Thầy thì chửi bới, ca tụng rất
thiếu căn cớ và tầm phào. Trò
thì ghi ghi chép chép, gà gà gật
gật rồi vỗ tay tán thưởng râm
ran. Giảng đường của trường
Đại học biến thành một láng
trại quân đội, đặc biệt là
trong những ngày đổi tiền.</p>
<p align="justify">
Huế những
tháng đầu của hòa bình, thống
nhất và cách mạng Xã hội chủ
nghĩa qua tiếp nhận của tôi không
những có một khoảng cách lớn
giữa ước mơ và hiện thực,
giữa lời nói và việc làm, mà
còn là một cuộc vận động
bi đát và hài hước ngoài
sức tưởng tượng trong khắp các
ngõ ngách của cuộc sống và
trong sâu thẳm của tâm hồn.</p>
<p align="justify">
PVD, một
sinh viên năm thứ tư đã nhảy
lầu tự tử vì bị sỉ nhục
bới chính người cha đi tập kết
về – Người mà mẹ con anh đã
khắc khoải trông mong chờ đợi suốt
hai mươi năm. Quần ống loe, mái tóc
dài và nói năng tự do là
nguyên nhân của tấn bi kịch. Tất
cả những thứ ấy đối với
người chính ủy đều là sản
phẩm của văn hóa đồi trụy,
là con đẻ của chủ nghĩa tư
bản và đế quốc Mỹ xâm lược.
Như thế là hai mươi năm người
mẹ đã nuôi dạy con trong lầm lạc,
người con trở nên hư đốn phản
động. Và như thế là người
chồng, người cha mà hai mẹ con đã
mong đợi mỏi mòn suốt hai mươi
năm nay đã trở về với cung cách
và lời ăn tiếng nói của một
kẻ xa lạ, một quan tòa, sản phẩm
của một phía chiến tranh. Và như
thế hòa bình đã không lập
lại, thống nhất đã không thực
hiện nơi cái gia đình bé nhỏ
tội nghiệp này.</p>
<p align="justify">
H bạn cùng
lớp với tôi, có nhà ở đường
phố THĐ, cha mẹ là một chủ tiệm
buôn không lấy gì to lớn. Cha H là
cựu kháng chiến, là người đã
đóng góp cho Mặt trận trong chiến
tranh chống Mỹ. Chiến tranh kết thúc.
Gia đình H bỗng nhiên trở thành
kẻ thù của giai cấp, bị cải tạo.
Gia đình gồm 6 người, bị đẩy
về phía sau căn phố, cửa mở ra
khu ổ chuột phía bờ hồ. Phần
chính của căn phố và tiệm buôn
bị trưng thu trưng dụng, bảng hiệu
cũ bị gỡ xuống, bảng hiệu mới
treo lên. Cửa hàng thương mãi
quốc doanh thay thế thương mãi tư
sản tư doanh. Mặt tiền đường
Trần Hưng Đạo trở nên xơ xác
tiêu điều. Tôi đến tìm H bởi
hơn hai ngày bạn không đi học. Cửa
nhà sau đóng kín bưng. Bà con
lối xóm bảo gia đình H đã
chuyển đi Sài Gòn. Sự thật chỉ
đúng một nửa. H đã vượt
biên cùng với hai người em trai. Cô
em út cùng với ba mẹ đi làm rẫy
ở Long Khánh. Tôi biết chuyện này
mấy năm về sau. Hòa bình và
thống nhất đối với gia đình
H là chuyện viễn mơ.</p>
<h3 style="text-align: center;"><big><big>*</big></big></h3>
<p align="justify">
Đây là
chuyện nhà tôi. Một ngày giáp
Tết 1975, chúng tôi có một người
khách to cao oai vệ. Ông là một vị
tướng cách mạng. Người mà
mẹ tôi vẫn thường nhắc kể
cùng chúng tôi với rất nhiều
cảm phục và quí mến. Người
mà thời niên thiếu đã cùng
chạy nhảy vui đùa với mẹ và
các cậu tôi như những người
bạn thân thiết, người mà ông
ngoại tôi đã cưu mang giúp đỡ
trong một thời gian dài để thực
hiện tình ruột thịt và cũng để
bày tỏ lòng yêu nước. Ông
tướng là anh em chú bác ruột
của mẹ tôi. Chúng tôi kêu bằng
cậu. Cậu H cái tên chúng tôi
thuộc nằm lòng bởi những câu
chuyện của mẹ tôi nói về ông
là những sự tích anh hùng. Chúng
tôi đã sung sướng lắng nghe và
hãnh diện vì mình là con cháu
của nhà cách mạng như thế. Cuộc
viếng thăm của ông đã làm
tăng thêm niềm sung sướng và hãnh
diện của chúng tôi. Nhưng rồi
chúng tôi chỉ thấy mặt ông lần
đầu và cũng là lần cuối.
Ông đã từ giã chúng tôi
vội vã vì: “mắc bận những
công vụ quan trọng” mặc dù mẹ
tôi đã khẩn khoản mời ông ở
lại ăn bữa cơm đoàn tụ. Sau
tết âm lịch Bính Thìn (1976), cậu
HĐTh em ruột ông tướng HĐH từ
Hội An ra Huế thăm chúng tôi, mẹ
tôi kể chuyện cuộc thăm viếng cập
rập của ông anh, cậu HĐTh không tế
nhị và giữ gìn gì, đã
thật thà nói với mẹ tôi: “Anh
ấy sợ chứ không phải bận công
vụ. Anh ấy thắc mắc cô làm gì
cho Mỹ - Ngụy mà ở cái nhà to
như vậy?</p>
<p align="justify">
Căn nhà
của chúng tôi đang ở đã làm
cho ông tướng cách mạng sợ là
nhà thờ tổ tiên do ông nội tôi
để lại. Nhà trệt khá to nhưng
cũ kỹ. Ba tôi là cựu kháng
chiến, đã hối tiếc suốt mấy
năm trước khi qua đời vì không
được tiếp tục chiến đấu
cho nền độc lập của nước nhà.</p>
<p align="justify">
Từ sau 1954,
mẹ tôi một mình chạy vạy để
nuôi chồng bệnh yếu và đàn
con thơ dại bữa đói bữa no. Bà
sang lại một sạp hàng bán tạp
hóa, bút chỉ văn phòng tại chợ
Đông Ba. Cậu H nhìn qua ngôi nhà
to lớn đã quá sợ nên không
kịp hỏi han cô em họ và cũng là
bạn bè thân thiết thuở thiếu
thời về tình cảnh mẹ góa con
côi sau những biến cố to lớn 1968,
1972, 1975. Đối với mẹ tôi, chiến
tranh đã kết thúc thật sự vì
con trai –
anh cả chúng tôi, đã bảo tồn
được sinh mạng cho dù phải đi
học tập cải tạo và người
anh chú bác đã trở về cho dù
tâm hồn có chuyển hóa thế nào.
Nhưng đối với riêng tôi, thái
độ và cách ứng xử của cậu
H, một “vị tướng của quân
đội nhân dân” đã góp
phần làm tôi sợ cách mạng, sợ
Xã hội chủ nghĩa. Tôi là sinh
viên Y khoa, nếu không có biến cố
1975 tôi đã là bác sĩ, tình
trạng tâm lý của vị tướng
cách mạng theo tôi là một dạng
thái tâm thần phân liệt, quá
nghi ngờ, hoang tưởng về một ám
hại của bất cứ ai không phải là
bản thân mình. Tình trạng tâm
lý bệnh hoạn này qua kinh nghiệm giao
tiếp tôi thấy diễn ra khá phổ
biến nơi những người có quyền
lực của chế độ mới. Bên gia
đình nhà chồng tôi cũng xảy
ra một trường hợp tương tự.
Ông anh chồng tôi, một sĩ quan cấp
tá và ông tướng HĐH của gia
đình bên ngoại tôi rất giống
nhau trong các nhận định về miền
Nam và cách ứng xử với bà con
ruột thịt sống trong vùng kiểm soát
của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Họ sợ cả hai chiều: Sợ liên lụy
với quần chúng sống trong lòng địch
và sợ sự soi mói phê bình của
người cùng phe. Nếu điều đó
là tàn tích của chiến tranh thì
không là vấn đề lớn. Bởi
một khi chiến tranh bị đẩy lùi
tình trạng tâm lý lệch lạc sẽ
chấm dứt với các biện pháp của
y tế. Trong trường hợp nó là kết
quả của cuộc vận động cách
mạng Xã Hội chủ nghĩa thì vấn
đề trở nên trầm trọng, bởi
nó, theo tôi là vấn đề của
văn hóa. Cách mạng Xã hội chủ
nghĩa theo những gì chúng tôi nhận
được từ các buổi học tập
chính trị là cuộc cách mạng
cuối cùng của xã hội loài
người mà lại bắt đầu bằng
sự sợ hãi và nghi ngờ không
những với đối phương mà còn
với quần chúng và nhất là với
những đồng chí của chính mình
thì đó là tình trạng rối
loạn tâm thần chứ không phải là
một cuộc cách mạng do những con người
lành mạnh cả hai phương diện trí
tuệ và tâm lý chủ trương và
tiến hành nhằm mục đích tối
hậu là phục vụ con người.</p>
<p align="justify">
Suy nghĩ như
thế những cũng chỉ với một mình,
không dám trao đổi, chia sẻ với
bất cứ ai, bởi các mối quan hệ
ngoài gia đình đã trở nên
đáng ngại.</p>
<h3 style="text-align: center;"><big><big>*<big><big></big></big></big></big></h3>
<p align="justify">
Một sự
kiện khác đáng buồn cũng đã
xẩy ra tại nhà tôi vào đầu
niên khóa 1975-1976. Một hôm từ
trường về, tôi thấy nhà có
khách, mẹ tôi đang ngồi nói
chuyện với ông tổ trưởng dân
phố và ba thanh niên có vẻ là
bộ đội. Đối với gia đình
tôi, ông tổ trưởng dân phố
là chỗ thân quen, chúng tôi biết
ông và cả gia đình ông là
người của Mặt trận từ tết
Mậu Thân. Do vậy mà dù ông xuất
hiện với ba thanh niên lạ chúng tôi
cũng chẳng lo ngại gì. Ông tổ
trưởng dân phố đề nghị mẹ
tôi cho ba thanh niên bộ đội giải
ngũ ở trọ để đi học đại
học. Nhà tôi rộng nên chúng tôi
đã chấp nhận đề nghị của
ông tổ trưởng khá dễ dàng.
Như thế căn nhà mà mấy tháng
sau ông tướng cách mạng là cậu
họ tôi đã sợ nên vội lánh
xa, bắt đầu từ đó có thêm
ba người đã từng là bộ đội
cách mạng cư trú. Nhà rộng,
vườn rộng, lòng chúng tôi cũng
không hẹp. Ba thanh niên đã quen với
khung cảnh thênh thang của núi rừng tỏ
ra vừa lòng và dễ mến trong suốt
thời gian đầu ở chung với chúng
tôi. Nhưng rồi chuyện đáng buồn
đã xảy ra, chỉ đối với riêng
tôi là trầm trọng. Đối với
những người khác trong gia đình
tôi mãi cho đến ba năm sau, khi ba anh
sinh viên tốt nghiệp, ra đi không để
lại điều gì đáng chê trách.</p>
<p align="justify">
Trước
khi kể lại câu chuyện “đối
với riêng tôi là trầm trọng”
tôi xin giới thiệu ông tổ trưởng
dân phố. Bởi theo tôi không có
ông tổ trưởng dân phố, sẽ
không có ba anh sinh viên bộ đội
cư trú trong nhà tôi. Và như thế
sẽ không có câu chuyện đối
với riêng tôi là trầm trọng một
cách đáng buồn.</p>
<p align="justify">
Ông tổ
trưởng dân phố tên là Tống Phước Thiệt, ông
là dân ngụ cư, có lẽ là
tầng lớp trên ở nông thôn. Tôi
không biết đích xác gia đình
ông đến ở Vỹ Dạ vào thời
kỳ nào. Tôi biết nhà ông xây
trên mảnh đất mua lại của phủ
Vi Dã, phủ lớn nhất và cũng suy
tàn sớm nhất ở Vĩ Dạ. Đến
thế hệ tôi phủ Vi Dã chỉ còn
lại một cái cổng có mái che đổ
nát và điêu tàn. Từ cổng
ngó vào là một con hẻm nhỏ sâu
hun hút cuối hẻm là căn nhà nhỏ
xác xơ của một người cháu
đời thứ tư hay thứ năm gì đó
của nhà quí tộc chủ nhân. Hai
bên con hẻm là những ngôi nhà
to nhỏ sang hèn khác nhau của những
người từ nông thôn lên hay từ
nơi khác đến. Ông&nbsp;Tống Phước Thiệt không ở
trong con hẻm này, ông ở trong con hẻm
bên cạnh cũng là đất của phủ
Vi Dã đã cắt bán. Nhà ông&nbsp;Thiệt sống bằng nghề đại lý mắm
ruốc đem từ các làng ven biển
lên phân phối cho các chợ nội
ngoại thành phố Huế. Suốt ngày
xe cộ tấp nập (đa phần là xích
lô, xe kéo (ở Huế còn gọi là
xe bò) ra vào nhà ông&nbsp;Thiệt. Vợ chồng
ông Thiệt có sáu người con, một
trai, năm gái. Năm người con gái
xinh đẹp, mạnh khỏe không cô nào
học hết phổ thông. Nhà có con
gái xinh đẹp lại bình dân nên
cũng tấp nập ra vào những người
trai trẻ, có cả sĩ quan quân đội
Cộng Hòa trong số ấy. Điều làm
cho bà con lối xóm bàn tán và
chê bai là lần lượt người
con trai và bốn cô gái lớn vắng
bặt trong xóm. Không có đám
cưới nào được tổ chức
chứng tỏ họ đi lấy chồng. Người
lối xóm đa phần từ nông thôn
tới nên dư luận là một sức
mạnh. Người ta hỏi thẳng vợ chồng
ông&nbsp;Thiệt rằng các con ông đã đi
đâu? Cả hai tỏ ra buồn rầu trả
lời: “<i>Thằng con trai đi
theo tụi du đãng và mấy đứa
con gái bỏ nhà trốn theo trai</i>”.
Do thái độ như vậy của vợ
chồng ông&nbsp;Thiệt đối với đám con
hư hỏng nên bà con lối xóm cũng
chỉ đàm tiếu sau lưng.</p>
<p align="justify">
Ông&nbsp;Tống Phước Thiệt là
người hòa nhã, trung hậu, quan tâm
và đối xử với bà con quanh xóm
một cách tử tế. Trong biến cố
Mậu Thân ông xuất hiện trước
đa số bà con như một ông thần
hộ mệnh. Là người của Mặt
trận (bà con gọi là Việt cộng
nằm vùng) nhưng ông lại che chở
và dẫn đường cho một số sĩ
quan cấp thấp của quân đội Cộng
Hòa quanh xóm trốn tránh bạo lực
cách mạng. Anh trai tôi - NĐH - là một
trong số đó. </p>
<p align="justify">
Đêm ba
mươi tết Mậu Thân, tiếng pháo
nổ râm ran hơn mọi năm. Chúng tôi
đang quây quần bên bàn đổ
Xăm hường, ông&nbsp;Thiệt gõ cửa vào
nói nhỏ với me tôi: “Quân giải
phóng đã về, bà cho đại úy
trốn đâu đó trong nhà, đừng
bơi qua sông, đợi cơ hội thoát
thân”.</p>
<p align="justify">
Sáng mùng
một, chừng năm sáu du kích và
ông&nbsp;Thiệt đến nhà tôi. Một du kích
nói: “<i>Nhà này có
một đại úy ngụy, ông ấy đâu
hãy mau ra đầu hàng quân Cách
mạng</i>”. Me tôi chưa kịp
trả lời, ông&nbsp;Thiệt đã chen vào:
“<i>Thằng cha đó máu
me cờ bạc, có biết gì gia đình
tết nhứt, giờ này chắc đỏ
đen sát phạt nhau bên câu lạc bộ
bọn sĩ quan rồi</i>”. Mấy
người du kích sục sạo định
bắn lên trần nhà, nhưng ông&nbsp;Thiệt đã
kịp thời cản ngăn: “<i>
Kỷ luật Mặt trận không được
làm hại nhà dân, các anh làm
thế nào để sau này tôi còn
ăn nói với bà con</i>”.
Thế là anh tôi thoát nạn. Cả
nhà thở phào nhẹ nhõm. Sáng
ngày mùng bốn Tết, ông&nbsp;Thiệt vào
nhà tôi nói: “ Quân Cách mạng
đang tập trung họp ở chợ Vỹ Dạ,
bà cho đại úy xuống và chạy
qua đập, có chúng tôi canh chừng”.
Anh tôi từ trần nhà leo xuống, không
kịp thay áo quần, cùng với mấy
sĩ quan khác trong thôn chạy qua Đập
Đá theo sự hướng dẫn của một
cô gái mặc áo đen đội mũ
tai bèo, con gái ông&nbsp;Thiệt. Thái độ
của ông&nbsp;Thiệt “Việt Cộng nằm vùng”
đối với gia đình tôi và
những gia đình khác quanh xóm hoàn
toàn trong sáng và tự nguyện. Không
có lợi lộc, không có hậu ý
chính trị. </p>
<p align="justify">
Sau biến cố
1975, người con trai và bốn cô con gái
của ông&nbsp;Thiệt lần lượt trở về.
Té ra họ không theo du đãng, cũng
không theo trai. Họ theo Giải phóng. Họ
làm gì đó trong guồng máy của
chế độ mới, nhưng thái độ
của cả nhà vẫn bình thường,
không vênh váo, không tỏ ra quyền
lực. Sau này khi mẹ tôi qua đời,
họ đến thăm, phúng điếu, thắp
hương và đưa mẹ tôi một
quãng đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông&nbsp;Thiệt Việt
cộng nằm vùng là như thế, nên
khi ông đưa ba sinh viên - bộ đội
đến nhà, mẹ tôi vui vẻ sắp
xếp chỗ ở cho họ. Căn nhà ngang
chia hai. Nửa phía ngoài dành cho anh trai
kế tôi và hai người bạn cùng
học y với chúng tôi, nửa phía
trong dành cho ba anh sinh viên sư phạm cựu
kháng chiến.</p>
<h3 style="text-align: center;"><big><big>*</big></big></h3>
<p align="justify">
Sự xuất
hiện và tồn tại lâu dài ba
người mới đến không làm
chúng tôi lúng túng, không gây
trở ngại khó khăn gì cho sinh hoạt
của gia đình chúng tôi. (mọi
sinh hoạt, ăn uống đều riêng). Hoàn
cảnh sống và sinh hoạt có chênh
lệch đôi chút nhưng không là
vấn đề. Tất cả đều sống
nhờ tiêu chuẩn lương thực, thực
phẩm, công nghệ phẩm hàng tháng,
khó khăn nhiều nhưng không đói.
Họ là sinh viên Sư phạm có phụ
cấp hàng tháng. Tôi và anh tôi
học Y có phụ cấp ít hơn, bù
lại mẹ tôi có sạp hàng nhỏ
bán tạp hóa ở chợ Đông Ba
thu nhập hàng ngày chẳng được
bao nhiêu nhưng cũng tạm đắp đổi
các nhu cầu cấp thiết cho cả nhà
gồm sáu nhân khẩu. Tôi còn có
cô em kế là sinh viên Sư phạm năm
thứ ba và hai đứa áp út và
út đang học trung học.</p>
<p align="justify">
Tôi và
anh kế là sinh viên Y khoa năm cuối
(chương trình 7 năm), ba người ở
trọ là sinh viên Sư phạm năm đầu
nhưng cùng trang lứa. Chúng tôi từ
trường trung học vào Đại học.
Họ vào Đại học sau sáu bảy
năm tham gia cuộc chiến. Những kiến thức
chúng tôi thu nhận được từ
trường phổ thông và đại học
trong những điều kiện tương đối
tốt hơn họ, bất cứ ai cũng có
thể có được nếu ở trong hoàn
cảnh xã hội và gia đình tương
tự. Nhưng những gì ba anh sinh viên
sống sót trở về từ cuộc chiến
ác liệt và đẫm máu kết
tập và un đúc nên đối với
tôi là những câu chuyện truyền
kỳ.</p>
<p align="justify">
Trong đời
thường tôi đã là đứa
hiếu kỳ. Cuộc chiến tranh được
kể lại từ những người tiểu
anh hùng càng kích thích thêm tính
tò mò của tôi. Thành thật mà
nói, những sinh viên ở trọ đã
thích ứng với gia đình tôi rất
nhanh. Họ cởi mở năng động và
sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi
trong một số công việc thường
ngày. Thấy chúng tôi chẻ củi,
xách nước, quét sân, làm vườn,
họ săn tay giành lấy. Những buổi
tối mất điện hay rảnh rỗi họ
ra sân ca hát và chuyện trò râm
ran. Chúng tôi bị cuốn hút vào
những câu chuyện và lời ca tiếng
hát của họ.</p>
<p align="justify">
Những câu
chuyện họ kể, những lời giải đáp
các câu hỏi do tò mò, hiếu kỳ
của chúng tôi là tình cờ và
tự phát, không được chuẩn bị
trước như những buổi học chính
trị tại trường đại học, Qua
họ tôi biết nhiều hơn về miền
Bắc, về cuộc chiến ở miền Nam mà
họ là người trong cuộc về một
phía, và chúng tôi – bản thân
tôi – là người ngoài cuộc
hoặc ở bên lề, thậm chí về
phía đối nghịch.</p>
<p align="justify">
Tôi không
có năng khiếu âm nhạc, nhưng hay
hát nho nhỏ một mình và đặc
biệt thích nghe hát và sưu tầm
các nhạc phẩm. Trước 1975 mỗi lần
ngồi vào bàn học, tôi thường
mở radio nghe các chương trình ca nhạc
của đài Sài Gòn, Huế và
cả đài Giải Phóng, đài Hà
Nội. Mở nhỏ, vừa nghe vừa học bài
hay làm bài. Tôi còn sưu tầm
các nhạc phẩm in riêng rẽ hay thành
tập của các nhà xuất bản, đặc
biệt nhà xuất bản Tinh Hoa. Tôi không
có thành kiến với bất cứ thể
loại âm nhạc nào. Hành khúc,
tình ca, dân ca, nhạc thính phòng
hay “nhạc kẹo kéo” (nhạc
boléro)... Tôi không phân biệt đối
xử với nhạc miền Nam hay nhạc miền
Bắc. Theo tôi không có nhạc nhạc
Quốc Gia hay nhạc Cọng Sản.</p>
<p align="justify">
Mỗi lần
ba anh sinh viên ở trọ ra sân, tôi cũng
xách cái ghế nhỏ ra sân hay ngồi
ở cái ghế xích đu trên hiên
nhà để nghe họ hát. Tôi lắng
nghe thích thú các giọng ca mộc mạc
hồn nhiên của họ. Với cây ghita
trong tay, họ say sưa tự tín hát tất
cả các bài ca kháng chiến trước
đây họ đã hát trên rừng.
“Đảng đã cho ta một mùa
xuân...” “ Đảng đã cho ta
sáng mắt sáng lòng....”, “Anh
đang bộ hành quân pháo lăn dài
chiến dịch, bồi hồi đêm xung kích
chợt nghe tiếng pháo reo, ngôi sao trong mắt
em trong những đêm không ngủ, giáo
án em vẫn mở cho ánh sao băng vào...
bục giảng dưới hầm sâu em cũng
là chiến sĩ...”, “ Muỗi bay rừng
già cho dài tay áo..., “Từng đôi
chim bay đi, tiếng ca rộn ràng, cánh
chim xao xuyến gió mùa xuân, gởi về
miền Nam yêu thương nhắn rằng ta
ngày đêm mong nhớ... Về tương
lai ngày quê hương màu xanh áo
mới chứa chan niềm tin... bốn phương,
gió mưa, buồn thương, mùa đông
và mây mù sẽ tan...”</p>
<p align="justify">
Nghe họ hát,
nhìn dáng vẻ và nét mặt của
họ lờ mờ dưới ánh trăng tôi
nhận ra rằng họ đã có một
thời trai trẻ đẹp, gian khổ và
hào hùng. Cuộc chiến tranh đẫm
máu, khốc liệt bớt đi một phần
xa lạ với chúng tôi.</p>
<p align="justify">
Nhưng những
câu chuyện kể về những trải
nghiệm chiến tranh của từng người
một thật sự cuốn hút chúng tôi.
Ba người sinh viên ở trọ chẳng
phải là một nhóm chiến đấu
từ trên rừng cũng không phải là
người cùng quê. Thực tế họ
đến từ những làng quê khác
nhau và đã chiến đấu trong những
đơn vị và địa bàn khác
nhau.</p>
<p align="justify">
Những câu
chuyện của họ đa phần là kể
cho nhau nghe, nội dung tùy thuộc vào ký
ức nào đó hay môt ý tưởng
nào đó chợt nẩy nở trong đầu
của người này, được tiếp
nối bởi một ký ức hay một ý
tưởng nào đó của người
kia, và cứ thế câu chuyện lan man diễn
biến không theo một chủ đề, một
trật tự nào cả, thông thường
là đầu ngô mình sở, đầu
voi đuôi chuột. Được, anh chàng
người xứ Nghệ đang say sưa kể
về “tiểu đoàn lá bép”
của anh tại miền Đông Nam Bộ trong
những ngày đói khát sau Mậu
Thân bị cắt ngang bởi những bữa
ăn được kể cho đỡ đói
của anh chàng người Đồng Hới
tên Bường tại một hốc núi
nào đó ở ngã ba biên giới.
Câu chuyện được tiếp nối bởi
một trận dội bom của máy bay B52 làm
cả một đại đội tan nát khi
mới dừng chân bắt bếp chuẩn bị
bữa ăn sau chuyến hành quân dài
tại thung lũng A Shau. Anh chàng thứ ba người
Hà Nội giải thích lý do sống
sót của mình vì đi chậm do đang
lên cơn sốt rét... Như thế, tùy
theo tình tiết của các câu chuyện
mà họ đã khóc sướt mướt
hay bò lăn ra cười, hết cười
lại khóc, lại hát, lại ca.</p>
<p align="justify">
Thành thật
mà nói tôi đã rất thích
nghe về cuộc chiến tranh chống Mỹ qua
những câu chuyện và những bài
hát của ba người lính trên sân
nhà tôi trong những đêm mất điện.
Và sự thật là những hiểu biết
của tôi tăng lên rất nhiều so với
trước đây (1975) và so với những
buổi học chính trị có bài bản
và được trình bày thao thao bất
tuyệt bởi các giảng viên tuyên
huấn.</p>
<h3 style="text-align: center;"><big><big>*</big></big></h3>
<p align="justify">
Thấy tôi
có vẻ thích thú hóng chuyện,
anh sinh viên cựu kháng chiến tên Bình
người Hà Nội đem tặng tôi
cây đèn ló thụt – một dụng
cụ tùy thân trong thời kháng chiến
anh vẫn để trong một góc ba lô
sau ngày hòa bình. Trước khi nói
về cây đèn ló thụt, tôi
viết thêm về anh bộ đội là
cháu ngoại của Huế này. Mẹ Bình
là một thiếu nữ Huế, học sinh
Đồng Khánh, tham gia cách mạng tháng
Tám và kháng chiến chống Pháp.
Cuộc kháng chiến đã đẩy bà
từ thành phố Huế lên chiến khu
Thừa Thiên, ra khu Bốn, lên Điện
Biên Phủ. bà trở thành du kích,
từ du kích, bà trở thành ca sĩ,
kịch sĩ trong đoàn kịch do nhà
văn Thanh Tịnh điều hành. Trên
những chặng đường chiến đấu
và lưu diễn, bà yêu một đồng
chí nghệ sĩ, tình yêu của họ
kết tụ bằng cuộc hôn nhân và
Bình đã mở mắt chào đời
giữa bốn bề lửa đạn. Bình
tên anh, là khát vọng của bố mẹ
và cũng là khát vọng chung của
cả dân tộc: Hòa Bình. Anh vào
lính và ngày chuẩn bị đi Nam,
mẹ anh bảo nếu có thể chọn lựa,
anh nên về lại Huế, chiến đấu
trên mảnh đất mà bà đã
sinh ra, lớn lên và đã giã từ
để lao vào cuộc chiến.</p>
<p style="margin-left: 40px; text-indent: -20px;"
 align="justify">–&nbsp;“ Vì nền độc lập của dân tộc mà
mẹ
em đã ra đi, cũng vì nền độc lập của dân tộc và sự vẹn toàn thống nhất
đất nước mà em thay mẹ trở về, Huế đối với mẹ là cái gì đó vô cùng
thiêng liêng.” Bình nói với tôi</p>
<p style="margin-left: 40px; text-indent: -20px;"
 align="justify">–&nbsp; “ Còn vì Chủ nghĩa xã hội nữa
chứ?”
tôi hỏi</p>
<p style="margin-left: 40px; text-indent: -20px;"
 align="justify">–&nbsp; “ Có thể với bố với mẹ và cũng
chỉ
ba bốn năm đầu. Với em thì không, Tuyệt đối không.” Bình trở nên buồn
bã
và cộc lốc.</p>
<p align="justify">Mấy ngày
sau Bình đem cho tôi cây đèn ló
thụt và nói với tôi một thôi
dài:</p>
<p style="margin-left: 40px; text-indent: -20px;"
 align="justify"> – “ Chị
có vẻ quan tâm quá mức bình
thường tới cuộc chiến tranh mà em
đã bỏ cả quãng thời gian đẹp
đẽ nhất của đời người –
tuổi trẻ – để tham dự. Cây
đèn này đã theo em trong những
năm tháng khó khăn gian khổ và
mộng mị ấy. Đã có lúc em
xem nó như một kỷ vật và có
ý định bảo lưu nó trọn đời.
Nay thì thôi. Em biếu chị. Độc
lập mà không có tự do, mà
chuyên chính toàn diện và tuyệt
đối thì còn tệ hơn nhà
Nguyễn quân chủ và phong kiến. Thống
nhất mà người đàn áp bóc
lột người có thua gì thực dân
cướp nước chia để trị. Triều
đình nhà Nguyễn dẫu có thế
nào cũng đã để lại những
giá trị vật chất và tinh thần
không ai có thể phủ nhận. Còn
chế độ này trong lãnh vực giáo
dục và đào tạo – mà em là
nạn nhân trực tiếp – đang tàn
phá tâm hồn dân tộc mà cha ông
đã gây dựng hàng ngàn năm...”</p>
<p align="justify">
Càng lúc
tôi càng sững sờ trước lời
bộc bạch mãnh liệt của Bình.
Tôi nắm chặt cây đèn ló
thụt trong hai bàn tay như người mất
hồn. Đứng bất động một hồi
lâu, Bình bỏ đi lúc nào tôi
không chú ý.</p>
<p align="justify">
Mấy ngày
sau tôi phát hiện Bình vắng mặt.
Tôi hỏi hai người bạn còn lại,
họ trả lời rằng Bình đã bỏ
đi cả tuần không nói năng gì.
Có khả năng anh đã về Hà
Nội.</p>
<p align="justify">
Cây đèn
ló thụt Bình tặng, tôi để
tại một góc của tủ sách. Cây
đèn mà trong chiến tranh Bình đã
xem như một vật tùy thân không
thể tách lìa, cây đèn mà
đã có lúc Bình xem như là
chứng tích của một thời trai trẻ
trách nhiệm và cống hiến vì
nền độc lập của đất nước,
vì tự do và hạnh phúc của dân
tộc. Tại sao Bình không trân trọng
giữ nó như dự định lúc còn
chiến tranh? Tại sao Bình mang nó cho tôi
với lời bóng gió mỉa mai rằng
tôi đã quan tâm quá mức bình
thường tới cuộc chiến? Phải chăng
anh đã phủ nhận tất cả để
rồi phủ nhận luôn chính bản thân
mình? Rất nhiều câu hỏi tôi tự
đặt ra cho bản thân sau sự kiện
Bình đột ngột rời bỏ Đại
Học, rời bỏ Huế?</p>
<p align="justify">
Bình ra đi
chẳng bao lâu thì chỗ của anh trong
căn phòng mẹ tôi dành cho ba sinh viên
cựu kháng chiến có một người
điền khuyết. Sự thay đổi nhân
sự này mẹ tôi không được
hỏi ý kiến mặc dù các sinh
viên được cư trú miễn phí
từ lúc đầu đến thời điểm
này (cuối năm 1976)</p>
<p align="justify">
Vào một
ngày áp tết âm lịch Bính Thìn
(1976) trong lúc đang nấu nướng ở
bếp, tôi nghe có tiếng cãi vã
ồn ào trong phòng các anh ở trọ.
Cuộc cãi vã biến thành cuộc
xung đột chưa đến mức độ
thượng cẳng tay hạ cẳng chân nhưng
xem ra nghiêm trọng. Họ đã chửi
bới nhau thậm tệ khiến tôi tò mò
chú ý lắng nghe. Thì ra nguyên nhân
của cuộc xung đột là sự ăn
chia thế nào đó về số tiền
họ kiếm được từ những vụ
trộm cắp các thiết bị điện
- nước tại các giảng đường,
hành lang, khu vệ sinh của các phân
khoa trường Đại học và các
khu vực công cộng của thành phố.</p>
<p align="justify">
Họ đã
tiến hành các vụ trộm từ lâu,
từ thời còn có Bình. Phải
chăng đây cũng là một lý do
gần để Bình từ bỏ... </p>
<p align="justify">
Tôi trở
lại bàn học, cầm cây đèn
ló thụt mà Bình đã “vứt
bỏ” – cho tôi, “<i>vì
chị đã quan tâm đến cuộc
kháng chiến quá mức bình thường</i>”.</p>
<p align="justify">
Cây đèn
ló thụt là một nhặt nhạnh, gắn
kết một cách khéo léo các phế
liệu từ cuộc chiến tranh. Nó gồm
hai phần: Hộp đèn bằng kim loại
hình trái xoan cắt bằng chóp dưới
làm đế, chóp trên là một
cái nắp có chức năng làm chóa
ngăn sáng và che gió (phần này
có lẽ cắt từ vỏ đạn M79).
Phần đèn là một cái chai thủy
tinh nguyên là cái chai nước hoa ngoại
nhập. Miệng chai nhỏ, nắp chai kín và
bền. Ruột đèn là cái vỏ
đạn thẳng đứng từ đáy
chai lên gần miệng chai, có chức năng
làm giá đỡ cho bọng và tim đèn.
Tim đèn luồng trong một cái ruột
bút bi bằng đồng ló lên khỏi
miệng chai một chút. Lò xo của ruột
bút bi có nhiệm vụ nén và
hoàn lực. Khi sử dụng, mở nút
chai, đầu bút bi mang tim đèn bật
<u>ló</u> lên.
Khi hết sử dụng, đậy vặn nút
chai, đầu bút bi mang tim đèn bị
đẩy <u>thụt</u>
vào.</p>
<p align="justify">
Rõ ràng
cây đèn ló thụt là một kỷ
vật xinh xắn, ghi dấu những chặng đường
khó khăn và mộng mị của một
thời trai trẻ;
nếu cuộc chiến tranh kinh hoàng với
những tổn thất to lớn ngoài sức
tưởng tượng của bất cứ ai
(hàng chục triệu người chết,
thương tật thể xác và tâm
hồn trong nhiều thế hệ, đất nước
tan hoang trở lại thời kỳ đồ đá)
đem lại kết
quả cuối cùng là một đất
nước độc lập, thống nhất, hòa
bình thật sự, nhân dân được
tự do hạnh phúc thật sự. Nhưng
Bình đã vứt bỏ cái biểu
tượng ấy. Tôi hiểu và chia sẻ
một phần nỗi buồn bã và thất
vọng của anh. Tôi cầm cây đèn
đi xuống bếp và vứt nó vào
sọt rác.</p>
<p align="justify">
Khu nhà
buổi chiều im ắng, mẹ, anh trai và các
em tôi chưa về. Trong căn phòng dành
cho các sinh viên cựu kháng chiến
không còn tiếng cãi vã khấu ó.
Chỉ có tiếng rì rầm to nhỏ. Tôi
không muốn biết họ đang
bàn kế hoạch gì, những người
đang được đào
tạo để trở thành người lãnh
đạo và quản lý đất nước
mà nói như người cán bộ
tuyên huấn ở giảng đường
trường Đại học rằng: “<i>Lịch
sử đã trao sứ mệnh cho đảng
ta</i>”.</p>
<br>
<h3 style="text-align: right;">Nguyễn thị
Kim Thoa</h3>
<br>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/VCgn4WNI7Ak" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Nguyễn thị Kim Thoa</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-09T10:19:34Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/sang-tac/chiec-den-lo-thut</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/mua-tet-nho-lai-nhung-con-111uong">
        <title>Mùa Tết, nhớ lại những con đường...</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/x258LKNyq2Q/mua-tet-nho-lai-nhung-con-111uong</link>
        <description>hồi kí</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<br>
<h1 style="text-align: center;">
<big><big style="font-style: italic;"><span lang="en-US">Mùa Tết, nhớ
lại
những con đường</span></big></big><span lang="en-US"></span></h1>
<h3 style="text-align: center;"><br>
<font face="Times New Roman, serif"><font size="3"><span lang="en-US"></span></font></font></h3>
<h3 style="text-align: center;"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3"><span lang="en-US"><big><big>Nguyễn Hữu Động</big></big><br>
</span></font></font></h3>
<p style="margin-top: 0.49cm; margin-bottom: 0.49cm; line-height: 100%;"
align="justify" lang="es-MX"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3"><span lang="en-US"><br>
</span></font></font></p>
<p style="margin-top: 0.49cm; margin-bottom: 0.49cm; line-height: 100%;"
align="justify" lang="es-MX"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3"><span lang="en-US"><br>
</span></font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3"><span
lang="en-US">Ngày ký kết Hiệp định Paris tháng Giêng
năm 1973, tôi đến Hội trường Kléber bằng xe điện ngầm. Hôm ấy, nhiệm vụ
tôi là đi dịch cho đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam
Việt Nam (CPCMLTCHMNVN).</span></font></font></p>
<div
style="padding: 30px; float: right; width: 400px; margin-bottom: 10px; margin-left: 30px; background-color: rgb(255, 204, 255); text-align: justify;">
<p><font face="Times New Roman, serif"><font size="3"><span lang="en-US"><span
style="font-style: italic;"><span style="font-style: italic;">Bài này,
tác giả viết cho tạp chí <a style="font-weight: bold;"
href="http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Nguoi-Viet-o-nuoc-ngoai/Viet-cho-Que-Huong/2012/01/4796333C/">Quê
Hương</a> (đã đưa lên mạng ngày 27.1.2012). Đây là bản do tác giả gửi
cho Diễn Đàn, chúng tôi đăng lại toàn văn, chỉ xin minh chính về một
chi tiết : sự kiện tác giả kể lại ở phần đầu không phải là ngày ký Hiệp
định Paris (27.1.1973), mà là ngày họp Hội nghị quốc tế về Việt Nam
(2.3.1973) cũng tại Hội trường Trung tâm Hội nghị Quốc tế còn gọi là
Hotel Majestic ở đại lộ Kléber, Paris 16 (nay đang được biến thành một
khách sạn "palace").</span></span></span></font></font></p>
<p><font face="Times New Roman, serif"><font size="3"><span lang="en-US"><span
style="font-style: italic;"><span style="font-style: italic;">Hội nghị
quốc tế này gồm, ngoài 4 phái đoàn đã ký kết Hiệp định Paris, Tổng thư
ký Liên Hiệp Quốc (Kurt Waldheim), và phái đoàn của 8 nước (4 "tứ
cường" ngoài Mĩ : Anh, Liên Xô, Pháp, Trung Quốc, và 4 nước thành viên
của Ủy ban quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định là Ba Lan, Canada,
Hungary và Indonesia). Các ngôn ngữ sử dụng trong ngày hội nghị quốc tế
này là các ngôn ngữ chính thức ở Liên Hợp Quốc (Anh, Pháp, Nga, Trung)
và tiếng Việt. Do đó, việc phiên dịch phải huy động đội ngũ phiên dịch
chuyên nghiệp của LHQ và bốn phiên dịch viên nghiệp dư nói đến trong
bài (bốn người này dịch các phát biểu của các ngoại trưởng người Việt
sang tiếng Pháp, và dịch các phát biểu khác từ tiếng Pháp sang tiếng
Việt). Sự cố nói đến trong bài xảy ra khi ông Trần Văn Lắm, ngoại
trưởng VNCH, phát biểu bằng tiếng Pháp (thay vì tiếng Việt) khiến người
phiên dịch của đoàn VNCH lúng túng.</span></span></span></font></font></p>
<p style="text-align: right;"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3"><span lang="en-US"><span style="font-style: italic;"><span
style="font-style: italic;">NNG<br>
</span></span></span></font></font></p>
</div>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3"><span
lang="en-US">Khi ra khỏi đường hầm rảo bước về chỗ anh chị em trong
đoàn Việt Nam thì mấy tay cảnh sát Pháp chặn tôi lại</span></font></font><span
lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3"> và
hướng tôi về phía đoàn của Việt Nam Cộng Hòa mà đoàn chúng tôi gọi là
đoàn Sài Gòn. Đương tranh luận thì có một anh trong đoàn ta chạy ra,
kéo tôi đi với anh. Thấy tôi có dáng bực tức anh cười và bảo : Chúng nó
hiểu nhầm thôi, giận làm gì cho mất vui ngày Lịch sử này. Tại nó thấy
cậu ăn mặc diện quá, có nghĩ đâu là Việt Cộng</font></font></span><span
lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3">…</font></font></span></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX">
<span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3">Quả
thật thì chúng tôi, những người Việt Nam sống tại Pháp và được tham gia
và hoạt động của phái đoàn, có điều kiện kinh tế khá hơn anh chị em
trong nước. </font></font></span><span lang="en-US"><font
face="Times New Roman, serif"><font size="3">Anh Nguyễn Ngọc Giao,
thông dịch cho đoàn VNDCCH và
tôi cùng là trợ giáo đại học Paris, anh Giao dạy toán, tôi dạy
kinh tế. Nghề giáo, ở đâu cũng vậy, không phải là nghề nhiều
tiền, tuy nhiên so với trong nước thì tụi tôi khấm khá hơn nhiều. Riêng
phần tôi thì nhân dịp ông bà thân sinh sang Pháp chơi, các cụ cho tôi
một bộ quần áo đo theo người chứ không phải mua ở cửa hàng, coi là quà
cưới. Tôi mặc chính bộ complet ấy đi phục vụ Hội nghị, và từ đó xảy ra
tranh cãi với cảnh sát và một trận cười trong đoàn. Ở thời xa xưa ấy,
cán bộ ngoại giao ta đi công cán nước ngoài thường phải đến bộ Tài
chính mượn quần áo và giầy, cái thứ giầy ra đến khí hậu khô khô một tí
thì co lại, tối đến về nhà xoa chân phát mệt.</font></font></span></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Về Hội nghị Paris, tôi chỉ nhớ hôm ấy, cabin dịch rất nóng và
ngộp. Thường thì có hai phiên dịch, ngày ấy có bốn người, một của đoàn
VNCH, một của đoàn CPCMLT, và hai của đoàn VNDCCH. Tất cả đều là nghiệp
dư. Hai anh trong đoàn VNDCCH giỏi hơn chúng tôi nhiều khi dịch từ
tiếng Pháp ra tiếng Việt. Tôi và anh thông dịch VNCH nói tiếng Pháp thì
khá, nhưng dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt thì rất yếu. Có một lúc,
anh phiên dịch đoàn VNCH không dịch kịp lời phát biểu tiếng Pháp của
đoàn anh, quay sang nhờ anh Giao dịch hộ. Với thái độ rất nghề nghiệp,
anh Giao nhận lời. Chiều đó, khi tan Hội nghị, một anh nhắc anh Giao là
khi đoàn VNCH nói đến chính phủ VNCH, tại sao không sửa lại là chính
quyền Sài Gòn (như văn kiện của ta thường dùng) ? Anh Giao chỉ lắc đầu
và bảo : Thật ra đó là phản xạ của người dịch, không sửa những điều
mình đang dịch.<br>
</font></font></span></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX">
<span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3">Từ
hai câu chuyện trên, bộ quần áo sang hơn cả quần áo của trưởng đoàn,
"Tây con" (cách gọi đùa của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình) đi phục vụ Hội
nghị, tôi cũng đã nhiều lần suy nghĩ đến các nẻo đưỡng dẫn dắt chúng
tôi đến với cuộc kháng chiến của dân tộc. Tháng qua, nhân dịp phương
Tây đánh dấu 50 năm can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, tôi có đăng một bài
nói lên tâm tư này trong tạp chí điện tử <a
style="font-weight: bold; font-style: italic;"
href="http://www.opendemocracy.net/dong-nguyen/four-anecdotes-and-some-news-or-paths-of-resistance">openDemocracy</a>
và được chính anh Giao dịch lại và đăng lại trong tạp chí điện tử <a
style="font-weight: bold; font-style: italic;"
href="http://www.diendan.org/viet-nam/bon-giai-thoai/">Diễn Đàn</a>.
Dưới đây xin trích lại những đoạn chính để bạn đọc hiểu thêm về những
người, tuy sống xa Tổ quốc, vẫn là một bộ phận của cộng đồng dân tộc.<br>
</font></font></span><span lang="en-US"></span></p>
<p style="margin-top: 0.49cm; margin-bottom: 0.49cm; line-height: 100%;"
align="justify" lang="es-MX">
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Đối
với những anh chị em cùng thế hệ với tôi, cuộc đời
trưởng thành – cuộc đời mà mỗi người phải chịu
trách nhiệm về chính mình – là cuộc đời bị chiến
tranh chế ngự, tới mức không còn phân biệt được cuộc sống
và chiến tranh, một cuộc đời trong đó, mọi suy nghĩ,
hay không suy nghĩ, đều dính dấp đến chiến tranh. </span><span
lang="en-US">Nói
khác đi, chiến tranh không phải là cái dấu ngoặc giữa
hai thời gian hòa bình. Chiến tranh là chính cuộc sống...
Trong lứa bạn bè học sinh trung học của tôi (trường
Yersin), thì những người mà gia đình có khả năng đều
theo học ở các trường đại học Pháp, Anh, Úc hay Mỹ,
nhất là ngay từ năm 1960, khi mà các bên khẩn trương
chuẩn bị chiến tranh. Những ai không có phương tiện thì
chỉ còn một con đường là nhập ngũ. Thế hệ của tôi,
hồi ấy, tôi không nhớ có ai gia nhập hàng ngũ kháng
chiến, lúc đó người ta gọi là Việt Cộng (nói giọng
Nam Bộ thì thành… Diệt Cộng).</span></font></font></font></font></p>
<p style="margin-top: 0.49cm; margin-bottom: 0.49cm; line-height: 100%;"
align="justify" lang="es-MX">
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Chiến
tranh từ những năm 61-65 bắt chúng tôi phải ý thức hơn nữa về thời
cuộc và kết luận là giờ chọn lựa đã điểm, một sự
chọn lựa không nhất thiết là đoạn tuyệt triệt để,
nhưng phải phù hợp với những gì mà chúng tôi coi là
những giá trị cơ bản. Cuộc chiến tranh đang diễn ra
trước mắt chúng tôi không chỉ là cuộc giao tranh giữa
hai lực lượng đối nghịch. Với khía cạnh huynh đệ
tương tàn, dù đó không phải là tính chất cơ bản, cuộc chiến tranh đã
đảo lộn cuộc đời chúng tôi,
thay đổi nếp sống, thay đổi những giá trị truyền
thống cũng như tương lai của chúng tôi, một tương lai
ngày càng bất trắc. Ngày nay nhìn lại, có thể nói rằng
cuộc chiến tranh ấy, với chuỗi dài những khổ đau mất
mát (mất đi những người thân, và mất đi cả những ảo
tưởng), đã cưỡng bức, đã ném chúng tôi vào cuộc
</span><span lang="en-US">toàn cầu hóa</span><span lang="en-US">.</span></font></font></font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Trong
gia đình tôi</span><span lang="en-US">, chính trị là một cuộc
chơi giữa bạn bè, đồng minh hay đối thủ, nhưng là một
thú chơi nhàn tản của giới thượng lưu. Quan niệm ấy
cũng có cái hay vì nó cho phép nhìn chính trị với một
khoảng cách nhất định, xa lạ với đam mê chính trị,
và mở ra khả năng nhìn người nhìn việc với tinh thần
khoan dung mãi về sau này tôi mới cảm nhận được giá
trị, sau những năm làm việc cho Liên Hiệp Quốc. Cũng
phải nói thêm là sự thiếu vắng đam mê kiểu "phe
phái ăn thua đủ" này, một phần là do nếp giáo dục
(để cho tình cảm lấn át tràn lan là một điều bị coi
là hết sức dở) phần nữa là vì bản thân dòng họ của
chúng tôi cũng chia hai phe. Anh em họ, chú bác tôi nhiều
người đã cầm súng chiến đấu, ở bên này hay bên kia.
Cuộc chiến tranh kéo dài suốt mấy thập niên, não trạng
đối đầu dường như cũng lắng xuống, nhường chỗ cho
sự cảm thông, chấp nhận </span><span lang="en-US">duyên
nghiệp</span><span lang="en-US"> theo quan niệm của đạo
Phật.</span></font></font></font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Khi
từ Lausanne chuyển sang học ở Pháp, tôi đi
một cách tự nhiên đến phong trào yêu nước. Diễm phúc của
tôi là trong phong trào ấy, tôi đã được gặp và kết
thân với những đầu óc ưu tú nhất của giới Việt Nam
ở nước ngoài. Nhờ họ, tôi có dịp suy nghĩ về nền
văn hóa «&nbsp;tự phát&nbsp;» mà tôi mang trong người, về
cái bản sắc dân tộc thường được coi là bất di bất
dịch mà thực ra vẫn thiên biến vạn hóa, theo dòng lịch
sử, theo từng hoàn cảnh. Điều chắc chắn, là trong sự
phong phú muôn vẻ của giới tham gia phong trào này, tôi
củng cố một lần nữa niềm tin vào những quyết định
của mình. Niềm tin ấy, cho đến ngày hôm nay vẫn nguyên
vẹn, là không có sự chọn lựa nào khác.</span></font></font></font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Đất nước
kêu
gọi, và chúng tôi đã đáp lời hưởng ứng. Tự nhiên
như người ta hít thở để sống. Trong bạn bè chung quanh
tôi, ai ai cũng an nhiên phục vụ đất nước như vậy. Và
khi có dịp quan sát phía đối diện, những người mà
chúng tôi coi là đối phương vì họ là đồng minh của
ngoại bang, ở nhiều người tôi cũng thấy có thái độ
tương tự. Cố nhiên, quan niệm về chiến tranh chính
nghĩa và phi nghĩa giữa chúng tôi và họ, khác nhau. Nhưng
sự khác biệt không có gì lớn trong quan niệm về hoàn
thành nhiệm vụ.</font></font></font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Một thí dụ nhỏ. Ông
anh họ tôi, đại tá, ông anh rể tôi, đại tá, là thành viên của đoàn
VNCH. Hai anh thỉnh thoảng cũng đến tôi ăn cơm. Và không
tranh luận về những công việc của từng người.. Ngày nay nhìn
lại và suy nghĩ về những cuộc gặp gỡ bên lề cuộc
hội nghị có ý nghĩa trọng đại đối với đất nước,
thì kết luận đầu tiên mà tôi rút ra là&nbsp;: xét cho
cùng, gia đình, văn hóa, lịch sử và sự thương mến lẫn
nhau, tóm lại một chữ là&nbsp;: dân tộc, vượt qua mọi
hàng rào chiến tranh. Ai đó từng nói là thương hại
người nào phải chọn lựa giữa tình bạn và tình yêu
tổ quốc. Thú thực là tôi không hiểu thấu sự thương
hại đó, bởi yêu nước cũng là yêu sự cao cả của đất
nước, mà thử hỏi có gì cao cả hơn là lòng khoan dung
hào hiệp ? </font></font>
</font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Rút ra từ cuộc
đời, từ những công vụ ở nhiều nơi trên thế giới,
tôi cảm nhận là rốt cuộc, sự đam mê vì dân chủ, với
tất cả hàm ý công lý, tự do và bình đẳng (một hình
thái khác của công lí) của khái niệm dân chủ, chỉ tồn
tại và chỉ có thể tồn tại như là sản phẩm của đam
mê vì độc lập, tự chủ, những quyền cơ bản mà ngày
nay dân tộc của chúng tôi đã giành được. Dân tộc này
có lịch sử của nó và tôi là một thành phần của dân
tộc, của lịch sử dân tộc, với những giấc mơ và
những cơn ác mộng. Một khi đã chấp nhận điều cơ bản
đó rồi, người ta cũng có thể tự đảm nhiệm như một
người kháng chiến, hay như một người chống lại cuộc
kháng chiến ấy, như một thành viên có kỉ luật của
cuộc kháng chiến và đồng thời như một người trí
thức sáng suốt thấy rõ những ràng buộc của hiện thực
thế giới. Sự hài hòa của cuộc sống, là biết chấp
nhận quá khứ -- không thể nào thay đổi được nữa –
và chuẩn bị tương lai, bất khả xác định nhưng còn để
mở, bởi vì tương lai từng lúc vẫn tùy thuộc vào quyết
định của chúng ta.</font></font></font></font></p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0.35cm;" align="justify"
lang="es-MX"><span lang="en-US"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3">Những con đường
dẫn tới kháng chiến, những con đường hướng về đất
nước đã nuôi dưỡng chúng tôi, đã cho chúng tôi ước
mơ, đã làm chúng tôi đau đớn, có vô số những con
đường ấy. Chọn con đường nào là tùy những trải
nghiệm cá nhân, tuỳ những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên,
hay những "vi quyết định" của mỗi người. Ba
mươi năm nam sau chiến tranh, tôi không chắc là các vết
thương đều đã được hàn gắn, đã lành lặn. Nhưng
tôi chắc chắn rằng, ít nhất tôi tin tưởng, thiết tha,
rằng những con đường ấy còn rộng mở cho mọi người,
và mọi người, bên này hay bên kia, bạn bè hay đồng
minh, hãy dấn thân để tìm thấy sự an lạc và nảy nở
phát huy cho chính mình.</font></font></font></font></p>
<p
style="margin-top: 0.49cm; margin-bottom: 0.49cm; line-height: 100%; text-align: right;"
lang="es-MX"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3"><font
face="Times New Roman, serif"><font size="3">Mexico, mùa Tết</font></font></font></font></p>
<h3 style="text-align: right;"><font face="Times New Roman, serif"><font
size="3"><font face="Times New Roman, serif"><font size="3">Nguyễn Hữu
Động<br>
</font></font></font></font></h3>
<p style="margin-top: 0.49cm; margin-bottom: 0.49cm; line-height: 100%;"
align="justify" lang="es-MX">
</p>
<div type="FOOTER">
</div><img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/x258LKNyq2Q" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Nguyễn Hữu Động</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-09T09:40:13Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/mua-tet-nho-lai-nhung-con-111uong</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/sang-tac/mien-hu-ao/phap-su-blog-ch-11">
        <title>Pháp sư blog - Lời đứa sinh viên mê gái</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/GJWcp8rMo1A/phap-su-blog-ch-11</link>
        <description>Tiểu thuyết Miền Hư Ảo, chương 11</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<br>
<h1 style="font-weight: bold; text-align: center;"><big><big>Phần
1 –
Miền hư ảo</big></big></h1>
<br>
<h3 style="text-align: center;"><big><big><big>Lưu
Thuỷ Hương</big></big></big></h3>
<br>
<h3><big><big>Chương 11</big></big></h3>
<br>
<h2><strong><big><big>
Pháp sư
blog - Lời đứa sinh viên mê gái</big></big></strong></h2>
<br>
<br>
<p align="justify">Em Hoài Bắc,</p>
<p align="justify">
em làm ơn
đạp xe chậm lại một chút, được
không? Để anh thở ra vài hơi rồi
kể chuyện cười cho em cười. Em
thuộc loại khó cười, đúng
không? Loại mà thằng Khánh ghét
cay ghét đắng, nó hay gọi là
<i>"loại người đẹp không có
óc khôi hài".</i></p>
<p align="justify">
Ê, thằng
Khánh ngồi im nghe, mầy. Nhấp nhổm yên
sau coi chừng té. Để tao tán em dùm
cho. Bao giờ hai đứa bây lấy được
nhau rồi nhớ đừng quên ơn tao.</p>
<p align="justify">
Em Hoài Bắc,</p>
<p align="justify">
tối hôm
qua, thằng Khánh nhớ em trằn trọc năm
canh, thở ngắn thở dài như bò
kéo xe, anh không cách gì ngủ được.
Buổi sáng nó lết ra quán ăn hết
ba tô hủ tiếu, uống ba ly cà phê
sữa. Buổi trưa nó ăn bốn dĩa
bánh ướt, xơi năm chén chè
chuối. Bây giờ nó nặng như đá
đeo. Anh chở nó đuổi theo em muốn
vẹo xương sống. Em làm ơn đạp
xe chậm lại một chút, được
không? Anh hỏi, được không? Không
trả lời. Con gái gì lì quá.
Không biết mở miệng trả lời người
lớn, mà cũng không biết nghe lời
đàn anh.</p>
<p align="justify">
Em Bắc ít
nói. Bà Nội em Bắc lại càng
không chịu nói gì, bà chỉ im
im trợn mắt nhìn hai đứa cháu.
Thằng Khánh sợ quá, lần nào
tới thăm em nó cũng cạo râu cắt
tóc gọn gàng, đi đứng khúm
núm. Anh hỏi, mày đi thăm Bắc hay
đi thăm Nội? Nó cười, thăm
Bắc, thương Bắc nhưng… ghét
Nội.</p>
<p align="justify">
Em Bắc,</p>
<p align="justify">
hỏi lần
cuối, đạp xe chậm lại dùm, được
không? Em không biết điều gì hết.
Lẽ ra, tụi anh cỡi xe cúp áp tải
em, lạng qua lạng lại trước đầu
xe đạp của em để cản đường.
Nhưng thằng Khánh nói, làm vậy
trưởng giả, làm vậy phân biệt
giai cấp, làm vậy ức hiếp kẻ
yếu. Ha, ha, cái thằng con quan này dối
trá có hạng. </p>
<p align="justify">
Em Bắc, </p>
<p align="justify">
lẽ ra, hai
thằng cỡi hai chiếc xe đạp, kè
sát em vô giữa không hở tấc nào.
Nhưng thằng Khánh nói, chơi kiểu
dã chiến với em thấy tàn nhẫn
quá. Lẽ ra, thằng Khánh to xác phải
chở anh. Nhưng nó quá mê mẩn
nhan sắc em, nó vừa chạy vừa ngó
em ngơ ngẩn kiểu này, chắc là
đâm đầu vô xe tải. Có nhiều
thứ "lẽ ra" mà anh phải gạt
bỏ để hy sinh tấm thân ngà ngọc
tơ liễu của anh cho em với thằng Khánh,
cho cái cuộc tình éo le sắp bốc
mùi cải lương này. Cẩn thận,
anh rất ghét cải lương. Ờ, chỉ
thích phim hoạt hoạ, mèo với chuột.
Tom and Jerry. Hic hic.</p>
<p align="justify">
Ê, em coi
chừng!!! Trời ơi, mấy thằng xe tải
này không biết nể nang Thuý Vân
Thuý Kiều gì hết. Đã ép
con gái người ta lại còn xịt
khói đen mù trời. Em, em chạy sát
vô trong dùm đi. Con gái đẹp gì
mà liều mạng như Từ Hải. Con gái
đẹp gì lầm lì khó coi quá.
Thôi được rồi, em chạy phía
trong này đi, để anh chạy tuốt bên
ngoài này. Anh với thằng Khánh nhát
gan lắm, thấy xe là né chứ không
liều mạng như em. Ủa, mà em sợ
tụi anh hay sợ xe tải?</p>
<p align="justify">
Em Bắc,</p>
<p align="justify">
anh kể cho em
nghe nỗi niềm bi thương của thằng
Khánh. Buổi tối hôm kia ở lâm
trường, nửa đêm khuya khoắt, gió
núi thổi từng cơn qua vách nứa
kẽo kẹt não nùng. Anh bỗng giật
mình tỉnh tỉnh giấc, sương lạnh
ùa vô trắng xoá căn láng. Thằng
Khánh ngồi giường bên, mền trùm
kín tới cổ. Đầu nó
dài ra, chúc xuống bụng, lắc lư
như đầu gà lôi. Ánh đèn
dầu lung linh chực tắt, soi nửa khuôn
mặt đen đủi hốc hác như khoai
mì nướng, soi cái bóng lù lù
như mả đá ong. Cái miệng kỳ
nhông đỏ hỏn đang lảm nhảm
những câu ma quái rùng rợn.</p>
<p align="justify">
"Nó
có hai đầu, bám sâu vào hút
máu… Chặt đầu này thì
đầu kia… càng cắm sâu vào.
Không… chặt đầu này, nó
mọc đầu khác…"</p>
<p align="justify">
Trời
ơi. Thật là kinh khủng. Anh biết là
thằng này bị ma núi nhập. Hồi
chiều anh mới nhậu với ông già
Hăng Rết, nghe ổng kể chuyện ma núi
nhập xác trai tơ đi hút máu
người. Rùng rợn. Nhưng chuyện này
không kể lại cho em Bắc nghe được,
bậy bạ lắm, sẽ làm hư hỏng
đầu óc măng non trắng nõn nà
của em. Anh định thần nhìn kỹ mặt
thằng Khánh, thấy thần sắc nó
bị bao bọc bởi một làn hơi lạnh
lùng yêu mị. Em mà thấy đám
râu ria dựng đứng cắm trên củ
khoai mì nướng, cặp mắt đờ
đẫn gắn trên bản mặt con thằn
lằn là em chết
khiếp, không bao giờ còn dám yêu
con ma núi đó. Ờ, trong đám đệ
tử của anh không có đứa nào
xấu trai như thằng Khánh, lúc đó,
trong đêm tăm tối nhìn nó càng
xấu hơn. Chẳng lạ lùng gì mà
mỗi lần gặp nó cứ thấy em quay
mặt đi nghiến răng ken két.</p>
<p align="justify">
Thằng
Khánh ngồi im nghe chưa. Mày ngọ ngoạy
kiểu đó là tao quay xe về. </p>
<p align="justify">
Ê,
tới ngã tư. Chỗ này nguy hiểm,
chạy chậm chút, em. Ngó bên phải.
Ngó bên trái. Cẩn thận, rồi,
đạp qua đường. Được rồi,
ngoan lắm. </p>
<p align="justify">
Ờ,
kể tiếp nghen. Anh len lén leo xuống giường,
thi triển khinh công bò tới bên thằng
Khánh, bò thật chậm. Vận hết
nội lực để bụng lướt đi
trên đất mà không phát ra tiếng
động. Em học hai khoá quân sự
rồi, nên cũng biết cách bò tiếp
cận mục tiêu. Bụng ép sát xuống
đất. Hai đùi choãi ra, thân trườn
lên phía trước, hai mắt mở to như
đèn xe tăng nhằm thẳng mục tiêu
mà bò tới. Mục tiêu của anh là
cây củi dựng ở chân giường.
Trong giây phút cận kề cây củi,
anh bất ngờ chồm dậy, nắm lấy cây
củi hùng hổ hét to để hớp
hồn thằng ma nhập. </p>
<p align="justify">
"Thằng
Khánh. Ngồi im, mày nhúc nhích là
chết liền." </p>
<p align="justify">
Vừa
hét anh vừa thi triển Lạc hoa công,
tung cánh hoa nhảy ào lên giường,
bay luôn lên lưng nó. Thằng Khánh
té chúi
nhủi ra phía trước. Anh cưỡi trên
lưng nó, hai tay anh bóp cổ nó, hai
chân anh đè chặt hai góc mền để
nhốt con ma núi lại. Cũng may cho anh, thằng
Khánh lúc đó tự nhiên sực
tỉnh, hiểu rõ sự tình nguy hiểm,
nên nó sợ quá chổng mông nằm
im thin thít. Anh giơ cây củi lên, giật
tung mền ra, nghiến răng lấy hết sức.
Định quật một đòn chí tử
vô con ma núi. Nhưng… Bắc ơi.
Kinh khủng. Kinh khủng không thể tưởng,
cái đang nằm trong lòng thằng Khánh.
Kinh khủng lắm, nó nằm sờ sờ ở
đó. Em có biết cái gì không?
Dưới anh đèn dầu leo lét, anh
nhìn nó nằm đó ngọ ngoạy
mà choáng váng mặt mày, nghĩ
đến thân phận mình. Đêm đêm
anh cũng vẫn phải ôm ấp nó trong
lòng. Vậy là nước mắt anh trào
ra. Cây củi rớt cái độp xuống
đất. Trời ơi.</p>
<p align="justify">
Bắc,
em. Đạp xe chậm lại thì anh mới
kể tiếp. Làm gì mới nghe tới
nỗi đoạn trường của hai thằng
con trai là em đạp xe trối chết.</p>
<p align="justify">
Em nghe đây.
</p>
<p align="justify">
Cái
con quái vật hai đầu nằm trong lòng
thằng Khánh chính là con đỉa tư
bản chủ nghĩa. <i>"Chủ nghĩa
tư bản là một con đỉa có
hai cái vòi, một cái vòi bám
vào giai cấp vô sản ở chính
quốc và một cái vòi khác bám
vào giai cấp vô sản ở thuộc địa.
Nếu muốn giết con vật ấy người
ta phải đồng thời cắt cả hai vòi.
Nếu người ta chỉ cắt một vòi
thôi thì cái vòi còn lại kia
sẽ tiếp tục hút máu của giai
cấp vô sản con vật vẫn tiếp tục
sống và cái vòi bị cắt đứt
sẽ lại mọc ra". </i>Hic hic. Ghê rợn
quá. Em ơi, tuần tới tụi
anh thi môn chủ nghĩa cộng sản rồi,
đêm nào cũng phải ôm Mác vô
lòng tụng kinh, nam mô Mác ô rô
cứu khổ cứu nạn. Ha ha, thằng Khánh
mày cười to quá nghe. Thấy chưa,
em Bắc cũng cười tủm tỉm. Khánh,
mày thiếu sư phụ chầu nhậu đó.
Cần gì xé mấy trăm thước
lụa mua nụ cười mỹ nhân. Chỉ
cần nhờ Pháp sư dùng ba tấc lưỡi
là dụ dỗ được nàng cười…
khì khì. </p>
<p align="justify">
Em
Bắc,</p>
<p align="justify">
thật
tình, em cười rất đẹp. Ờ,
thì đẹp hơn lúc không cười.</p>
<p align="justify">
Em
thông cảm, thằng Khánh lo tụng Mác
Lê riết rồi gặp gái là líu
lưỡi. Cái thứ triết này không
những không để tán gái mà
còn huỷ hoại nam tính, thành ra gặp
em là thằng Khánh ẹo qua ẹo lại,
rồi lỏn lẻn cười. Nó nguy hại
vậy nhưng vẫn phải học, em à, thi
rớt môn Mác Lê này là khỏi
ra trường. Anh tự hỏi, trên thế
giới này còn chuyện gì phi lý
hơn nữa không? Năm năm đại học,
ra trường chỉ phải thi một môn,
chủ nghĩa cộng sản. Loại như thằng
Khánh chỉ cần ba nó gọi điện
thoại hỏi thăm một câu là hiệu
trưởng sợ vãi đái, vậy mà
đêm đêm nó cắm cúi ngồi
học. Chuyện nó chăm chỉ học hành
cũng phi lý như chuyện nó yêu em
tới mòn râu. Thằng Khánh ngồi
im, nghe chưa. Trình độ triết học
của mày chưa đủ để nói
chuyện với em Bắc đâu. Để
tao. Thôi thì, coi như thằng Khánh vì
em mà… hướng thiện, đỡ tốn
công anh dạy dỗ. Chuyện này cũng
nên cám ơn em. Nhờ em mà lúc
này nó chịu khó chở anh đi lùng
mua sách cũ, đọc nghiến ngấu đủ
loại sách không ai thèm đọc.
Thấy tội. Tán gái là khiếu
trời cho, đâu có sách nào chỉ
dẫn cụ thể. Lỡ yêu thì nói
phắt lỡ yêu, cứ ngồi xoa cằm hút
thuốc cả đêm làm người khác
muốn ho. Ừ thôi, chết mày rồi.
Sét đánh cháy đen thui như khoai
mì nướng rồi. Hết đứa cho
mày yêu, lựa ngay con nhỏ khó chịu
này. </p>
<p align="justify">
Khánh
con, muốn biết gì cứ hỏi sư phụ
mày. Thằng Khánh, chấp tay than thở.</p>
<p align="justify">
"Tại
sao em Bắc không đoái hoài gì
tới tao."</p>
<p align="justify">
"Có
hai lý do. Thứ nhất, là cái mặt
mày xấu xí dễ ghét và cái
thói hoang đàng phóng đãng của
mày đã tới tai em Bắc. Thứ hai,
em Bắc đã có người yêu."</p>
<p align="justify">
Giả
thuyết thứ hai của sư phụ làm
thằng đệ tử choáng váng. Cái
thứ hàm hồ như nó, coi trời bằng
vung, cứ tưởng mình là trung tâm
vũ trụ. Sự thật phũ phàng gõ
cái bốp xuống đầu nó. Hà
hà, cái mặt thất vọng của nó
thật dễ ghét. Thôi được, để
sư phụ ra tay giúp con, kiểm tra tình
cảm của em Bắc.</p>
<p align="justify">
Em
Bắc,</p>
<p align="justify">
anh
kể chuyện này cho em nghe, phản ứng
của em sẽ quyết định cuộc đời
tình ái bi luỵ và cải lương
của thằng Khánh. </p>
<p align="justify">
"Có
đôi tình nhân tâm tình trong
vườn dừa. Đêm không trăng
không sao, hiu hiu gió mát. Chàng và
nàng hôn nhau đắm đuối. Trái
dừa trên cao sút cùi, rớt ngay đầu
nàng. Chàng đứt lưỡi lăn
quay ra chết.”</p>
<p align="justify">
Khánh,
mày nhìn kỹ mặt con nhỏ đi. Coi
thái độ của nó ra sao. </p>
<p align="justify">
Ha
ha. Dĩ nhiên là chuyện cười. Tại
sao dừa rớt trúng đầu nàng mà
chàng lăn ra chết. Em… Nhìn em ngơ
ngác định cãi lời… tim anh thắt
lại. Vậy là sao, em không hiểu chuyện
này thật sao, Bắc? Ê, Khánh, có
lẽ tụi mình đùa giỡn quá
mức. Những chuyện dung tục kiểu này
đêm đêm tụi mình vẫn kể
cho nhau nghe, cười hô hố, cười sặc
sụa. Dân Lâm Nghiệp ở rừng nhiều
hơn ở trường, hoang đàng mọi
rợ đã quen. Tao với mày cũng
chẳng lạ gì chuyện đời, chuyện
tục, càng tục càng cười to. Có
lẽ Bắc thuộc về một thế giới
khác. Thế giới không có những
thằng con trai nham nhở như tụi mình. </p>
<p align="justify">
Bắc
sẽ không cãi. Bắc sẽ không hỏi
vì sao câu chuyện phi lý, vì sao dừa
rớt trúng đầu người này mà
người kia chết vì bị cắn đứt
lưỡi. Thằng Khánh cũng đã
biết điều nó muốn biết, Bắc
chưa hôn ai bao giờ. Còn anh, anh đang
tự trách mình. Thôi để anh tìm
những chuyện vui vẻ đàng hoàng
nghiêm túc nói với em. Hơi khó,
Bắc à. Chuyện vui bao giờ cũng…
bậy. </p>
<p align="justify">
Bắc
mến,</p>
<p align="justify">
thả
hết con dốc này, qua khỏi cánh đồng
kia thì đến nhà của Bắc. Chạy
chậm chậm một chút để anh còn
thời gian kể chuyện khác cho Bắc nghe.
Tới nhà Bắc là hết chuyện! Chỉ
dám đứng bên gò mắt mèo,
ngơ ngác nhìn đồng nước bao
la. Căn nhà lá nhỏ xíu của hai
bà cháu nằm chơ vơ giữa cù
lao. Anh với Khánh quần thảo suốt mấy
buổi chiều mà không sao leo được
tới thềm nhà Bắc. Lỡ quẹt trúng
mắt
mèo ngứa rát da. Bắc ơi! Ruộng
nước không sâu mà không sao lội
hết. Con mương không rộng mà không
thể nhảy qua. Anh đứng giữa đồng
không, chẳng biết đâu là bờ.
Thằng Khánh té giữa mương cạn
cứ tưởng mình lại nhảy trượt
chân. Ráng chiều tắt trên đầm
nước rộng mênh mang, hai cái bóng
đen ướt loi ngoi nhìn nhau cười như
khóc. Ễnh
ương ếch nhái oàm oạp cười
vang. Ánh đèn dầu heo hút khi xa khi
gần. Căn nhà trơ trọi, đêm
hôm có chuyện gì, hai bà cháu
biết kêu ai. Hỏi Bắc, Bắc cười.
Hỏi Nội, Nội trợn mắt nhìn. Anh
tự hỏi mình, tại sao số phận xui
khiến cho anh và thằng mắc dịch kia
quen Bắc.</p>
<p align="justify">
Tụi
anh đạp xe ra tới thị trấn thì áo
quần vừa ráo. Hai đứa ngồi uống
"sinh tố cao cẳng", nhìn con đường
dốc từ trường trung học đổ
quanh qua những hàng cây sao cao vút. Chỉ
có những người đã từng sống
ở Thủ Đức qua những năm tháng
êm đềm này mới biết tên
quán "sinh tố cao cẳng”. Anh không
muốn giải thích, xem như một kỷ
niệm chua ngọt mà chỉ người Thủ
Đức mới có thể chia sẻ cho nhau.
Thằng Khánh ngồi im không nói gì,
cũng không rõ nó nghĩ gì. Ở
thị trấn này Bắc đã lớn
lên. Con đường này đã đưa
Bắc đi qua những năm tháng ấu thơ.
Đêm Thủ Đức, khu làng Đại
Học mênh mang mùi hoa sứ.</p>
<p align="justify">
Anh nói với
thằng Khánh.</p>
<p align="justify">
Khánh,
chiều mai tao với mày tìm cách đột
nhập đầm nước nhà Bắc chơi.</p>
<p align="justify">
Tự
nhiên rồi anh muốn trở lại thăm
Bắc, thật tình, không phải vì
thằng Khánh.</p>
<p align="justify">
Hai
đứa đổ bộ xuống bưng Sáu
Xã lúc trời còn nắng rát.
Nắng trải vàng trên mặt nước
bưng thành những mảng lấp lánh
xen giữa những cụm bình bát dừa
nước thẫm đen. Ngôi nhà của
bà cháu Bắc không biết ở chỗ
nào, chỉ thấy mặt nước đầm
loang loáng bốc hơi như hồ nước
nóng. Thằng Khánh nhớ rõ, từ
cây dừa bị sét đánh cụt
ngang đầu này đi qua cái gò mối
khổng lồ nằm trên doi bình bát
là chỗ Bắc lủi xe vô rồi mất
dấu. </p>
<p align="justify">
Hai
đứa đẩy xe đạp vô đầm,
loay hoay hết hai giờ đồng hồ thì
hai thằng tiến vô trận địa được
hơn ba mét. Ba mét là nhiều lắm
rồi. Thằng Khánh xắn quần đi giáp
lùm năng thì về lại chỗ cũ.
Anh nhìn cái mặt đầy sình của
nó mà cười muốn sặc nước,
chắc nó mới lọt xuống mương.</p>
<p align="justify">
Ê,
Khánh. Hai đứa mình phải tấn
công đồng bộ mới mong tiến thêm
được vài mét nữa. Cứ mỗi
chiều dò được vài mét là
tháng sau tụi mình vô tới giữa
bưng. Mày lấy cái sào tre này
dò bên mé ruộng nước đó.
Dò chỗ đất cứng mà đi, nhớ
cắm lại mấy cành tre khô làm
dấu. Tao dò bên ruộng cỏ. Coi chừng
mấy cành mắt
mèo. Đụng vô ngứa thấy ông
bà. Cứ từng bước mà tiến
vô, nhắm căn nhà trên gò nước
nổi. Ủa, căn nhà biến đâu
rồi, mới thấy lấp ló sau rặng
dừa nước mà. Ê, Khánh, chỗ
này là chỗ nào, sao mắc mèo
mọc dày đặc. Làm sao quay trở
ra. Cha mẹ ơi, ngứa quá, càng gãi
càng ngứa rát da, chắc tao với mày
chết ngứa chết khô trong rừng mắt
mèo.</p>
<p align="justify">
Ê,
ê, Khánh, nhón gót nhìn phía
kia coi. Hình như là bà Nội của
Bắc. Bà già gánh hàng đi băng
băng trên nước, lạ chưa. Khánh,
lẹ lên, quăng mấy cái cây đi,
nhanh nhanh, thủ tiêu tang chứng. Giọng mày
lớn, la cho hoành tráng coi. Khoan. Đừng.
Cái thằng cù lần này, sửa
giọng Nam dùm cái, dân vùng này
mà nghe cái giọng Bắc giấm phèn
của mày không thương nổi. Tao mà
còn ghét nữa, nói gì ai. </p>
<p align="justify">
Ê,
làm mặt hiền lành nghen.</p>
<p align="justify">
Thưa
Nội. Nội ới. Con là Khánh.</p>
<p align="justify">
Dạ…!
Thưa Nội. Nội đi chợ chiều về?</p>
<p align="justify">
Nội
ơi. Hai đứa con xin phép Nội được
ghé vô thăm bạn Bắc. Tụi con là
sinh viên khoá trên. Tới trao đổi
bài vở với bạn, có một số
đề cương ôn thi mới. Làm sao
băng qua bên đó hả Nội. Chỗ
nào? Bước đâu? Á. Thôi chết
con rồi. Khánh, kéo tao lên, mày,
thằng vô duyên ngậm miệng lại,
cười cái gì. Dạ, Nội ơi,
ướt hết hai ống quần rồi. May quá,
có Nội qua dẫn đường.</p>
<p align="justify">
Thưa
Nội. Nội khoẻ không? Để bạn
Khánh gánh hàng phụ Nội. Khánh
à, bạn đi sau cẩn thận nghe, nhìn
cho kỹ, bám cho sát.</p>
<p align="justify">
Trời
ơi, sao Nội già cả mà ở chỗ
hẻo lánh hoang vu giữa bưng biền như
vầy. Dạ, xin phép Nội cho bạn Khánh
vô học bài với bạn Bắc. Con ở
chơi ngoài vườn với Nội. Dạ,
không sao, thưa Nội, quanh quẩn ngoài
đây cho mát. Ủa, Nội xách nước
hả? Nội để con, để con xách
nước cho Nội. Đổ nước đầy
lu này cho Nội nghen. Mấy đám rau thơm
này be bờ lên liếp, phải không
Nội? Để con. Ủa, Nội đi đâu
rồi ta. Trời! Nội vác chi nặng vậy?
Để con. Ủa, cánh cửa nhà mình
sút bản lề nè, Nội ơi. Để
con. Chẻ đống củi này luôn nghen,
Nội. Để con. Khiêng hết vô bếp
cho Nội, nghen. Sợ tối nay mưa ướt
rồi Nội không có củi nấu xôi.
Để con.</p>
<p align="justify">
Thằng
Khánh ôn dịch kia, tại vì mày
mà sư phụ làm muốn cụp xương
sống. Mày nói chuyện gì với em
lâu lắc trong đó. Ngồi gần người
đẹp là quên trời quên đất
nghe. Thằng cù lần, vô đề được
chưa? Lẹ lên. Bóc lột sức lao
động từ thiện của tao quá nghen,
mày.</p>
<p align="justify">
Dạ,
đúng rồi đó, Nội. Nhà có
con gái lớn, ai mà để hai thằng
tướng tá không đàng hoàng
lấp ló cả buổi chiều ngoài mé
ruộng. Hàng xóm dị nghị chết.
Lần sau tụi con tới, không thèm gọi
tên em Bắc nữa, cứ kêu "Nội
ơi, Nội à". Kêu vậy cho đàng
hoàng tử tế, danh chánh ngôn thuận.
Mà sao mấy bờ ruộng nhà Nội khó
đi quá. Tụi con quần thảo hết mấy
buổi chiều cũng không vô được.
May mà có Nội thấy tội nghiệp
dắt vô. Nội thật là tốt bụng.
Nội thật là tử tế. Ngồi đây
mát ghê. Nhà Nội mát ghê, ngồi
hoài không muốn về.</p>
<p align="justify">
Khánh
ơi, đi về. Đủ rồi, để hôm
khác tới nữa. Tao làm việc từ
chiều tới giờ đói muốn chết.
Học hành gì cái bản mặt mày
mà ngồi lì trong đó.</p>
<p align="justify">
Dạ,
bạn Khánh học giỏi lắm Nội à.
Trong lớp, con học giỏi nhất rồi tới
bạn Khánh. Học kỳ vừa rồi hai
đứa con đều là sinh viên tiên
tiến. Con chỉ thiếu một điểm bên
môn "Chế biến gỗ" nữa là
được sinh viên giỏi rồi. Cứ
chiều giờ này, ăn uống xong là
hai đứa lấy sách ra đọc. Đọc
một mạch tới khuya là đi ngủ,
không chè chén nhậu nhẹt, không
đánh bài hút sách, không cãi
lộn chửi thề. Dạ, hai đứa đều
vinh dự là Đoàn viên ưu tú,
thưa Nội. Năm ngoái suýt nữa là
tụi con ra ứng cử ban chấp hành Đoàn
trường, nhưng lo học quá nên không
có thời gian làm chuyện ruồi bu. Dạ,
dạ, tụi con gần ra trường rồi, còn
mấy tháng nữa thôi, học cho có
mà cũng ra trường. May quá. Ra trường
là về Cao Nguyên làm việc, Nội
à. Tới chừng đó bận rộn
phá rừng sợ ít còn dịp tới
đây cuốc cỏ tưới rau phụ Nội.
Mà, Nội trồng cây thuốc làm gì
nhiều ghê. Thơm ghê. Mùi thơm này,
mùi thuốc này, quen lắm. Cánh đồng
nước này… mặt trời lặn
phương Quái Khảm…</p>
<p align="justify">
Nguyễn
Hộ Pháp! cẩn thận! cẩn thận,
chậm lại, có điều gì không
ổn.</p>
<p align="justify">
Khánh,
mày có thấy gì lạ không? Bà
cụ bán xôi từng tuổi này mà
lội băng băng trên đầm nước.
Đứa con gái đẹp như Tây Thi
sống giữa đồng hoang. Có cái gì
phi lý ở đây. Họ là ai? Mùi
cỏ thuốc, đầm nước mênh mông,
bờ bụi vây phủ, một cõi trời
riêng biệt. Con đường vào theo
phương Quái Khôn lạnh lẽo, nhìn
về Quái Ly giữa lúc hoàng hôn,
đầm lầy như bốc lửa... Trời
ơi, đâu phải cỏ thuốc, toàn
là loại độc dược hung hiểm.
Mạn đà la, mã tiền, nam hương
sơn… Mấy loại cây này đâu
có ưa đất ngập, bỏ công đem
giống về đầm lầy chăm sóc
như vầy chắc phải có dã tâm
lớn lắm. Có cái gì đó
bất thường… Cái cổ tay của
một bà già sao lại tròn trịa
mịn màng. Không, chưa về được
đâu. Tao muốn biết, họ là ai,
những con người kỳ bí này là
ai.</p>
<p align="justify">
Nội
đãi đậu nấu xôi hả Nội.
Để con sàng nếp cho Nội. Con làm
được hết, không phải là loại
công tử con nhà giàu đâu. Bản
thân con đi từ nghèo đói mà
lên. Con làm việc quen rồi. </p>
<p align="justify">
Nội
bào dừa hả Nội. Cái này thì
con chịu thua. Ngồi một chân nạo rồn
rột như vầy, té chết. Dân lâm
nghiệp làm gì biết bào dừa,
đốt rừng thì dễ chứ bào
dừa thì khó. Để con kêu hai đứa
tụi nó. Khánh ơi, chiều nay học
vậy đủ rồi. Ra chẻ hết đống
củi này cho Nội. Để Bắc bào
dừa. Con nói cho Nội nghe, cái thằng
Khánh này hơi công tử bột nhưng
được cái dễ dạy, sai đâu
làm đó. Không sai thì không
làm. Nội ngồi nghỉ lưng chút đi.
Đây, ghế đây. Trời, ghế gì
long chân long cẳng hết vậy nè. Nhà
Nội cái gì đụng vô cũng
lung lay, nhà thiếu đàn ông là
nó vậy. Khánh, lần sau chở mấy
cái ghế gỗ cẩm lai xuống cho Nội,
nghe chưa. Ba nó là quan lớn ngoài
Bắc vô, má nó thuộc hàng
trưởng lão bên Bộ Hình, nó
chở gỗ xuống đây xây nhà
thuỷ tạ cho nội còn được, xá
gì mấy cái ghế. Chà, Bắc bào
dừa giỏi quá nghen, con gái hiền lành
nết na học giỏi lại đảm đang.
Bắc nói gì. Nói nhỏ xíu vậy
ai mà nghe được. Chỉ anh bào dừa
với nghen. </p>
<p align="justify">
Ờ, tuần
sau tụi anh thi rồi, học không vô nổi.
Mấy cặp phạm trù triết học Bắc
còn nhớ không, tụi anh học lâu
quá, quên hết rồi, có người
ôn lại dùm dễ thuộc hơn. Ngày
mai Bắc rảnh, ghé qua giảng đường
học chung với anh. Chán cũng phải học,
Bắc à. Bắc hỏi sao? Môn chủ
nghĩa cộng sản ai dạy? Trời ơi, còn
ai trồng khoai đất này, thầy Tấn,
diễn viên diễn cương số một
của đoàn kịch nói Bộ môn
Triết Học Mác Lê. Có lần thầy
giảng hăng sùi bọt mép.<i> "Cuối
thế kỷ thứ mười sáu, vì sự
lớn mạnh và trưởng thành ào
ạt của giai cấp công nhân, giáo
hội Thiên Chúa La Mã đã phải
nhân nhượng đi tới thoả hiệp
sửa đổi thánh kinh: Chúa Giê-su
sanh ra trong gia đình thợ rèn, nghĩa
là cũng thuộc về giai cấp công
nhân vô sản."</i> Ha, ha. Bắc cũng…
biết cười sao? Bắc cũng có óc
khôi hài à. Anh cố nín cười,
nhìn qua thấy thằng Khánh đang chúi
nhủi trong góc ngủ ngon lành. Anh tự
hỏi, sinh viên tụi mình đi thi thì
phải viết sao đây? Cái thứ triết
học Mác Lê bị nhào nặn méo
mó, bị cắt xén cụt què để
cho tụi mình làm hành trang vào
đời. Ờ, cười thì cười
chứ tủi nhục lắm. </p>
<p align="justify">
Bắc nói
sao? Nhà thầy Tấn nghèo lắm, tội
nghiệp lắm. Anh xin lỗi Bắc, anh hoàn
toàn không có ý định chế
nhạo gia cảnh thầy. Cái nghèo với
cái dốt tuy có mối tương quan
triết học với nhau nhưng cần phân
định rõ ràng cái nào là
nguyên nhân cái nào là nguyên
cớ. Có lần anh ghé thăm, thấy vợ
chồng thầy giấu vội vàng nồi cơm
độn với dĩa rau luộc, anh xúc động
lắm. Lúc đó anh cứ nghĩ, nếu
sau này thành đạt anh sẽ quay lại
trường tìm cách giúp đỡ
thầy. Nhưng đó là chuyện khác,
Bắc à. Giảng viên đại học
như thầy, trình độ văn hoá
bổ túc chỉ vừa đủ để
biết đọc biết viết, mà viết
cũng còn sai chính tả lung tung làm
sao đủ sức đưa tụi mình vào
đời. Thương binh xuất ngũ như
thầy, ăn cơm độn để hò
hét tuyên truyền dùm người khác
lý tưởng, những thứ mà bản
thân thầy chắc cũng không còn
tin. Nhìn thấy cái phi lý của cuộc
đời là một lẽ, đi tìm nguồn
gốc của sự phi lý là một lẽ
khác. Anh biết, nói chuyện với anh
chán lắm, anh xin lỗi Bắc, thằng Khánh
cũng than hoài. </p>
<p align="justify">
Ờ,
Khánh ơi, chẻ củi xong chưa? Cái
thằng kỳ cục này, mới chẻ mấy
cây củi mà xong. Đang vui sao đòi
về. </p>
<p align="justify">
Thôi,
thưa Nội tụi con về. Chiều rồi, để
Nội nghỉ ngơi. Nhà còn chuyện
gì, Nội cứ để đó, hôm
sau tụi con tới làm luôn. Bờ mương
bên này thấy lở lói hết, để
bữa nào con be lại. Mấy hàng rào
chuồng gà cũng ọp ẹp quá. Trong
xóm có tre hay tầm vông thì con đốn
về dựng lại. Xin phép Nội tụi
con về, tối nay tụi con phải học bài
chuẩn bị thi tốt nghiệp.</p>
<p align="justify">
Ê, Khánh
ghé bùng binh Thủ Đức kiếm gì
ăn đỡ đi. Vụ này tao thấy
phức tạp quá. Tao không chắc tụi
mình tới thêm vài lần nữa sẽ
tìm được đường vô. Nếu
tao giả bộ vô xóm chặt tre về
làm chuồng gà, may ra, hỏi được
tin tức từ hàng xóm chung quanh. Nhưng
tao không tin, họ có vẻ lập dị,
chưa chắc hàng xóm đã biết
gì nhiều. Chuyện tình yêu của
mày hơi sức đâu sư phụ è
cổ ra gánh. Tao chỉ tò mò. Bà
già im im không nói thì tao không
đoán được. Nhưng mày có
nghe giọng nói của Bắc không. Cách
con nhỏ phát âm, không phải là
giọng vùng bưng. Tao là dân Thủ
Đức, sanh ra lớn lên ở Thủ Đức,
nghe giọng là biết liền. Người ở
thị trấn, ở làng Đại Học, ở
Cư xá Kiến Thiết nói giọng thành
phố, dân ruộng dân bưng quanh vùng
nói giọng nhà quê. Ờ, cái xứ
này kỳ vậy đó. Mày là
dân Hà Nội biết gì. Hơn nữa,
dân vùng này đâu bao giờ đặt
tên con là Hoài Bắc. Chỉ có
người Bắc di cư mới có tên
đó, nhưng giọng con nhỏ này không
có vẻ gì pha giọng Bắc di cư.
Cách ăn mặt của bà già này
cũng không có vẻ gì là người
gốc Bắc. </p>
<p align="justify">
Nếu hai bà
cháu này là ai, sao lại giấu tung
tích ra bưng sống ẩn dật, chắc
phải có điều gì bí ẩn.
Điều bí ẩn có thể nằm ở
chỗ, bà già định giết mày.
</p>
<p align="justify">
Ờ, bà
già định giết mày. Thù oán
gì mà ra tay tàn độc dã man
như vậy.</p>
<p align="justify">
Con đường
vô nhà chỉ có bà già và
Bắc biết, lẽ nào bà ấy không
biết cái giếng hoang đó. Nó nằm
trong đám cỏ năng um tùm, tao đi
ngang qua miệng giếng mà không hề hay
biết, mày đi sau chỉ chệch một
bước mà trượt chân xuống đó.
Bả thừa biết đoạn đường
này có giếng hoang mà không báo
trước, lại dắt tụi mình lội
ngang qua miệng giếng. Nước xoáy kéo
mày mất hút, chỉ còn thấy cánh
tay. Nếu tao không đẩy đại bánh
xe đạp xuống cho mày bám vô. Nếu
trong lúc hoảng loạn đó, mày
không nắm được cái bánh xe.
Nếu tao không sẵn dắt theo chiếc xe
đạp. Nếu tao không bình tĩnh mà
hoảng hốt, nhảy tới kéo mày rồi
hai đứa sa luôn xuống giếng. Nếu…
nếu… Khánh, liệu bà già đó
có cứu tụi mình không? Trong lúc
nguy khốn đó, tao kêu lên thất
thanh mà bả vẫn dửng dưng đi tiếp.
Lòng người độc địa tàn
nhẫn vậy sao. Mày hỏi, tại sao tao cứu
mày. Tao cũng không biết. Mọi chuyện
xảy ra quá nhanh để tao còn kịp
nghĩ, cái chết của mày là cơ
hội để cho lòng thù hận của
tao được siêu thoát. Giữa tao và
mày là mối thù giai cấp, mối
thù xương máu đâu có dễ
mà tha thứ cho nhau. Khi tao kéo được
mày lên, thân hình mày đã
mềm oặt không sự sống. Đứng
trước cái chết của mày, lẽ
ra tao phải sung sướng nhưng thật tình
tao chỉ thấy tuyệt vọng. Tao kêu réo
tên mày, gọi ba hồn chín vía
mày về ăn cơm với cá. Thê
thảm tới mức Trời Đất cũng
phải động lòng. Dĩ nhiên là
tao không đóng kịch, có ai ở đó
coi đâu mà diễn tuồng. Chỉ có
bà già mà bả te te đi luôn
không thèm dòm lại. Bỗng nhiên
rồi tay mày quờ quạng tìm nắm
tay tao. Tao cười sặc ra nước mắt.
Thằng chó chết mắc dịch dài
hơi. Được rồi, lần này kể
như tao vì hoảng hồn mà quên đi
hận thù, nhất định phải có
lúc nào đó tao với mày thanh
toán nợ nần với nhau..</p>
<p align="justify">
Cái chết
đi qua trong gang tấc. Nó không xảy ra
lần đó thì sẽ xảy ra lần
khác, nếu tao với mày còn mon men
theo con đường cũ mò vô. Có
bao nhiêu cái giếng hoang trên đồng
này? Chẳng lẽ người quanh đây
không ai biết? Tao để ý coi trên
miệng giếng có gì khác lạ
không, chỉ thấy một cụm mạn đà
la đang ra bông trắng. Nhìn ra cánh
đồng, hoa trắng lô nhô. Có bao
nhiêu cái giếng độc địa nằm
ẩn trên đồng? Tao hỏi Bắc, nó
quay mặt đi, giọng nó vô cảm kỳ
dị.</p>
<p align="justify">
"Năm ngoái
con bò nhà anh Cu Lớn cũng xảy chân,
chết chìm dưới giếng."</p>
<p align="justify">
Tao hỏi.</p>
<p align="justify">
"Giếng
nào."</p>
<p align="justify">
Bắc chỉ
bâng quơ về bên trái. Con đường
tụi mình vô bên phải.</p>
<p align="justify">
"Mấy cái
giếng của ai?"</p>
<p align="justify">
"Của mấy
chủ nhà cũ. Hồi xưa họ sống
ở đây. Mùa nước lên ngập
lút hết miệng giếng hoang. Con bò sa
chân xuống mà không kéo xác
lên được, xác nó nằm trong
giếng hôi thúi suốt hàng tháng.
Thành ra, dân vùng này ít ai dám
đi băng qua đầm."</p>
<p align="justify">
Khánh, đó
có phải là cách giải thích
hợp lý không? Bắc biết gì về
mày, bà già biết gì về tụi
mình. Tao cũng giả cách nói bâng
quơ.</p>
<p align="justify">
"May mà
đầm này không có đỉa."</p>
<p align="justify">
Bắc tái
mặt, rùng mình. Rõ ràng là
nó rất sợ đỉa, và bị ám
ảnh.</p>
<p align="justify">
Khánh, chiều
nay mày có ăn uống gì ở đó
không? Một ngụm nước của họ
cũng không được uống. Quanh nhà
trồng toàn cây cỏ độc. Bà
già này chắn chắn rành về độc
dược, bả muốn giết mày –
có khi sẵn trớn giết oan luôn tao –
thật là chuyện dễ như trở bàn
tay. Có những thứ độc dược
không màu, không mùi, không vị,
chỉ cần chạm tay vô là chết
ngủm. Người đàn bà này,
đứa con gái này làm tao nhớ
tới… phải rồi, có hai mẹ con
từng sống trong Đường Sơn gia trang.
Họ không là kẻ thù của tao. Họ
là kẻ tử thù của gia đình
mày. </p>
<p align="justify">
Nhưng có
bao nhiêu người trong căn nhà này,
trên đầm lầy này? Cảm giác
bị theo dõi thật là bất an. Cái
nhìn bám theo dai dẳng phía sau lưng,
có những lúc, tao bất ngờ quay lại,
tưởng bắt quả tang bà ấy đang
nhìn mình. Nhưng bà già vẫn
ngồi yên như vậy, cắm cúi làm
việc, dường như không quan tâm gì
đến sự hiện diện của kẻ
khác. Cảm giác bị nhìn, bị
biến thành vật thể, bị biến
thành đối tượng cho một chủ
thể khác là cơn ác mộng. Nhưng
mọi thứ không chỉ dừng lại ở
đây. Chủ thể đó là ai? Bạn
hay thù? Có một kẻ thứ năm, cả
tao và bà ấy, cả mày và Bắc
đều lọt vào tầm quan sát của
nó. Ở đây, trong thể bị động
chúng ta là những kẻ thua thiệt. Họ
là ai? Mình là ai, trong mắt họ?</p>
<p align="justify">
Chắc tối
hôm qua tao nhậu nhiều quá, cả ngày
nay chập chờn. Con gà trống đứng
bên bờ mương nhìn tao lom lom. Con gà
kì dị chỉ có một chân. Tao hỏi
Bắc, tại sao con gà chỉ có một
chân. Con nhỏ xanh mặt, lắp bắp không
thành tiếng: <i>"Gà… gà nào…
mà một chân".</i> Lúc tao quay sang,
con gà bên bờ mương đã biến
mất như từ lúc nào.</p>
<p align="justify">
Mày cứ
hỏi, tại sao người đàn bà
đó lại định giết mày. Chứ
không lẽ định giết tao? Tao có
gây thù chuốc oán với ai đâu
mà bị giết. Chuyện này không
hay đâu. Con gái thiếu gì, sao cứ
đâm đầu yêu nó. Quên mấy
chuyện này đi, được không?
Tán tỉnh chơi qua đường vậy
là đủ rồi. Tao bận lắm, đang
lo nối đường dây chuyển gỗ từ
cao nguyên về đồng bằng. Tao lo tới
phờ phạc, không có thời gian để
yêu đương đâu, chỉ tập
trung vô chuyện kiếm tiền. Làm sao để
kiếm được thật nhiều tiền.
Thật nhiều tiền. Thật nhiều tiền.
Quên những chuyện nhảm nhí khác
đi. Ờ, tao đang đánh hơi được
mùi tiền bạc, Thủ Đức đang
căng phồng ra cho tiền bạc tràn vô.
Quên đi, ờ, quên cái chuyện tình
tào lao, quên mấy cái kỷ niệm
đời sinh viên nhỏ nhặt. </p>
<p align="justify">
Mà, sao chớ?
Vẫn cứ không quên được, đúng
không? Bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu
thăng trầm. Giờ đây ngồi bên
máy tính gõ những dòng chữ
này, con tim tao lại mềm yếu xôn xao.</p>
<br>
<br>
<h2><strong><b>Comments</b>
<i>(15 total)</i></strong></h2>
<br>
<p align="justify">
<b>Duyên</b></p>
<p align="justify">
Anh Pháp! Cô
Hận, bà nội Bắc, bà lao công…
chỉ là một người thôi, đúng
không? </p>
<p align="justify">
Còn Pháp
sư? Thật sự anh là ai? Có liên
quan gì tới những cái chết? Mà
hình như, anh biết hết những người
trong diễn đàn này? Trời Đất,
lại có chuyện huyết hải thâm thù
gì với anh Khánh nữa.</p>
<p align="justify">
<b>Pháp</b></p>
<p align="justify">
Sao Duyên
không tự hỏi mình là ai? </p>
<p align="justify">
<b>Duyên</b></p>
<p align="justify">
Duyên chỉ
là người tình cờ đi ngang qua
Miền Hư Ảo, trong một phút dừng
chân bỗng bàng hoàng nhận ra mình.
Mình – của
ngày xưa trong ngổn ngang kỷ niệm yêu
thương và cay đắng.</p>
<p align="justify">
Mà thôi,
anh kể tiếp đi. Nhưng đừng kể
theo kiểu độc thoại nội tâm với
quá nhiều đối tượng, Duyên
thấy khó theo dõi quá.</p>
<p align="justify">
<b>Pháp</b></p>
<p align="justify">
Anh không tin,
<i>"Duyên chỉ là người tình
cờ đi ngang qua Miền Hư Ảo"</i>,
chẳng lẽ vì tình cờ mà Duyên
ở lại quá lâu trong diễn đàn
này, chẳng lẽ vì tình cờ mà
chọn tên Duyên.</p>
<p align="justify">
Hồi đó,
thằng Khánh yêu một cô sinh viên
con gia đình sĩ quan cao cấp chế độ
cũ. Chuyện tình dang dở làm thằng
Khánh đau khổ tới bây giờ, không
thể nào nguôi ngoai. Không biết người
đó có phải là Duyên không?
</p>
<p align="justify">
<b>Duyên</b></p>
<p align="justify">
Hồi đó,
Duyên yêu một anh sinh viên con gia đình
cán bộ cao cấp chế độ mới.
Chuyện tình dang dở làm Duyên đau
khổ tới bây giờ, không thể nào
nguôi ngoai. Không biết người đó
có phải là anh Khánh không?</p>
<p style="margin-left: 80px;" align="justify">
<i>Duyên trăm
năm đứt đoạn<br>
Tình một thuở
còn hương<br>
Hương thời gian thanh
thanh<br>
Màu thời gian tím ngát </i>
</p>
<p align="justify">
<b>Pháp</b></p>
<p align="justify">
Cảm ơn
Duyên đã thẳng thắn trả lời
và cóp tặng mấy câu thơ họ
Đoàn :-) Để anh gửi qua cho thằng
Khánh, nó về Cao Nguyên từ mấy
tháng nay không thấy liên lạc. Anh mới
ghé qua thăm blog của Duyên, chẳng thấy
viết gì, chỉ có mấy tấm hình
xứ tuyết trắng xoá, buồn thênh
thang. Ờ, sao Duyên không tự kể chuyện
tình của mình. Thời gian chưa đủ
dài để tụi mình xoá bỏ
hận thù và cảm thông cho nhau hay
sao?</p>
<p align="justify">
<b>Duyên</b></p>
<p align="justify">
Ba em chết
thảm trong lao tù.
Mẹ em vì đau khổ qua đời một
năm sau đó. Ba anh Khánh cũng đã
bất đắc kỳ tử. Những người
thế hệ trước đã lần luợt
ra đi, mang theo ân oán và thù hận.
Cái còn lại cho tụi mình chỉ
là niềm thương đau và mất
mát.</p>
<p align="justify">
Thời gian đã
đủ dài để tha thứ cho nhau, nhưng
quá dài để còn có cơ hội
quay lại. </p>
<p align="justify">
<b>Vũ Văn
Thung</b></p>
<p align="justify">
Hê hê.
Ban quản trị ngó lại dùm coi. Chơi
gì kỳ vậy, chơi ngang phè phá
luật kiểu này thì chơi với ai?
Em Duyên đang là người trong mộng
của tui tự nhiên rồi lỡ bước
sang ngang với người khác, lãng một
cái. Cha nội Khánh đang theo đuổi
Hoài Bắc, sao lại lằng nhằng tình
cảm với em Duyên? Sến gu Hàn quốc
vừa thôi nghe.</p>
<p align="justify">
Rồi tui cặp
với ai mà viết tiếp đây? Tui
không viết chay được đâu, phải
yêu đương mặn mà mới có
rung động sáng tác chớ.</p>
<p align="justify">
(Ai thích thơ
tình, mời qua blog tui thưởng thức
nghen.)</p>
<p align="justify">
<b>Pháp</b></p>
<p align="justify">
Gửi Thung:</p>
<p align="justify">
Xin nhắc lại.
Diễn đàn chỉ có một luật
chơi duy nhất. "<i>Người tham gia diễn
đàn không được phép tiết
lộ công khai trên mạng bất cứ
"thông tin cá nhân" nào của
chính bản thân, của các thành
viên khác và của những nhân vật
liên quan. Thông tin cá nhân bao gồm:
tên thật, tuổi tác, niên học,
địa chỉ nơi ở, địa chỉ
e-mail, số tel., chức vụ hiện tại, hình
ảnh." </i>Ngoài quy định này, các
thành viên của diễn đàn không
bị ràng buộc bởi bất cứ điều
gì – kể cả yêu đương ảo
:-)</p>
<p align="justify">
Câu hỏi
thứ nhì của Thung, xin trả lời như
sau: Bắc là em cùng cha khác mẹ với
Khánh. Trong suốt thời gian đóng kịch
theo đuổi em Bắc, thằng Khánh –
cũng như mẹ con cô Hận – đều
biết rõ cuộc chơi và đối
thủ của mình. Chỉ có Pháp Sư
là… vô tư. </p>
<p align="justify">
Gửi Duyên
và các bạn:</p>
<p align="justify">
Mình đang
định viết tiếp một entry về vụ
án mạng trên đầm nuôi đỉa,
nhưng diễn dàn vừa có thêm một
blogger mới, cái tên rất ngộ mà
bài viết cũng ngộ. Mời mấy bạn
kéo qua "M. blog" xem thử.</p>
<p align="justify">
<b>Vũ Văn
Thung</b></p>
<p align="justify">
Được
rồi. Tui cặp với Thanh Mai viết tiếp.
Dạo này cảm hứng ghê gớm, không
viết là không được.</p>
<p align="justify">
<b>Thanh Mai</b></p>
<p align="justify">
Thung@ á à…</p>
<p align="justify">
Xin miễn. Ai
mà chịu nổi. </p>
<p align="justify">
<b>Châu</b></p>
<p align="justify">
Duyên @:</p>
<p align="justify">
<i>"Cái
còn lại cho tụi mình chỉ là
niềm thương đau và mất mát."</i></p>
<p align="justify">
và một
mảnh sơn hà tơi tả nữa chứ
:-)</p>
<p align="justify">
Mình vừa
về công tác ở đồng bằng
sông Cửu Long, có dịp gặp lại
nhiều bạn cũ. Rất vui. Các bạn
vẫn đang thực hiện ước mơ của
người kỹ sư nông nghiệp, đưa
kiến thức về giúp đỡ bà
con nông dân. Tuy nhiên các bạn ở
những vùng sâu xa lại không có
nhiều điều kiện tiếp cận những
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới.
Chúng ta có thể lập một diễn
đàn trao đổi thông tin và kiến
thức để giúp đỡ nhau. Các
bạn nghĩ sao?</p>
<p align="justify">
<b>Thuý</b></p>
<p align="justify">
Thuý ủng
hộ Châu. Hiện thời Thuý đang làm
việc với các chuyên gia thuỷ nông
Hoà Lan trong chương trình chống nhiễm
mặn vùng Duyên Hải. Bạn nào cần
thông tin về thuỷ nông xin liên hệ
Thuý. Nhờ ban quản trị chuyển địa
chỉ mail dùm. </p>
<p align="justify">
<b>Phú</b></p>
<p align="justify">
Các bạn!
Mình vừa bò lên núi thăm Đặng
Thị Sầu. Định chụp vài tấm
hình chúa ngục (ngôn từ của Vũ
Văn Thung) để hù bạn bè chơi,
không ngờ chuyến đi để lại
nhiều kỷ niệm khó quên. Mình
tới nông trường mía nhằm trúng
mấy ngày vào vụ. Cả nông trường
đang tất bật vận chuyển hom và
xuống hom mía. Những cánh đồng
mía vừa qua đợt rạch hàng bón
lót, những cánh đồng bạt ngàn
vượt qua tầm mắt, chạy suốt từ
triền núi đá tới tận bờ
sông xa tít mù. </p>
<p align="justify">
Sầu bận
rộn tối tăm mặt mày, một mình
vất vả xoay trở giữa trăm ngàn
khó khăn, giữa ngổn ngang công việc.
Mình thương bạn mà không nỡ
ra về, đành ở lại cho Sầu bóc
lột sức lao động hai tuần.</p>
<p align="justify">
Sầu vẫn
như xưa, nhỏ nhắn và nghiêm nghị.
Tụi con nít phạm nhân thân mật
kêu Sầu là cô Sáu Sậu. Mấy
đứa này nhìn qua đố ai biết
tụi nó là loại tội phạm cướp
của giết người không gớm tay. Sầu
còn dặn mình, ban đêm nhớ khoá
kỹ cửa phòng, đừng để ý
tới những tiếng động bên ngoài,
có nghe gì cũng đừng bước
ra. Hè hè, chuyện dặn dò này
hơi thừa, cả ngày làm việc như
trâu, chạy ngược chạy xuôi hò
hét khan cổ, buổi tối đặt lưng
xuống là mình ngủ như chết. Súng
bắn ngay bên lỗ tai cũng mặc kệ.</p>
<p align="justify">
Lúc chia tay,
mình nói vui với Sầu câu này:</p>
<p align="justify">
"Sầu vẫn
lý tưởng như hồi đó." </p>
<p align="justify">
Không ngờ
Sầu trầm ngâm đáp:</p>
<p align="justify">
"Bởi vì
đánh mất lý tưởng và niềm
tin mà mình phải bám vô một
cái gì khác để tiếp tục
sống, tiếp tục đi tới."</p>
<p align="justify">
Mình về
lại thành phố, mang theo mãi bóng
dáng nhỏ nhoi của Sầu chạy tất
tả qua những cánh đồng khô. Lại
nhớ câu nói ngày nào của
Duyên: "Cuộc đời không cho thế
hệ tụi mình nhiều sự chọn lựa."</p>
<p align="justify">
Một thế
hệ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong
đói nghèo và trưởng thành
trong bất công. </p>
<p align="justify">
Dẫu mất
niềm tin, vẫn tiếp tục sống và
tiếp tục đi tới.</p>
<p align="justify">
<b>Lũ</b></p>
<p align="justify">
Cảm động.
Cảm động.</p>
<p align="justify">
Thằng Phú
thi sĩ ngày xưa chỉ biết làm thơ
con cóc để đăng báo tường,
tưởng như cả đời an phận cạo
giấy và quét màn nhện trong viện
nghiên cứu thổ tả, bỗng vì lên
núi thỉnh kinh ba ngày mà được
Thần Sầu giác ngộ. Nên nhớ, chụp
hình đăng trên diễn đàn là
phạm luật chơi. (Bên blog của Phú
thi sĩ còn giữ rất nhiều bài thơ
thời sinh viên cầm cuốc, ai thích thì
qua đọc lại).</p>
<p align="justify">
Phú @: </p>
<p align="justify">
<i>"Một
thế hệ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên
trong đói nghèo và trưởng thành
trong bất công." </i>
</p>
<p align="justify">
Ê, Phú.
Tao đọc câu này suýt nữa khóc
rống lên. Đoạn trường!!! Ủa,
mà tư tưởng này của mày
hay chôm chỉa ở đâu ra?</p>
<p align="justify"> </p>
<p align="justify">
Mày gửi
riêng cho tao địa chỉ nông trường
của Sầu đi, có dịp tao ghé qua
xem có liên kết, đối tác hay
giúp đỡ gì được không.</p>
<p align="justify">
<b>Phú</b></p>
<p align="justify">
Ê Lũ mập!
Hình như lớp mình có đứa
nào mạnh tay chi viện cho Sầu. Tao thấy
xe chở phân bón và thuốc trừ
sâu vô nông trường nườm nượp.
Hỏi Sầu, Sầu chỉ cười. Hiện
nay nông trường đang muốn chuyển
sang trồng lúa cạn vụ hè thu. Mày,
hay đứa nào làm bên nghiên cứu
giống, ráng tìm cho Sầu giống lúa
ngắn ngày chịu hạn. Sầu dự định
năm năm nữa, nông trường có
thể tự túc lương thực.</p>
<p align="justify">
Bạn nào
muốn liên hệ với Sầu, mình gửi
đường dẫn riêng. </p>
<p align="justify">
<b>Lũ</b></p>
<p align="justify">
Ê Phú!
Tao vừa đọc bài mới bên M. blog
xong, nhớ trường, nhớ thầy cô, nhớ
bạn bè quá xá. Mày qua đó
đọc thử rồi làm mấy câu thơ
tặng blogger M.</p>
<p align="justify">
Đã liên
lạc được với Sầu! Chuyện cô
Sầu này có nhiều điều bí
ẩn, tạm thời chưa thể công khai
trên diễn đàn.</p>
<p align="justify">
<br>
<br>
</p>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/GJWcp8rMo1A" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Lưu Thuỷ Hương</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-07T15:48:46Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/sang-tac/mien-hu-ao/phap-su-blog-ch-11</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/vu-tien-lang-truoc-ngay-thu-tuong-ra-quan">
        <title>Vụ Tiên Lãng trước ngày Thủ tướng ra quân</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/UACZmtVG9MY/vu-tien-lang-truoc-ngay-thu-tuong-ra-quan</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<h1 style="font-weight: bold;"><big>Vụ Tiên Lãng,
trước
ngày Thủ tướng ra quân</big></h1>
<p align="justify"><br>
</p>
<p align="justify">Các báo
trong nước đều đăng lại tin từ
cổng thông tin của chính phủ cho biết
«&nbsp;Thủ tướng sẽ chủ trì
họp giải quyết vụ Tiên Lãng&nbsp;»
dự kiến sẽ diễn ra trong tuần tới
(từ ngày 6 đến 10.2), như mục này
đã đưa <a
 href="http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/thu-tuong-se-chu-tri-hop-giai-quyet-vu-cuong-che">theo
tin VietnamNet</a> hôm qua. </p>
<p align="justify">Ngoài các
thông tin cụ thể về vụ việc, như
được vạch ra trong <a
 href="Li%C3%AAn+chi+h%E1%BB%99i+nu%C3%B4i+tr%E1%BB%93ng+th%E1%BB%A7y+s%E1%BA%A3n+n%C6%B0%E1%BB%9Bc+l%E1%BB%A3">Báo
cáo</a> của Liên chi hội nuôi
trồng thủy sản nước lợ huyện
Tiên Lãng, có lẽ thủ tướng
và các cố vấn cận thần của
ông cũng nên nhân dịp này đọc
một vài bài có tính chất tổng
quát về những bất cập do chính
hệ thống pháp luật của nước
ta gây ra, còn được nhấn mạnh
hơn do sự tuỳ tiện của những cơ
quan hành pháp trong sự «&nbsp;áp
dụng&nbsp;» các luật ấy.</p>
<p align="justify">Xin giới thiệu
các bài sau:</p>
<p align="justify">1/ <a
 href="http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/70455/So-huu-dat-dai-nhin-tu-vu-Tien-Lang.html">Sở
hữu đất đai nhìn từ vụ Tiên
Lãng,</a> trên Thời
báo Kinh tế Sài Gòn.</p>
<p align="justify">2/ <a
 href="http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/70460/De-thuc-thi-nghiem-phap-luat-dat-dai.html">Để
thực thi nghiêm pháp luật đất
đai,</a> trên cùng tờ
báo.</p>
<p align="justify">3/ <a
 href="http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/role-of-national-assembly-tlang-ml-01312012172943.html">Trách
nhiệm của Quốc Hội trong vụ Tiên
Lãng,</a> trên đài
RFA.</p>
<p align="justify">4/ <a
 href="http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120202-vu-tien-lang-hai-phong-chinh-quyen-dia-phuong-da-pha-hoai-chinh-sach-nha-nuoc-gay-">Vụ
Tiên Lãng, Hải Phòng: Chính quyền
địa phương đã phá hoại
chính sách Nhà nước,</a>
trên đài RFI.</p>
<p align="justify">5/ <a
 href="http://quechoa.info/2012/02/04/d%E1%BA%A3ng-h%E1%BA%A3i-phong/">Đảng
Hải Phòng</a>, trên blog của nhà
văn Nguyễn Quang Lập.</p>
<p align="justify">6/ <a
 href="http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/01/hoang-xuan-phu-nhan-vu-tien-lang-ban-ve.html">Nhân
vụ Tiên Lãng bàn về công vụ</a>,
bài phân tích tổng quát rất bổ
ích của giáo sư Hoàng Xuân Phú
trên blog của tiến sĩ Nguyễn Xuân
Diệu </p>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/UACZmtVG9MY" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Diễn Đàn</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-04T16:04:16Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/vu-tien-lang-truoc-ngay-thu-tuong-ra-quan</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/dich-thuat/wislawa-szymborska">
        <title>Wislawa Szymborska</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/Q-Tth9vqnq4/wislawa-szymborska</link>
        <description>Tờ Guardian (London) gọi bà là Mozart của Thi ca, Wislawa Szymborska nhà thơ lớn của Ba Lan, giải Nobel văn học năm 1996, vừa từ trần ngày 1.2.2012. Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc sơ lược tiểu sử của thi sĩ và 5 bài thơ do dịch giả Nguyễn Thái Linh chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Ba Lan.</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<h1 style="font-weight: bold; text-align: center;"><big><big>
Wisława Szymborska</big></big></h1>
<p align="justify">
<br>
</p>
<h3 style="text-align: center;"><big>Nguyễn Thái Linh</big></h3>
<p style="text-align: center;">(giới thiệu và dịch thơ)</p>
<br>
<div
 style="padding: 30px; float: none; margin-top: 10px; margin-bottom: 10px; margin-left: 10px; background-color: rgb(204, 204, 204); text-align: justify; width: 85%;">
<div
 style="float: left; width: 300px; margin-bottom: 20px; margin-right: 40px;"><img
 style="width: 300px;" alt="ws"
 src="wislawa-szymborska.jpg"><br>
<p></p>
</div>
<p align="justify">
Wisława Szymborska, nhà thơ lớn của Ba
Lan vừa qua đời ngày 1.2.2012 tại nhà
riêng ở thành phố Kraków sau một
thời gian dài lâm bệnh nặng, thọ
89 tuổi. Bà ra đi nhẹ nhàng, trong
giấc ngủ, giữa những bạn bè thân
thiết.</p>
<p align="justify">
Wislawa Szymborska sinh ngày 2.7.1923 tại Bnin ngoại
ô Poznan. Từ năm 1931 bà gắn bó
với thành phố Krakow. Tại đây, bà
đã học khoa Nghiên cứu Văn học
và Ngôn ngữ Ba Lan và khoa Xã hội
học trường Ðại Học Tổng Hợp
Jagiellonski. Bà xuất hiện lần đầu
trên báo vào tháng 3 năm 1945 với
thi phẩm "Tôi tìm lời". Từ
năm 1953-1981 bà là thành viên ban
biên tập tờ "Ðời Sống Văn
Học". Trong những năm 80 bà viết
cho tờ "Arka" và tờ "Văn Hóa"
(Paris). Szymborska sáng tác không nhiều,
trong suốt cuộc đời bà chỉ viết
khoảng 350 bài thơ, những mỗi bài
thơ của bà đều được đón
nhận như một sự kiện lớn. Thơ
bà đã được dịch ra nhiều
thứ tiếng như Anh, Pháp, Ðức, Hà
Lan, Tây Ban Nha, Séc, Slovakia, Thụy Ðiển,
Bungaria , Albani, Trung Quốc và tiếng Việt.
Bà cũng dịch thơ Pháp, tuyển tập
thơ dịch của bà được đánh
giá rất cao. Bà được nhiều
giải thưởng trong nước và quốc
tế, trong số đó có giải thưởng
của PEN-Club (Ba Lan), giải thưởng Goethe,
giải thưởng Herder. Ngày 3.10.1996 Wislawa
Szymborska được tặng giải Nobel văn
học. Năm 2011, bà được tổng
thống trao tặng huân chương Đại
bàng Trắng, huân chương cao quý
nhất của Ba Lan. </p>
<div
 style="float: right; width: 300px; margin-bottom: 20px; margin-left: 40px;"><img
 style="width: 300px;" alt="TL" src="thailinh.jpg"><br>
<p style="text-align: center; font-style: italic;"><small>Thái
Linh và Anders
Bodegard, người dịch thơ Szymborska sang tiếng Thuỵ Điển, trong Hội
nghị quốc tế lần thứ 2 những người dịch vãn học Ba Lan</small></p>
</div>
<p align="justify">
Szymborska đã trải qua phần lớn tuổi
trẻ của mình trong Ðại chiến thế
giới thứ II, nhưng bà ít viết về
chiến tranh. Bà sáng tác chủ yếu
về hoàn cảnh của con người, mối
tương quan giữa cá nhân và lịch
sử, đặt ra những câu hỏi căn
bản về ý nghĩa, mục đích
của những nỗ lực, đam mê, kinh
nghiệm và suy tư của con người.
</p>
<p align="justify">
Thơ của bà không phải là những
lời giải đáp thông thường
sẵn có hay những câu trả lời đơn
nghĩa. Đầy châm biếm, nghịch lý,
phản tư sâu sắc, bậc thầy về
từ ngữ và hình thái... là
những đặc điểm nổi bật trong
thơ Szymborska.<br>
<br>
Szymborska là một hiện tượng
lạ và là một câu đố: giản
dị, kín đáo và lặng lẽ
thu hút người đọc. Nhà thơ
đến thẳng với công chúng qua mặt
các nhà phê bình và không cần
đến các phương tiện thông tin
đại chúng. Bà tạo ra một trường
phái thơ riêng, một ngôn ngữ
riêng, không trùng lặp và xa lạ
với những hệ thống triết học tư
tưởng sẵn có, những thói quen,
định kiến, ngộ nhận. Tiếng nói
trong thơ bà cũng là tiếng nói
say mê vẻ đẹp của cuộc sống,
tiếng nói trữ tình dưới sự
kiểm soát của lý trí, tiếng
nói của trí tuệ mà vẫn thật
nhạy cảm.</p>
</div>
<p align="justify">
<br>
<br>
</p>
<h2>&nbsp; &nbsp;<br>
<b><big>Không có gì hai lần</big></b></h2>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Không có
gì xảy ra hai lần<br>
Và sẽ không.
Vì thế<br>
Chúng ta sinh ra không theo thông
lệ<br>
Và chết đi chẳng bởi thói
quen.<br>
<br>
Dù chúng ta là những học
viên<br>
Ngu dốt nhất của mái trường
thế giới<br>
Thì ta cũng sẽ không
nhắc lại<br>
Một mùa đông hay mùa
hạ qua rồi.<br>
<br>
Không có ngày nào
là sẽ tái hồi<br>
Chẳng có hai
đêm nào giống nhau đến hết<br>
Không
có hai nụ hôn y hệt<br>
Hai cái nhìn
vào mắt như nhau.<br>
<br>
Ngày hôm qua,
ai đó như đâu<br>
Ở gần em,
nhắc tên anh thành tiếng<br>
Em thấy
như có bông hồng chao liệng<br>
Rơi
vào từ ô cửa sổ mở tung.<br>
<br>
Ngày
hôm nay, khi có anh cùng<br>
Em quay mặt vào
tường lặng lẽ<br>
Bông hồng ư?
Bông hồng nào thế?<br>
Là
hoa ư? Hay là đá, biết đâu
chừng?<br>
<br>
Vì sao ngươi, giờ khắc,
cứ hòa cùng<br>
Với nỗi sợ nỗi
bất an vô ích?<br>
Ngươi hiện hữu
– nên phải trôi qua, nhất thiết<br>
Ngươi
trôi qua – nên điều đó đẹp
sao!<br>
<br>
Mặt tươi cười, ôm lấy
vai nhau<br>
Ta cố gắng kiếm tìm thỏa
hiệp<br>
Dù chúng ta thật là khác
biệt<br>
Tựa như hai giọt nước trong
veo.</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h2><b><big>Nói
không cường điệu về cái chết</big></b></h2>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Nó không biết đùa<br>
Không thạo về các
vì sao<br>
về đào mỏ,
dệt kim, trồng trọt, xây cầu<br>
về nướng bánh
hay đóng tàu.</p>
<p align="justify">Trong thảo luận của
chúng ta cho kế hoạch mai sau<br>
Nó xen vào lời
cuối<br>
Lạc đề.</p>
<p align="justify">&nbsp;<br>
Thậm chí nó không
hề<br>
biết những điều
liên quan đến nghề của nó<br>
Không biết đào
huyệt,<br>
chẳng biết đóng
quan tài,<br>
không biết dọn cho
tuơm những gì mình đã bộn
bày.</p>
<p align="justify"></p>
<p align="justify">Bận giết chóc đầy
tay,<br>
nó làm việc vụng
về, không hệ thống<br>
không thiện nghệ
chuyên sâu<br>
Như thể với mỗi
chúng ta, nó thực tập lần đầu.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Chiến công nhiều<br>
nhưng cũng bao thất
bại,<br>
bao lần ra đòn bừa
bãi<br>
bao phen thử lại từ
đầu!</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Đôi khi nó chẳng
đủ sức đâu,<br>
để giết một
chú ruồi trong không khí.<br>
Đã nhiều lần
nó bị<br>
thua sâu bướm kia
trong cuộc chạy thi.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Tất cả những củ
hành, vỏ đậu, rễ bầu kia<br>
những xúc tu, những
vây và lỗ thở,<br>
những lông mao mùa
đông, những lông mã huy hoàng
rực rỡ<br>
chỉ&nbsp; nói lên
bao bộn bề dang dở<br>
trong công việc chán
chường của nó mà thôi.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Chẳng ăn thua chi, cái
ác ý với đời.<br>
Ngay cả sự tiếp tay
của chúng ta trong chiến tranh, đảo
chính,<br>
từ trước đến
nay, cũng vẫn còn là ít.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Những trái tim trong
trứng đang đập nhịp.<br>
Những chiếc xương
đang dài ra của trẻ sơ sinh.<br>
Những hạt giống
gắng nảy lên hai cánh lá đầu
tiên,<br>
đôi khi là cả
những cây cao nơi chân trời xa tắp.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Kẻ khẳng định
mình quyền năng trải khắp<br>
chính là bằng
chứng sống cho rằng<br>
y bất toàn năng.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Không có cuộc sống
nào<br>
dù trong khoảnh khắc
-<br>
không bất tử.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Cái chết<br>
luôn chậm chân<br>
đúng một khoảnh
khắc này.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Các cánh cửa vô
hình, nó gắng sức giật lay<br>
song chỉ là vô
ích.<br>
Những điều ai đã
kịp làm, dù nhiều dù ít,<br>
tử thần kia không
thể xoá đi.</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h2><b><big>Ba
từ kỳ lạ nhất</big></b></h2>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Khi tôi phát âm từ
“<i>tương lai”</i><br>
âm tiết đầu
tiên đã đi vào quá khứ.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Khi tôi phát âm từ
“<i>im lặng”</i><br>
tôi tàn phá nó.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Khi tôi phát âm từ
“<i>không có gì”</i><br>
tôi tạo ra điều
chẳng sự không-tồn-tại nào chứa
được.</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h2><big><b>Allegro
ma non troppo</b></big></h2>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Người đẹp lắm
– tôi nói cùng cuộc sống<br>
Rất đỗi phong nhiêu,
màu mỡ tuyệt vời<br>
Rất ếch nhái, rất
sơn ca, kiến mối<br>
Rất mầm chồi, ngỡ
đến thế mà thôi!</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Lấy lòng Người
tôi gắng sức không ngơi<br>
Tỏ ra đáng yêu,
mắt nhìn trong mắt<br>
Luôn là kẻ nghiêng
mình trước nhất<br>
Cúi chào Người
khiêm tốn, nhún nhường.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Bên này, bên kia,
tôi cố đón đường<br>
Chặn mọi nẻo trên
lối đi cuộc sống<br>
Tôi vút lên trong
say mê vui sướng<br>
Tôi lăn ra thán
phục dạt dào</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Chú châu chấu này
thật cỏ xiết bao<br>
Trái mâm xôi kia
mới rừng biết mấy<br>
Tôi quả thực không
dám tin điều ấy<br>
Nếu chính mình
chưa được sinh ra.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Chẳng tìm được
gì trong khắp bao la<br>
Sánh nổi với Người
– tôi nói cùng cuộc sống<br>
Dù khéo léo hay
vụng về lóng ngóng<br>
Không ai có thể
làm quả thông thứ hai.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Tôi ngợi ca sự
chính xác chẳng lệch sai<br>
Sức cuốn nhanh, sự
tài tình, hào phóng<br>
Hơn thế nữa, tôi
tán dương cuộc sống<br>
Bởi những nhiệm
màu, ma thuật, thần thông.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Miễn sao Người đừng
nổi cuồng phong<br>
Đừng tức giận,
bực mình hay tự ái<br>
Hàng nghìn năm từ
muôn trùng xưa ngái<br>
Tôi dỗ dành Người,
tươi ngọt trên môi. </p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Nắm rìa chiếc lá
con tôi kéo giật cuộc đời<br>
Người có ngừng
lại không? Người có nghe thấu
hết?<br>
Dù chỉ một lần,
dù trong chốc lát<br>
Người có quên
mình đang mải miết về đâu?</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h2><big><b>Bầu
trời</b></big></h2>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Phải bắt đầu
từ đấy: bầu trời.<br>
Ô cửa sổ không
khung, không bệ và không kính.<br>
Một lỗ hổng, ngoài
ra không gì hết,<br>
nhưng mở ra mênh
mông.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Tôi không cần chờ
đêm thanh trong<br>
hay ngước đầu
lên<br>
mới ngắm nhìn trời
được.<br>
Tôi có trời sau
lưng, trong tầm tay và trên mí mắt.<br>
Trời ôm quấn lấy
tôi thật chặt<br>
và nâng đỡ
tôi lên.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Ngay những đỉnh núi
ngất cao<br>
cũng không gần trời
hơn những thung lũng thẳm sâu.<br>
Không ở đâu<br>
có nhiều trời hơn
nơi khác.<br>
Lạnh lùng giống
nhau, trời đè nặng<br>
lên đám mây
cũng như xuống nấm mồ.<br>
Con cú mèo vỗ
cánh phất phơ<br>
cũng được trời
bọc bao như con chuột chũi.<br>
Một thứ rơi xuống
vực sâu, bạn hỡi<br>
là từ trời kia rơi
mãi vào trời. </p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Những khoảng-trời,
những mảnh-vụn-trời,<br>
những trời-luồng-hơi,
những trời-đụn-đống<br>
tơi xốp, bay hơi,
chảy tuôn và rực sáng.<br>
Trời hiện hữu khắp
nơi,<br>
Ngay trong bóng tối dưới
làn da cũng vẫn có trời. </p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Tôi ăn trời, tôi
thải ra trời.<br>
Tôi là cái bẫy
nằm trong bẫy,<br>
là kẻ ngụ cư
đang bị ngụ cư<br>
là cái ôm trong
vòng tay ôm,<br>
là câu hỏi để
trả lời câu hỏi.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Sự phân chia ra đất,
ra trời<br>
là lối nghĩ chẳng
hề đúng đắn<br>
về toàn thể này,
vẹn nguyên thống nhất.<br>
Nó chỉ cho phép
tôi sống sót sinh tồn<br>
dưới một địa
chỉ rõ ràng hơn,<br>
một địa chỉ
nhanh dò, chóng thấy<br>
nếu tôi bị kiếm
tìm.</p>
<p align="justify">&nbsp;</p>
<p align="justify">Dấu hiệu đặc
thù tôi mang trên mình<br>
là nỗi say mê và
niềm thất vọng.</p>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/Q-Tth9vqnq4" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Szymborska/Nguyễn Thái Linh</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-02T17:07:14Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/dich-thuat/wislawa-szymborska</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/tu-su-kien-tien-lang-nho-lai-va-suy-ngam">
        <title>TỪ SỰ KIỆN TIÊN LÃNG, NHỚ LẠI VÀ SUY NGẪM</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/qVY2YeAShnk/tu-su-kien-tien-lang-nho-lai-va-suy-ngam</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br><br>
<h1 style="text-align: center;"><big>TỪ SỰ KIỆN TIÊN LÃNG,<br>
NHỚ LẠI VÀ SUY NGẪM</big></h1>
<p style="text-align: justify;"><br>
</p>
<h3 style="text-align: center;"><big>Tương Lai</big></h3>
<p style="text-align: justify;"><br>
</p>
<p style="text-align: justify;">Là nhớ lại và suy ngẫm về sự kiện Thái
Bình 15 năm trước, 1997. Vâng, đúng 15 năm ! Bao nhiêu nước chảy qua
cầu ! </p>
<p style="text-align: justify;">Có lẽ trước khi sự kiện Thái Bình bùng
nổ, ít ai nghĩ rằng tại nơi đây, quê hương của lá cờ đầu sản xuất nông
nghiệp “ <span style="font-style: italic;">chị Hai năm tấn quê ở Thái
Bình</span> ”, nơi đây cũng là lá cờ đầu của “ <span
style="font-style: italic;">thóc không thiếu một cân, quân không thiếu
một người</span> ” trong kháng chiến, lá cờ đầu của hầu hết các hoạt
động, từ sản xuất đến văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng đời
sống mới… Thái Bình tự hào về người quê mình từng có mặt tại những điểm
hẹn của lịch sử : bắt sống tướng De Castries tại Điện Biên Phủ tháng 7
năm 1954, cắm cờ trên Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30.4.1975, cũng là
người Việt Nam “ <span style="font-style: italic;">chân dép lốp mà bay
vào vũ trụ</span> ”…</p>
<p style="text-align: justify;">Ấy thế rồi những ngày cuối cùng của
tháng 6 năm 1997 có tới 5 trên 7 huyện và thị của tỉnh gồm Quỳnh Phụ,
Hưng Hà, Tiền Hải, Ðông Hưng, Thái Thụy có khiếu kiện tập thể của bà
con nông dân về những vấn đề dân chủ và công bằng xã hội trong nông
thôn. Không được tiếp nhận và giải quyết thỏa đáng, những sự biến xảy
ra dồn dập hơn, mãnh liệt hơn, và có chiều hướng bạo lực từ cả hai phía
: chính quyền và dân. Và rồi, sự xuất hiện của cảnh sát cơ động đã đặt
các cuộc biểu tình ôn hòa và hợp thức vào tình thế bế tắc. Xu hướng bạo
lực ngày càng gia tăng. Sự kiềm chế và tính tổ chức ở những người biểu
tình càng giảm sút thì các sự biến xã hội càng khó kiểm soát. </p>
<p style="text-align: justify;">Một cuộc khủng hoảng chính trị xã hội
thực sự trong nhiều xã và huyện của nông thôn Thái Bình đã bùng nổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trung ương đã thành lập Tổ công tác đặc
biệt do đồng chí Phạm Thế Duyệt, Thường trực thường vụ Bộ Chính trị phụ
trách về Thái Bình để kịp thời xử lý tình huống và đưa ra những quyết
sách. Theo cách nhìn và phong cách làm việc của mình, Thủ tướng Võ Văn
Kiệt, cùng với việc theo sát những nhận định và quyết sách của Tổ công
tác trên, đã chỉ thị cho Tổ nghiên cứu Đổi mới [thường gọi tắt là Tổ tư
vấn của Thủ tướng, sau này là Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ],
cử một nhóm các nhà khoa học về một điểm nóng ở Quỳnh Phụ, từ góc nhìn
xã hội học để đưa ra những nhận xét và kiến nghị về sự kiện Thái Bình.
Viện trưởng Viện Xã hội học, thành viên của Tổ Nghiên cứu Đổi mới của
Thủ tướng được trao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Một nhóm về ở ngay trong lòng điểm nóng
: xã An Ninh gồm 4 người do Viện trưởng Viện Xã hội học phụ trách. Một
nhóm khác gồm ba cán bộ, do một Phó Viện trưởng phụ trách cùng hai cán
bộ nghiên cứu, đều là người quê ở Thái Bình, đi theo tuyến rộng, dọc
theo đường Hà Nam, Nam Ðịnh, qua Tiền Hải, vòng về thị xã, qua Ðông
Hưng, Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Kiến Xương để tìm hiểu âm vang và độ nhiễm
cảm của các sự kiện bạo động trong tỉnh. Một nhóm khác nũa xuất phát
sau một tuần, đến huyện Thái Thụy nơi có điểm nóng Thái Thịnh để đo sự
diễn biến sau sự kiện An Ninh và dư luận quần chúng về các giải pháp
của chính quyền tỉnh đã áp dụng. Ðồng thời với các nhóm đi khảo sát tại
Thái Bình, nhóm nghiên cứu về hộ kinh tế gia đình và địa vị của người
phụ nữ tại Hải Hậu, Nam Ðịnh được trao nhiệm vụ kết hợp khảo sát thêm
về chủ đề mà nhóm nghiên cứu ở Thái Bình đang tiến hành. Một nhóm nữa
đang nghiên cứu tại 10 xã trong 3 tỉnh (Hà Nam, Nam Ðịnh, Ninh Bình) về
đề tài biến động dân số cũng được trao nhiệm vụ thu thập thêm tư liệu
về chủ đề như đã nghiên cứu ở Thái Bình. </p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, bản <a
style="font-weight: bold; font-style: italic;"
href="http://www.diendan.org/viet-nam/bao-cao-ve-vu-noi-day-o-thai-binh/">báo
cáo tổng kết sẽ đăng dưới đây</a> là dựa trên các tư liệu thu thập được
qua phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp, các văn bản của tỉnh, huyện, xã
(băng ghi âm ghi lời người được hỏi và tập hồ sơ ghi lại nội dung đã
thu vào băng) cùng với 8 báo cáo của các cán bộ đi khảo sát và sơ kết
của nhóm khảo sát. Cũng do đó, báo cáo về “ Sự kiện Thái bình ” được
hình thành trên cái nền nhận thức của những người nghiên cứu về nông
thôn, đặc biệt là nông thôn vùng đồng bắng Sông Hồng. </p>
<p style="text-align: justify;">Giờ đây, trước sự kiện Tiên Lãng vừa
xảy ra mở đầu cho năm 2012 gây bức xúc trong dư luận, nhìn lại “ Sự
kiện Thái Bình ” năm 1997 để suy ngẫm càng thấy rõ cái logic tất yếu
của sự bùng nổ từ những nung nấu tiềm ẩn trong đời sống nông thôn và
trong tâm trạng của người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng. Một điều
tưởng như đã chìm vào trong quá khứ : mọi chính quyền nhà nước qua các
biến thiên của lịch sử đều phải đối diện với nông dân, nông thôn, nông
nghiệp ở một nước mà hệ văn minh lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa chi
phối toàn bộ đời sống. </p>
<p style="text-align: justify;">Từ tháng 8 năm 45, chúng ta cứ ngỡ là
với nhà nước được mệnh danh là của dân, do dân và vì dân chắc sẽ không
phải lo về sự đụng độ và đối đầu với cái biển nông dân mênh mông và
mãnh liệt ấy. Sau bao nhiêu hy sinh xương máu, chiếc đòn gánh tre vẫn “
chín dạn hai vai ” [Nguyễn Du] người nông dân chân lấm tay bùn để góp
phần to lớn vào sự nghiệp “ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ” đất nước
với gần 80 % dân số sống ở nông thôn. Thế nhưng những thành quả của Đổi
Mới, của “ hiện đại hóa ” thì người đô thị hưởng phần lớn, bà con nông
thôn chẳng được là bao. còn hệ lụy của “ công nghiệp hóa và đô thị hóa
” thì họ gánh đủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguy hại nhất là đất đai, nguồn sống
bao đời và cũng là khát vọng bao đời của họ đang dần dà bị teo lại và
có khi mất sạch. Mà đất đai, “ quốc gia công thổ ” lại nằm trong tay
nhà cầm quyền. Nhân danh nhà nước, nhân danh sở hữu toàn dân, họ tha hồ
thao túng, mà nông dân thì chỉ còn ngậm đắng nuốt cay để trở lại với
câu than thở cho thân phận người thấp cổ bé họng : “ <span
style="font-style: italic;">Trời sao trời ở không cân. Kẻ ăn không
hết, người lần không ra</span> ”. </p>
<p style="text-align: justify;">“ Trời ” nói đây có lẽ là “ những ông
trời con ” đang nắm lấy “ cán cân công lý ” vào buổi nhiễu nhương pháp
luật như trò đùa, muốn nghiêng bên nào cũng được, điển hình là vụ Ba
Sương, anh hùng thời kỳ Đổi mới cà cha lẫn con trên Nông trường Sông
Hậu, được phong tặng danh hiệu “ người phụ nữ tiêu biểu của Đông Nam Á
”,là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam,
vì “ lực hút của đất ” [từ đất nông nghiệp thành đất dự án với lợi
nhuận khổng lồ] mà người phụ nữ ấy bị đẩy vòng lao lý hơn bốn năm trời,
để rồi trước sức ép của dư luận người ta phải buông tha, hủy bỏ bản án !</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng dù sao thì Ba Sương cũng là người
có “ danh phận ” nổi trội để có thể gọi dậy dư luận, còn biết bao thân
phận thấp cổ bé miệng khác thì biết kêu ai như bà Vũ Thị Hải ở Nho
Quan, Ninh Bình mà báo <a
style="font-weight: bold; font-style: italic;"
href="http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1390&amp;Chitiet=45441&amp;Style=1">Đại
Đoàn Kết</a> số ra ngày 30.1.2012 vừa nêu. Bà Hải cùng chồng khai
hoang, trồng rừng, chồng chết vì tai nạn lao động lúc đào đất, nhưng
rồi đất khai hoang của hai vợ chồng bà bị cướp sạch để rồi bà Hải lại
trở thành người làm thuê ngay trên mảnh đất rừng vợ chồng bà khai hoang
giờ đây chủ mới là ông Bí thư xã !</p>
<p style="text-align: justify;">Và rồi, người nông dân không thể cam
chịu. Tức nước vỡ bờ, đó là quy luật muôn đời. Sự kiện Thái Bình năm
1997 và sự kiện Tiên Lãng với cách ứng xử quyết liệt của người cựu
chiến binh Đoàn Văn Vươn là sự phát triển logic của cuộc sống. Thật
đáng suy nghĩ khi chị&nbsp; Phạm Thị Hiền, vợ của anh Đoàn Văn Quý, em
ruột ông Vươn cũng đang bị tù, nói rằng chị “ không ân hận ” về những
gì xảy ra và gia đình chị “ chấp nhận mất ” để “ xã hội được ”. Chị
biểu tỏ một thái dộ rất đàng hoàng và đúng mực khi không coi vụ cưỡng
chế đất đai hôm 5/1 là thi hành công vụ mà là “ cướp ”, vì vậy gia đình
chị chỉ “ tự vệ quá giới hạn ”. Khi người nông dân nghĩ như vậy, và đã
hành động như vậy thì tầm vóc của sự kiện Tiên Lãng diễn ra 15 năm sau
sự kiện Thái Bình 1997 đã là một biến thái mới rất đáng suy ngẫm. Còn
nhớ, khi nghe báo cáo về cuộc Khảo sát Xã hội học về sự kiện Thái Bình,
do người viết báo cáo trình bày, đồng chí Phạm Văn Đồng đã không đồng
tình khi người báo cáo trình bày rằng : “ <span
style="font-style: italic;">ở đây không có chuyện địch ta, mà chỉ là
mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân</span> ”. Ông yêu cầu chỉnh lại : “ <span
style="font-style: italic;">Đây là mâu thuẫn giữa một bên là những
người cầm quyền hư hỏng, thoái hóa biến chất đè nén, áp bức để dân
không còn chịu được nữa, và bên kia là người dân phải vùng dậy đấu
tranh. Có phân tích như vậy mới tìm ra được giải pháp đúng</span> ”!
Quả là một nhận định thật tường minh và chuẩn xác. Đáng tiếc là điều ấy
đã không được nghiêm cẩn thực hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">&nbsp;Và cái gì phải đến thì đã đến.</p>
<h3 style="text-align: right;">Tương Lai</h3>
<p><small>NGUỒN</small> : <span style="font-style: italic;">bài do tác
giả gửi</span><br>
</p><img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/qVY2YeAShnk" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Tương Lai</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-02T02:29:57Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/tu-su-kien-tien-lang-nho-lai-va-suy-ngam</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/gia-dinh-co-so-3">
        <title>Gia đình cơ sở ở Huế, phần 3/3</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/02XLsPD-AL0/gia-dinh-co-so-3</link>
        <description>...Bác sĩ Hoàng Bá đã bị công an Bình Trị Thiên bắt năm 1978. Năm ấy ông 71 tuổi theo khai sinh. Nhưng không hiểu vì lý do gì, khi thẩm vấn, công an Bình Trị Thiên của ông Bảy Khiêm ghi ông 69 tuổi. Năm 1981 ông được thả với giấy ra trại ghi “bị bắt không lý do” (...) Trong những người tìm trầm, không ít kẻ do ngậm ngải quá lâu đã biến thành cọp. Sự chuyển hóa đáng buồn này dẫn đến kết quả là nạn nhân của “người - cọp” chẳng ai khác, mà chính là người đồng hành cùng y...</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<br>
<h1 style="text-align: center;"><big><b><big>Gia
đình cơ sở ở Huế</big><br>
</b>(Phần III&nbsp;</big>–<big> và hết)</big></h1>
<br>
<h3 style="text-align: center;"><big><big><big>
Chu Sơn</big></big></big></h3>
<br>
<br>
<h3><big>
6/ Gia đình cơ sở Hoàng
Bá </big></h3>
<br>
<p align="justify">
Người bị hại gián tiếp
bởi mảnh giấy vụn cháy dở còn
sót lại trong sọt rác của “Trung
tâm văn hóa thông tin Mỹ” ba năm
sau cuộc tháo chạy tán loạn của
Hoa Kỳ và đồng minh là bác sĩ
Hoàng Bá. Ông bị công an Bình
Trị Thỉên của ông Bảy Khiêm
bắt cùng ngày cùng giờ với
Nguyễn Thúc Tuân (1978). Theo Nguyễn Thúc
Tuân, bác sĩ Hoàng Bá bị cáo
buộc là đã mật báo cho bạn
thân là Đoàn Công Lập (nguyên
là Trưởng ty công an Thừa Thiên
của chế độ cũ), để người
này ra lệnh bắt Hoàng Kim Loan, một
cán bộ của Thành ủy Huế hoạt
động nội thành – vào đầu
năm 1972. Nguyên vào ngày đầu năm
1965, Nguyễn Thúc Tuân nhận nhiệm vụ
của Thành ủy Huế đưa Hoàng
Kim Loan từ chiến khu vào thành phố
và tổ chức nơi ăn chốn ở cho
ông này. Vào những thời điểm
khác nhau, Hoàng Kim Loan qua giới thiệu
của Nguyễn Thúc Tuân đã tới
và tá túc tại nhà bác sĩ
Hoàng Bá. Việc Hoàng Kim Loan bị
địch bắt là tội của Bác sĩ
Hoàng Bá, đồng thời là tội
của Nguyễn Thúc Tuân. Nhận định
của Công an Bình Trị Thiên là
như thế. Bởi Nguyễn Thúc Tuân đã
biết nhà bác sĩ Hoàng Bá là
“ổ kiến lửa” mà vẫn đưa
Hoàng Kim Loan tới. </p>
<p align="justify">
Tôi gặp bác sĩ Hoàng Bá
tại Trung tâm thẩm vấn Thừa Thiên
Huế vào giữa năm 1972. Chúng tôi
bị bắt sau ông Hoàng Kim Loan mấy ngày
và đều bị cáo buộc là
hoạt động cho Cộng sản “theo lời
khai của Hoàng Kim Loan”. Thực tế ông
Hoàng Kim Loan có khai hay không tôi không
biết. Nhưng khi tôi đòi đối
chứng thì thẩm vấn viên không
thực hiện. </p>
<p align="justify">
Sau khi ra tù, tôi có đến
thăm bác sĩ Hoàng Bá một vài
lần tại nhà ông ở trên đường
Phan Châu Trinh gần cầu Nam Giao. Vợ ông
một công nương dòng họ Nguyễn
Phước, thời niên thiếu chơi đùa
cùng cậu bé Vĩnh Thụy sau này
là vua Bảo Đại. Chuyện đời
xưa là như thế, nhưng hiện tại
(1972) bà trông coi một bãi bán sạn
cát dùng cho xây dựng. Ông, sau khi
về hưu rồi ở tù, tiếp tục
khám và chữa bệnh tại nhà cho
những gia đình quen thân và bà
con lối xóm. Cái gia đình “tầng
lớp trên” này đang cùng sống,
cùng tồn tại giữa một góc Huế
không còn ranh giới giàu nghèo, cao
thấp, quí tộc và bình dân. </p>
<p align="justify">
Mấy tháng đầu sau giải
phóng, nhà ông Hoàng Bá ồn ào
đông vui hơn ngày thường. Bạn
bè bà con từ trên núi xuống,
từ ngoài Bắc vô, từ trong Nam ra. Một
sớm nào đó cuối năm 1975, Hoàng
Anh Hào con trai thứ của Bác sĩ Hoàng
Bá đến chỗ tôi và bảo: Ba
mời anh lên, có một người khách
từ trên Đà Lạt xuống muốn
gặp và thăm anh. Tôi lên, gặp ông
Năm Lực, một người rất lạ và
cũng rất quen đối với tôi. Ông
là Bí thư Khu ủy khu 6. Nguyên là
cuối năm 1974 tôi trốn thoát khỏi
nhà giam quân cảnh Đà Lạt, chạy
ra chiến khu, tá túc tại cơ quan khu
ủy 6 mấy tháng. Chính ông Năm
Lực đã liên lạc với các
nơi thẩm quyền và tổ chức đưa
tôi về lại Huế. Qua câu chuyện
tôi biết hai ông ( Hoàng Bá và
Bí thư Năm Lực) thời trai trẻ ở
quê nhà là bạn chí thiết (Hà
Tĩnh). Thời trung niên hai ông tiếp tục
phát triển tình bạn trong một tình
thế đặc biệt. Ông Năm Lực là
cán bộ kháng chiến ở Phan Thiết.
Bác sĩ Hoàng Bá là bệnh viện
trưởng bệnh viện Phan Thiết (trong vùng
địch tạm chiếm). Ông đã đóng
góp công sức cho kháng chiến theo
cách riêng trong vị thế đặc biệt
của ông. Giữa hai ông, bên ngoài
là hai chiến tuyến, nhưng bên trong họ
vẫn là một trong ý thức, tình
tự Dân tộc. </p>
<p align="justify">
Thì ra bác sĩ Hoàng Bá
là người quảng giao. Ông không
chỉ quen thân với những người mà
sau này Công an bình Trị Thiên xem là
đối tượng nguy hiểm, phản động,
tay sai Mỹ Ngụy như Đoàn Công Lập
chẳng hạn. Ông còn quen và thân
thiết hơn với nhiều người đã
lận đận gian khổ, sống chết cùng
đất nước suốt hai cuộc kháng
chiến. Ngoài ông Năm Lực, tôi còn
gặp tại nhà bác sĩ Hoàng Bá
nhà thơ Chế Lan Viên, giáo sư bác
sĩ Tôn Thất Tùng và nhiều người
khác thuộc phe ta. </p>
<p align="justify">
Hơn thế nữa bác sĩ Hoàng
Bá còn là người “xanh vỏ
đỏ lòng”, ông ủng hộ kháng
chiến, đã là cơ sở của
Thành ủy Huế từ 1954 đến khi nước
nhà độc lập thống nhất. Trong các
tài liệu ông Nguyễn Thúc Tuân
đưa cho tôi, tôi thấy có giấy
xác nhận của ông Lê Minh. Tôi
xin chép nguyên văn giấy xác nhận
này để ông Bảy Khiêm và
độc giả đời sau hiểu biết đầy
đủ hơn về một bộ phận trí
thức và phong trào đô thị Huế
thời chống Mỹ:</p>
<br>
<br>
<table
 style="width: 900px; text-align: left; margin-left: auto; margin-right: auto; background-color: rgb(255, 255, 221);"
 border="0" cellpadding="20" cellspacing="0">
  <tbody>
    <tr>
      <td style="width: 300px; vertical-align: top;">
      <p align="justify">Lê Minh<br>
Nguyễn Thượng Hiền<br>
Quận Hai Bà Trưng Hà Nội&nbsp;</p>
      </td>
      <td></td>
      <td style="text-align: right; vertical-align: top;">Hà
Nội ngày 18 – 10 – 1989</td>
    </tr>
    <tr>
      <td colspan="3" rowspan="1">
      <h3 style="text-align: center;"><big><big>TỜ
XÁC NHẬN</big></big></h3>
      <br>
      <p style="text-align: center;">
Quá trình hoạt động của
ông Hoàng Bá,<br>
ở số 3 Trương Định –
Huế</p>
      <br>
      <p align="justify">
Kính gởi: Thường vụ Tỉnh
ủy Thừa Thiên – Huế</p>
      <p align="justify">&nbsp; &nbsp; &nbsp;
&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thường vụ Thành Ủy Huế</p>
      <br>
      <p align="justify">
Tôi tên LÊ MINH (tên thật
LÊ CHÂU), tham gia cách mạng năm 1936,
đã công tác Bí thư Tỉnh ủy
Thừa Thiên và Thành ủy Huế, Ủy
viên Liên khu ủy Liên khu 4, Liên khu
5, Khu ủy Trị-Thiên – Huế v. v…
Trước khi nghỉ hưu là Phó trưởng
ban nông nghiệp Trung ương Đảng.
Theo yêu cầu của bác sĩ Hoàng
Bá, tôi xin xác nhận như sau:</p>
      <p align="justify">
Từ đầu kháng chiến chống
Pháp, gia đình bác sĩ Hoàng Bá
ở trong nhóm cảm tình CM (Hoàng Bá,
Thân Trọng Phước, Phạm Bá Viên,
Lê Khắc Quyến, Hoàng Xuân Hiền,
Nguyễn ngọc Ban…). Nhóm này đã
có công tác quan trọng ngoài việc
vận động anh chị em trí thức, còn
chuyển thuốc men, y cụ, thầy thuốc lên
chiến khu…</p>
      <p align="justify">
Đến thời kỳ chống Mỹ,
gia đình BS HOÀNG BÁ trở thành
cơ sở bí mật, là nơi ăn ở,
đi lại của các đ/c Thành ủy
Huế. Mặc dầu không phải là đảng
viên, nhưng vợ chồng BS HOÀNG BÁ
đã thực hiện đúng nguyên
tắc một cơ sở bí mật của
Đảng, theo mọi yêu cầu của Đảng.
      </p>
      <p align="justify">
Đến năm 1969, Thường vụ
Khu ủy Trị Thiên - Huế có ý
định tổ chức cho BS HOÀNG BÁ lên
căn cứ để tham gia vào chính phủ
lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt
Nam, làm Bộ trưởng y tế. Bác sĩ
HOÀNG BÁ đã chấp nhận thoát
ly, nhưng sau đó thường vụ Khu ủy
và Trung ương Cục thấy một cơ
sở đang giữ được bí mật
cho nên không rút lên căn cứ mà
để tiếp tục hoạt động bí
mật. </p>
      <p align="justify">
Những năm sau Mậu Thân là
những năm hết sức khó khăn ở
thành phố Huế, gia đình BS HOÀNG
BÁ tỏ ra rất dũng cảm kiên định
đến ngày giải phóng thành phố
Huế. </p>
      <p align="justify">
Với sự hiểu biết của tôi
trên đây, đề nghị Thường
vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và
Thành ủy Huế nghiên cứu giải oan
cho gia đình BS HOÀNG BÁ và thực
hiện các chính sách, quyền lợi,
danh dự cho gia đình BS Bá. </p>
      <p align="justify">
Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm những lời xác nhận trên
đây. </p>
      <p align="justify">
Kính chào các đồng chí.
      </p>
      <br>
      <h3 style="text-align: right;"><big>
Đã ký: LÊ MINH</big></h3>
      <br>
      </td>
    </tr>
    <tr>
      <td style="width: 350px; vertical-align: top;">
      <p align="justify">Ban Nông Nghiệp Trung ương xác
nhận chữ ký và
cương vị của đ/c LÊ MINH trong văn bản này là đúng. </p>
      <p style="text-align: left;">
Hà Nội ngày 19 – 10 –
1989</p>
      <p align="justify">
TL / Ban nông nghiệp TƯ<br>
Phụ trách Vụ TCCBộ</p>
      <p style="text-align: right;">
Đã ký: Nguyễn Văn Án</p>
      <p style="text-align: right;">
(và đóng dấu)</p>
      </td>
      <td></td>
      <td style="width: 350px; vertical-align: top;">
      <p align="justify"> Đảng ủy Phường Nguyễn
Du xác nhận chữ ký trong bản này
đúng là chữ ký của đ/c TƯ
MINH, và các cương vị của đ/c
TƯ MINH đã nói trong văn bản này
là đúng với lý lịch của
đ/c MINH mà đảng bộ phường
đang quản lý. </p>
      <p align="justify">
Ngày 20 - 10 - 1989</p>
      <p align="justify">
TM, BCN Đảng bộ Nguyễn Du</p>
      <p align="justify">
Bí thư</p>
      <p style="text-align: right;">
Đã ký: Nguyễn Tiến Can</p>
      <p style="text-align: right;">
(và đóng dấu)</p>
      </td>
    </tr>
  </tbody>
</table>
<br>
<br>
<p align="justify">Tôi không hoài nghi những gì
ông Lê Minh xác nhận cho ông Hoàng
Bá. Bản thân tôi qua những lần
trò chuyện với ông tại Trung tâm
thẩm vấn, tại ngoài đời sau khi
chúng tôi ra tù, và những lần
thăm hỏi bổ sung với các ông
Hoàng Lanh, ông Phan Nam, ông Nguyễn Thọ
(Hường) thì những xác minh của
ông Lê Minh mới chỉ là cốt lõi.
Thực tế và cụ thể những năm
tháng ông Hoàng Bá tham gia công tác
kháng chiến ở đô thị thời
chống Mỹ phong phú và thú vị
hơn nhiều. </p>
<p align="justify">
Nhưng sự thật về Bác sĩ
Hoàng Bá và phong trào đô thị
trong kháng chiến chỉ có những người
lãnh đạo, chỉ đạo và trực
tiếp quan hệ công tác như các
ông Lê Minh, Hoàng Lanh, Phan Nam, Nguyễn
Thọ (Hường), Nguyễn Thúc Tuân mới
biết. Mà Nguyễn Thúc Tuân thì
đã bị bắt với cáo buộc là
CIA, gián điệp Mỹ âm mưu chui sâu
leo cao. Còn các ông Tư Minh, Hoàng
Lanh, Nguyễn Thọ (Hường) thì đang
bị thất thế, bị xuống cấp, bởi
Mỹ đã cút – Ngụy đã
nhào, công cuộc kháng chiến trong
lòng địch, trong lòng các đô
thị đã cáo chung, nhiệm vụ lịch
sử đã chấm dứt, và công
cuộc thanh toán tàn dư của đế
quốc thực dân, bảo vệ thành quả
kháng chiến của cách mạng mới
được bắt đầu với ông Bảy
Khiêm và các thuộc cấp của ông
ở Ty công an. “Mỹ và CIA tuy đã
thua chạy, nhưng chiến lược hậu
chiến của chúng đang được vận
dụng. CIA năm đầu sáu tay, mưu ma
chước quỉ : gia đình như vậy,
bản thân như vậy, quan hệ xã hội
như vậy, chỉ có điên mới dấn
thân vào con đường kháng chiến
cách mạng đầy gian nguy và khổ
nạn”. </p>
<p align="justify">
Bác sĩ Hoàng Bá đã
bị công an Bình Trị Thiên bắt
năm 1978. Năm ấy ông 71 tuổi theo khai
sinh. Nhưng không hiểu vì lý do gì,
khi thẩm vấn, công an Bình Trị Thiên
của ông Bảy Khiêm ghi ông 69 tuổi.
Năm 1981 ông được thả với giấy
ra trại ghi “bị bắt không lý
do”. </p>
<p align="justify">
“Bị bắt không lý do”
có nghĩa là bị bắt oan, bị tù
oan, bị đối xử bất công: cực
nhục, xấu hổ trăm bề, không những
trong những năm ở tù mà ngay cả
nhiều năm sau khi đã “ra trại”.
Người lãnh đạo, chỉ đạo
và đồng chí, đồng sự biết
Bác sĩ Hoàng Bá bị oan, thương
cảm xót xa, nhưng chẳng làm gì
được. Bất lực hoàn toàn.
Chính bản thân họ cũng bị bao vây
bởi một mạng lưới ngờ vực.
Những kẻ xấu miệng thì rỉa rói,
cạnh khoé: “ để cho ông ấy
biết thế nào là ăn cơm Quốc
gia thờ ma Cộng sản. Đáng đời”.
</p>
<p align="justify">
Bác sĩ Hoàng Bá có năm
người con, ba gái, hai trai. Một trong ba
người con gái đi du học ở Bỉ
trước 1975, lấy chồng và ở lại.
Hai người con gái còn lại đều
tốt nghiệp đại học, là giáo
sư trung học. Hai người con trai học y
khoa: Hoàng Anh Dũng, con trai đầu, Hoàng
Anh Hào, con trai thứ. Tất cả đều
yên vui, đến năm 1978 bác sĩ Hoàng
bá bị bắt vì lý do chính trị,
cả nhà không ai được yên cả:
Vợ hoảng hốt lo sợ, con cũng tình
trạng như thế tại các nơi học
tập, công tác. Hoàng Anh Dũng và
Hoàng Anh Hào tốt nghiệp bác sĩ
Y khoa. Dũng đi làm ở bệnh viện
Quảng Ngãi, không chịu được
sự kềm kẹp, vượt biên. Hào
đi làm ở một bệnh viện huyện
thuộc tỉnh Quảng Nam, đau bao tử nặng,
chuyển ra điều trị tại Hà nội,
bệnh ổn định, được bác
sĩ Tôn Thất Tùng nhận ở lại
học chuyên khoa nội. Hai năm sau, tốt
nghiệp chuyên khoa, cầm mảnh bằng và
lý lịch địa phương xác nhận:
cha bị “bắt không lý do” đi
xin việc khắp nơi, chẳng ai thèm nhận
cả. </p>
<p align="justify">
Tôi đến thăm bác sĩ
Hoàng Bá mấy lần trước và
sau khi ông ra tù. Khu nhà thuê trên
đường Phan Châu Trinh đã trả
lại cho chủ sở hữu năm 1976. Gia đình
dọn về căn nhà trên đường
Lý Thường Kiệt. Ông đi tù,
bà ở nhà bán căn nhà này
để có tiền cho cả nhà sinh sống.
</p>
<p align="justify">
Một lần trở lại Huế năm
82, 83 gì đó, tôi tìm đến
thăm ông ở một căn nhà nhỏ
trên đường Trương Định.
Ông đã ra tù được vài
năm. Ông trở nên trầm mặc, không
còn lạc quan, sinh động và nhiều
cảm xúc như trước. Trong câu
chuyện ông cố dấu vẻ buồn rầu
thất vọng. Ông nói là con gái
bên Bỉ muốn bảo lãnh cho cả nhà
qua. Nhưng ngoài Dũng xốc nổi, đã
vượt biên, những người còn
lại chẳng ai muốn đi cả. Mình là
một phần của dân tộc, của đất
nước. Tách ra khỏi dân tộc, đi
ra khỏi đất nước như cái cây
bị đào gốc rễ. Ở lại thôi.
Khổ nạn của đất nước của
dân tộc cũng là khổ nạn của
chính mình, không hứng chịu lúc
này do bọn xâm lược thì phải
chịu hứng lúc khác do những người
dày công chống xâm lược thôi.
Phản hồi và bù trừ là hai qui
luật vẫn còn tác động trong đời
sống dân tộc sau chiến tranh. Người
làm chiến tranh cũng như người thầy
thuốc, dịch bệnh đã qua những
hiểm họa, vi trùng vẫn ám ảnh y
đến một thời điểm nào đó
nhất định. Cơn bạo phát của
dịch bệnh đã được ngăn
chận, nhưng di chứng vẫn còn đó
và biến chứng thì khôn lường.
Con bệnh có khi không chết vì bệnh
chính mà chết vì biến chứng.
Tai họa mà bản thân tôi, gia đình
tôi phải gánh chịu mấy chục năm
qua và còn kéo dài thêm một
thời gian nữa là hậu quả tất yếu
của cuộc chiến tranh kéo dài quá
lâu, quá khốc liệt, đồng thời
là dấu vết của một trình độ
văn minh và tâm lý dân tộc bị
uốn nắn một cách lệch lạc. Vua
quan và thần dân, tá điền và
địa chủ, thợ thuyền và nhà
tư bản là hai mặt của một tồn
tại lịch sử. Đúng sai, tốt xấu
thế nào khó mà phân định
rạch ròi trong một cự ly gần…</p>
<p align="justify">
Trong những người tìm trầm,
không ít kẻ do ngậm ngải quá
lâu đã biến thành cọp. Sự
chuyển hóa đáng buồn này dẫn
đến kết quả là nạn nhân của
“người - cọp” chẳng ai khác,
mà chính là người đồng
hành cùng y. </p>
<p align="justify">
Biết là vậy, nhưng nhiều
lúc cũng thấy hụt hẫng, tưởng
không đủ sức chịu đựng. Đã
có lúc muốn chết đi cho xong. Nhưng
nghĩ đi nghĩ lại chẳng giải quyết
được gì. Nỗi nhục nhã đau
đớn chẳng vì thế mà tiêu
tan…</p>
<p align="justify">
Bác sĩ Hoàng Bá càng
nói càng buồn, đôi mắt ông
ráo hoảnh, khác hẳn với những
lần gặp gỡ trước khi đi tù,
ông thường tỏ ra quá mẫn mỗi
khi nhớ, nghĩ, nói, nghe về một điều
gì thương tâm, ngang trái. Tôi
trái lại, càng nghe ông nói, tôi
càng muốn khóc. Suốt buổi, tôi
chẳng nói với ông điều gì.
Từ lâu, khi bước lần về phía
tuổi già, tôi cũng mắc chứng bệnh
như ông trước đây. Không cầm
được nước mắt khi xúc chạm
với bi thương, ngang trái. Mà bi thương
ngang trái thì quá nhiều trên cái
đất nước mà đã có lúc
tôi nghĩ tưởng rằng độc lập
và thống nhất là nền tảng để
đồng bào cả nuớc vượt qua
muôn vàn đổ vỡ, khó khăn do
xâm lược và chiến tranh, cùng
nhau kiến tạo lại con người, kiến
tạo lại đất nước. </p>
<p align="justify">
Sự kiện Hoàng Anh Hào không
có được một công việc đàng
hoàng, ổn định và bình đẳng
trong bất cứ một cơ quan y tế nào,
đối với gia đình ông Hoàng
Bá là một rẻ rúng, khước
từ của quê hương đất nước.
Họ đã làm một cuộc ra đi
chẳng đặng đừng với lòng
nặng trĩu nỗi cay đắng bẽ bàng.
</p>
<p align="justify">
Năm 2007 (hay 2008) tình cờ tôi
gặp Hoàng Anh Dũng tại nhà Phan Hoàng
Quí – con rể ông bà Hoàng Bá
và là bạn thân của tôi. Hoàng
Anh Dũng vượt biên năm 1982 và định
cư tại Bỉ. Qua Hoàng Anh Dũng tôi
có thêm mấy thông tin về người
bạn vong niên chẳng bao giờ gặp lại.
Vào tuổi 85, năm 1990, ông Hoàng Bá
đoàn tụ với gia đình nhưng
chia ly âm thầm với tổ quốc. Niềm
vui sum họp đối với ông giữa bốn
bề xa lạ chỉ là “vui gượng
qua thì”. Vợ chồng con cái sống
trong cùng một căn hộ mà đau đáu
“nhớ nhà” là tâm cảnh của
ông bà trong những ngày “xóm
làng xa vắng”. Ông nhắm mắt từ
biệt cõi đời đầu năm 1991 –
chưa đầy một năm rưỡi sau khi
rời Việt Nam. </p>
<p align="justify">
Trong phút lâm chung, từ giã
vợ con và các cháu nội ngoại,
ông lặp lại lời dặn dò mà
ông đã nói với họ rất
nhiều lần trong khoảng thời gian ngắn
ngủi nhưng đối với ông là
rất dài sống tại Bỉ: “Đưa
ba về nhà và làm bất cứ việc
gì có thể làm được để
chia sẻ với bà con…”</p>
<p align="justify">
Theo ba, Dũng nói: Nước và
Nhà là hai mặt của một thực tại
đối với người Việt Nam. Xa nước
cũng có nghĩa là xa nhà. Chia sẻ
với bà con trong nước cũng có
nghĩa là làm gì đó cho chính
mình, cho gia đình mình. </p>
<p align="justify">
Tôi hỏi Dũng: Tiến trình
trở thành một người Bỉ gốc
Việt của anh đã diễn ra như thế
nào? Các anh chị đã thực hiện
lời dặn dò, trăn trối của bác
Bá đến đâu?</p>
<p align="justify">
Dũng trả lời: “không kể
cuộc vượt biển bi thảm khốn khổ
như thế nào. Đến Bỉ việc đầu
tiên là đi kiếm việc làm. Do đã
là bác sĩ ở Việt Nam nên em được
tiếp nhận trong ngành y tế. Tại Bỉ
người ta không thừa nhận bằng cấp
ở Việt Nam nên em phải làm y công
rồi y tá, đồng thời học thêm
ngoại ngữ, ôn tập các kiến thức
phổ thông để thi tú tài. Xong tú
tài thi vào Đại học Y. Tốt
nghiệp đại học Y thi vào chuyên
khoa ngoại. Hoàn tất chuyên khoa ngoại,
làm việc tại khoa ngoại bệnh viện
của trường Đại Học, rồi trở
thành phó khoa. Khoa ngoại có một
kinh phí hằng năm dùng để nghiên
cứu và giúp đỡ y tế cho một
số vùng chậm phát triển trên
thế giới. Thay vì đi Phi Châu, em đi
Việt Nam. Em đi Việt Nam từ khi bắt đầu
đi làm tại khoa ngoại bệnh viện
đến bây giờ đã hơn 10 năm.
Năm nay về Việt Nam theo lời mời của
nhà nước trong dịp tuyên dương
những người Việt ở nước ngoài
đã đóng góp nhiều công sức
cho tổ quốc. </p>
<p align="justify">
Về lời dặn dò của ba, em
và Hào đã thực hiện nghiêm
chỉnh. Sau khi ba mất, chúng em đã đưa
tro ba về “nhà”, mặc dù nhà
đã bán từ khi ông đi tù.
Việc chia sẻ với bà con trong nước,
Hào cũng đã làm hết sức
theo cách riêng. Cậu ấy qua Bỉ chậm,
trở thành bác sĩ nội khoa, cũng
thường xuyên về lại Việt Nam để
làm cái gì đó cho bà con…”</p>
<p align="justify">
Trong gia đình ông Hoàng Bá
còn có một người không thể
không nhắc đến là Phan Hoàng
Quí. Phan Hoàng Quí là rể và
cũng xem như là con trai của gia đình
này đặc biệt đối với ông
Hoàng Bá, bởi Phan Hoàng Quí là
con của người bạn thân thiết thuở
thiếu thời của ông. </p>
<p align="justify">
Gia đình Phan Hoàng Quí đến
cư ngụ ở Phan Thiết nhiều năm trước
cách mạng tháng Tám. Cụ thân
sinh Phan Hoàng Quí tham gia kháng chiến
chống Pháp và đã hy sinh vào
thời kỳ này. Mẹ và anh em Phan Hoàng
Quí (Quí còn có người em là
Phan Hoàng Đồng. Phan Hoàng Đồng là tiến sĩ lâm học hiện ở Đức) lâm vào
tình
thế khốn đốn khi cha anh đi kháng
chiến và qua đời, đành phải
từ bỏ Phan Thiết đến mưu sinh tại
một vùng quê sau này là thị xã
Bình Tuy. Khi Hoàng Bá đến Phan Thiết
làm bệnh viện trưởng, ông đã
ra sức tìm kiếm vợ con người bạn
quá cố. Cuộc tìm kiếm không
phải dễ dàng vì gia đình Quí
đã rời xa Phan Thiết khá lâu
trước khi ông đến. Phải mất
nhiều tháng họ mới có manh mối
của nhau và tiếp nối mối tương
thân bị đứt đoạn. Sau khi đỗ
tú tài, Quí không vào Sài
Gòn mà đi Huế học đại học
vì mối tương thân này. Mối
tương thân ấy trở nên ruột
thịt khi anh và con gái ông Hoàng Bá
kết nghĩa vợ chồng. Việc Phan Hoàng
Quí đi Huế học và làm rể
ông Hoàng Bá làm phát triển
thêm cơ duyên anh gắn bó với
phong trào đô thị mấy năm, từ
Hiệp định Paris, khi anh du học Mỹ về.
Theo những thông tin của ông Hoàng Bá,
tôi đón Phan Hoàng Quí tại phi
trường Tân Sơn Nhất và chúng
tôi trở nên thân quen, bạn bè.
(Lúc bây giờ theo sự phân công
của Lê Công Cơ, tôi rời Huế
đi Sài Gòn đứng làm gạch
nối giữa phong trào đô thị miền
Trung và miền Nam). Phan Hoàng Quí không
phải là người của ý thức
hệ và của chủ nghĩa Dân tộc,
nhưng tình tự dân tộc rất sâu
đậm nơi anh. Anh nói với chúng
tôi: Vì tình tự dân tộc mà
tau đi với tụi bay. Tau đã tham gia
phong trào chống chiến tranh của Mỹ từ
bên Mỹ. Nhưng đứng ở góc độ
học thuật, tau không chống Mỹ một
cách cực đoan. Học thuật Mỹ về
mặt nguyên lý và những thành
tựu to lớn, vượt trội của nó,
có nhiều điều chúng ta phải học
tập để xây dựng lại đất
nước khi chiến tranh chấm dứt. Tau là
người có khuynh hướng xã hội
nhưng hoàn toàn không thích hợp
với bất cứ một thứ xã hội
chủ nghĩa nào cho dù là xã hội
chủ nghĩa Cộng sản hay xã hội chủ
nghĩa không Cộng sản. Những năm
tháng ở bên Mỹ, nhiều lúc tau
đã nghĩ đến đất nước,
một Việt Nam, một thế giới, một
nhân loại tự giải trừ hết mọi
ý thức hệ và mọi chủ nghĩa,
tôn giáo… Do vậy tau yêu cầu
tụi bay nên coi tau như một người
bạn, đừng coi tau như một đồng
chí, lại càng không như một
“đồng đạo”. </p>
<p align="justify">
Cuối tháng 3 năm 1975 sự thay
đổi quyền lực tại Huế không
làm cho Phan Hoàng Quí hò reo vì
“phe ta đã thắng”, cũng chẳng
làm cho anh hoảng sợ, tuyệt vọng vì
“tụi mình đã thua”. Anh chỉ
thở phào vì chiến tranh đã chấm
dứt. Sự thiếu thốn cực khổ trong
sinh hoạt, sự nghi ngờ và phân biệt
đối xử trong trường học (Đại
Học Sư Phạm Huế – nơi anh tiếp
tục giảng dạy) và trong khu phố (nơi
anh cư trú) đối với anh chưa phải
là một khổ nạn mà chỉ là
tất yếu. Sự kiện ông Hoàng Bá
– người cha vợ đáng kính
của anh – bi bắt và bị tù làm
anh thương cảm nhưng không làm anh
hoảng hốt. Quí bảo: “Tấn tuồng
đã chấm dứt, sân khấu phải
dẹp bỏ thôi. Tất cả những vai
diễn lớn bé, chính phụ, đã
trình diễn hay dự bị đều không
còn lý do để tồn tại. Những
nhân sĩ trí thức cỡ Lê Văn
Hảo, Nguyễn Thúc Tuân, Hoàng Bá…,
đến cả những đạo diễn cỡ
Lê Minh, những chuyên gia trực tiếp dàn
dựng như Hoàng Kim Loan, Phan Nam, những kỹ
thuật viên phụ trách ánh sáng,
âm thanh, phông màn, khuân vác như
tụi bay cũng đều là nạn nhân
của trò chơi chính trị. Mà
chính trị phản động hay chính
trị cách mạng cũng đều mưu
lược, thủ đoạn giống nhau, đều
lừa bịp, nham hiểm, độc ác, đê
tiện và hạ lưu. Được chim bẻ
ná, được cá quăng câu, qua
cầu rút ván… đều không
chỉ là châm ngôn của người
làm chính trị thời xưa…”</p>
<p align="justify">
Sau khi ông Hoàng Bá ra tù,
Phan Hoàng Quí vào thành phố Hồ
Chí Minh làm cán bộ giảng dạy
tại Đại Học Sư Phạm, anh có
điều kiện để định cư ở
nước ngoài nhưng dứt khoát không
đi, không phải là lý do chính
trị, cũng không phải là lý do
kinh tế, chỉ vì lý do cá nhân.
Quí nói: “Nghề nghiệp tau chọn
từ đầu là dạy học, từ khi
đi Mỹ về là dạy tiếng Anh. Tau
không thể dạy tiếng Anh cho người
Mỹ. Nếu vì bức xúc mà đi
Mỹ, tau chỉ làm một nghề nào đó
mà người Mỹ chê bởi tính
chất hạ lưu của nó, mặc dầu
xét về mặt kinh tế có thu nhập
cao hơn nghề dạy học ở đây.
Mấy năm đi học bên Mỹ, có
lúc nào đó tau đã trở
thành Hippy. Chống chiến tranh Mỹ, ngoài
lý do tau là Người Việt Nam, còn
có lý do tau là người Hyppy. Vô
kỷ, vô công, vô danh. Khẩu hiệu
của Hippy là thế. Xét về mặt
hình thức và hậu quả của nó,
Xã hội chủ nghĩa cũng có đôi
nét hippy. Không giống ai cả. Không
cần ai cả (trên bình diện thế
giới), không cần gì cả (xét về
mặt qui luật). Tau ở lại có phần
vì cái tí chút máu Hippy trong
người, chứ không hoàn toàn vì
lí do tau là người Việt Nam với
tất cả các mặt tốt xấu của
nó. Như thế tau ở lại không vì
chủ nghĩa dân tộc, cũng không vì
chủ nghĩa xã hội xét về mặt
ý thức hệ. Nhưng thực tế là
người Hippy cũng như những người
bình thường khác, cũng sinh, lão
bệnh, tử, khi đau cũng cần có
thuốc, khi đói cũng cần có cái
ăn, khi rét cũng cần có cái mặc.
Các điều kiện xã hội ngày
nay không thể cung ứng các nhu cầu này
của người Hippy. Phong trào Hippy tại
Mỹ đã rã đám vì cái
thực tế là rốt cùng họ không
thể tồn tại ngoài các cung ứng
hàng hóa và dịch vụ của xã
hội văn minh công nghiệp. Người
Cộng sản cũng như người Hippy thôi,
rốt cùng họ không thể sống ngoài
thế giới, ngoài những qui luật tồn
tại và phát triển. Tau rời Huế
đi Sài Gòn mà không định
cư ở nước ngoài vì nghĩ rằng
Sài Gòn dễ sống hơn và có
nhiều điều kiện để khởi đầu
cho công cuộc hội nhập cùng thế
giới trên nền tảng học thuật và
tự do, bước đầu trong một số
lãnh vực của cuộc đời sống
dân sự như kinh tế và văn hóa”</p>
<p align="justify">
“Tiếng Anh là ngoại ngữ
hàng đầu cùng với các ngoại
ngữ khác như Pháp, Đức, Tây
Ban Nha, Hoa, Nhật…sẽ giúp các thế
hệ học sinh, sinh viên và học thuật
Việt Nam khởi đầu công cuộc hội
nhập với thế giới. Tau dùng các
từ khởi đầu, bắt đầu hơi
nhiều trong những câu vừa phát biểu
là căn cứ trên trình độ
chung của giáo dục Việt Nam từ mẫu
giáo đến Đại học ngày nay.
Tau không hề bi quan hay tự ti khi nhận định
rằng có một khoảng cách rất lớn
giữa học thuật Việt Nam và học
thuật thế giới, đặc biệt là
học thuật Mỹ. </p>
<p align="justify">
“Đất nước đang như
một ốc đảo, học thuật Việt
Nam cũng chỉ là một ốc đảo
bé nhỏ. Khoảng cách giữa học
thuật Việt Nam và học thuật thế
giới là những dòng sông lớn,
những đại dương. Cần phải bắt
những cây cầu, đóng những con tàu
để đưa học sinh, sinh viên và
trí thức Việt Nam tiếp cận với
thế giới. Ngoại ngữ chính là
những cây cầu, những con tàu ấy.
Người dạy ngoại ngữ và các
phương tiện nghe nhìn chính là
người tham gia đóng tàu, xây cầu
và những vật liệu làm nên
chúng…”</p>
<p align="justify">
Xét về mặt cá nhân Phan
Hoàng Quí chỉ làm được một
phần những gì anh nói, đã bắt
được mấy nhịp cầu tre, làm
được mấy chiếc phao, đáp ứng
nhu cầu tự phát của một bộ phận
quần chúng bé nhỏ muốn giao tiếp
với bên ngoài không chỉ vì nền
học thuật của đất nước. Thực
tế nền học thuật của đất
nước ở trong tầm nhìn, tầm tay và
tấm lòng của các nhà hoạch
định sách lược của Đảng
Cộng sản. Việc “ xây cầu”,
“đóng tàu”, chăm lo cho nền
giáo dục, học thuật – nói và
làm trên bình diện vĩ mô hoàn
toàn phụ thuộc vào các vị ấy.
</p>
<p align="justify">
Sự chọn lựa: dứt khoát ở
lại để làm một công dân hữu
ích đến thời điểm này
(2010) vẫn còn là một thử thách
đối với anh. Con người là một
chủ thể độc lập trong tương
quan bình đẳng với mọi công dân
khác trong xã hội dân sự chưa
được chú ý một cách đúng
đắn và toàn diện, khi đất
nước chỉ được điều hướng
và lãnh đạo tuyệt đối bởi
một đảng cầm quyền. Với anh –
“một công dân quần chúng”
(ngoài đảng), với “một đảng
viên công dân” có một chênh
lệch khá lớn về tinh thần cũng
như vật chất, về trách nhiệm cũng
như quyền lợi. Thực tế này xúc
phạm dến danh dự và lòng tự
trọng của đám đông quần
chúng, dẫn đến hậu quả là
làm giảm sút hoặc triệt tiêu
nhiệt tình và ý thức trách
nhiệm trong mọi lãnh vực của đời
sống xã hội, là nguyên nhân của
mọi đình đốn, đổ vỡ. </p>
<p align="justify">
Vào đảng ư? Đã có
lúc tổ chức Đảng ở trường
Đại Học (sư phạm) đã đề
nghị trực tiếp với Phan Hoàng Quí
về việc này. Nhưng vào đảng
hay không vào đảng không phải là
vấn đề anh quan tâm. Giả định
anh trở thành đảng viên đâu
có giải quyết tận gốc rễ mọi
trăn trở của anh, đâu có thúc
đẩy sự phát triển xã hội
một cách tương đối hợp lý
mà theo anh chỉ có thể diễn ra trong
xã hội dân sự. Nhiều lần ban
chính sách thúc dục anh ra Phan Thiết
làm các thủ tục chứng nhận tình
trạng liệt sĩ của người cha đã
hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, Phan
Hoàng Quí đã từ chối. Anh bảo:
“Để cho linh hồn ông ấy yên
nghỉ. Ông đã sống đời ông.
Tôi đang sống đời tôi. Việc
xác nhận liệt sĩ cho ông là nhu
cầu của ai trong chúng ta? – Nhu cầu
của ông ư? làm sao biết được
vào thời điểm này ông nghĩ
gì về cuộc kháng chiến mà ông
đã tham gia và vì nó mà ông
chết? – Nhu cầu của mẹ và anh em
tôi ư? Chúng tôi không thấy có
nhu cầu đó – Nhu cầu của nhà
nước, của Đảng ư? Tôi không
biết nhà nước và Đảng có
nhu cầu ấy không? Nếu có thì
việc xác nhận liệt sĩ cho cha tôi
không phải là nhiệm vụ của gia
đình chúng tôi, mà là nhiệm
vụ của Đảng và nhà nước.
Vả lại cái chết cho dù vì lý
do gì cũng không nên là nguyên
nhân dẫn đến đau khổ, chia cắt
cho người đời sau. Giả định
cha tôi là liệt sĩ, giấy xác
nhận do nhà nước cấp sẽ được
treo tại một vị trí trang trọng trong
nhà chúng tôi. Sự kiện này vô
hình chung là một khẳng định về
những tội lỗi sai lầm của một số
người bên họ ngoại tôi (đã
cộng tác với Pháp) vào một
thời điểm không thích hợp. Trong
quan hệ huyết thống gần (gia tộc) sự
tuyên dương và phê phán chính
trị không nên tồn tại lâu dài,
đặc biệt khi cuộc chiến (cho dù
chống xâm lược hay nội chiến) đã
kết thúc. Bởi như thế nó phá
vỡ một nét đẹp trong văn hóa
Việt Nam là sự nối kết huyết
thống và gia đình…”</p>
<p align="justify">
Trước khi kết thúc bài
viết này tôi xin được mở một
ngoặc đơn để làm rõ cái
tên Phan Hoàng Quí. Quí là tên.
Phan Hoàng là họ. Không phải một
họ mà là hai họ: Họ cha (Phan) và
họ mẹ (Hoàng). Phan - Hoàng là hai
họ nổi tiếng ở miền Trung, đặc
biệt triều đình Huế từ sau khi
vua Hàm Nghi khởi xướng Phong trào Cần
Vương: “Họ Hoàng làm quan, họ
Phan làm giặc”. Đại diện của
“họ Hoàng làm quan” là Hoàng
Cao Khải, một tổng trấn khét tiếng
làm tay sai cho thực dân Pháp đàn
áp các phong trào yêu nước, đặc
biệt phong trào Cần Vương. Đại
diện cho “họ Phan làm giặc” là
Phan Đình Phùng, một lãnh tụ
hàng đầu của phong trào Cần
Vương. Thực tế lịch sử những
năm cuối thế kỷ XIX hầu hết các
con cháu họ Phan ở vùng Nghệ Tĩnh
đều theo Cần Vương, theo Phan Đình
Phùng “làm giặc”. Nhưng con cháu
họ Hoàng, ngoài trừ Hoàng Cao Khải,
không phải ai cũng “làm giặc”
cả. “Họ Hoàng làm quan, họ Phan
làm giặc” là một khái quát
có tính định kiến không hoàn
toàn là sự thật lịch sử. Cuộc
tình dẫn đến hôn nhân đẻ
ra Phan Hoàng Quí, Phan Hoàng Đồng
của ông Phan bà Hoàng chứng tỏ
họ rất trân trọng và hãnh diện
gốc gác huyết tộc và truyền
thống gia đình của nhau. Giả sử
có “sự đối đầu lịch
sử” giữa hai gia tộc Phan - Hoàng, qua
thực tế “làm quan”, “làm
giặc”, thì cuộc tình và hôn
nhân của họ đã hóa giải
mọi hận thù, vượt qua đau thương
để kiến tạo một cuộc sống
trong bao dung và nhường nhịn. Anh em Phan
Hoàng Quí nhất quyết không làm
giấy xác nhận liệt sĩ cho cha phải
chăng một phần vì lý do này.
Xin đóng ngoặc đơn. </p>
<br>
<h3 style="text-align: right;"><big>
Chu Sơn</big></h3>
<br>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/02XLsPD-AL0" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Chu Sơn</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-04T09:51:24Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/gia-dinh-co-so-3</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ve-mot-111oan-van-trong-thuong-hang-bieu-cua-mac-111ang-dung">
        <title>Về một đoạn văn trong "Thướng hàng biểu" của Mạc Đăng Dung</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/HUo1Al8T_mE/ve-mot-111oan-van-trong-thuong-hang-bieu-cua-mac-111ang-dung</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br><br>
<h1 style="text-align: center;"><big>
Xác định sự khác biệt về một đoạn văn<br>trong Thướng
hàng biểu<br>
<small>(<span lang="zh-CN">上降表 </span>dâng biểu xin
hàng) của<br>
</small> Mạc Ðăng Dung</big></h1>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">
<br>
</p>
<h3 style="text-align: center;">Hồ Bạch Thảo<br>
</h3>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US"><br>
</p>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">Trong bài <span
style="font-weight: bold; font-style: italic;">Hoạt động sách phong và
triều cống thời Mạc
: hệ quả và thực chất</span> của tác gỉả Nguyễn Thị Mỹ
Hạnh đăng trên Tạp chí <span style="font-style: italic;">Xưa &amp; Nay</span>,
số 392, trang 10 ;
tác giả trưng sử liệu từ bản dịch <span
style="font-weight: bold; font-style: italic;">Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí</span> về việc Mạc Ðăng Dung dâng nạp đất
cho nhà Minh, có đoạn như sau :</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US"><span style="font-style: italic;">
...Còn việc quan thú Khâm Châu thuộc Quảng Ðông tâu
rằng bốn động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát
thuộc hai đô Như Tích và Chiêm Lãng là đất cũ của
châu Khâm, Quảng Ðông, nếu quả thực như lời ấy, thì
đó là lỗi mạo nhận của nhà Lê trước đây, nay thần
xin trao trả lại để thuộc về Khâm châu</span>… <a class="sdendnoteanc"
name="sdendnote1anc" href="#sdendnote1sym" sdfixed=""><sup>(1)</sup></a></p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">
Với đức tính cẩn trọng của nhà biên khảo, tại chú
thích số 7 dùng để khảo dị, tác gỉả ghi thêm phần
dịch của chúng tôi về đoạn văn này trong <span
style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh Thực Lục /
Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ 14-17</span> như sau :</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US"><span style="font-style: italic;">
…Mới đây thần nghe Tri châu châu Khâm tỉnh Quảng
Ðông Lâm Hy Nguyên xưng rằng các động Ti Lẫm, Kim Lặc,
Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích, Thiếp Lãng là
đất cũ của châu Khâm; nếu đúng như vậy thần xin vâng
lời</span>… <a class="sdendnoteanc" name="sdendnote2anc"
href="#sdendnote2sym" sdfixed=""><sup>(2)</sup></a></p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">
Phần dịch được in kèm với nguyên văn trong bộ sách
nêu trên, xin phiên âm như sau :</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US"><span style="font-style: italic;">
Tỷ giả thần văn Quảng Ðông Khâm châu tri châu Lâm Hy
Nguyên tấu xưng, Như Tích, Thiếp Lãng nhị đô Ti Lẫm,
Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát tứ động hệ Khâm châu cố
địa, quả như sở xưng, thần duy mệnh thị thính</span>. <span
lang="zh-CN">比
者 臣 聞 廣 東 欽 州 知 州 林希 元 奏 稱 如 昔 貼 浪
二 都 凘 凛 金 勒 古 森 了 葛 四 峒 係 欽 州 故 地 果
如 所 稱 臣 唯 命 是 聽 <a class="sdendnoteanc" name="sdendnote3anc"
href="#sdendnote3sym" sdfixed=""><sup>(3)</sup></a></span></p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">
Ðem so sánh hai đoạn văn dịch từ Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí và Minh Thực Lục, thấy có sự khác
biệt sau đây : </p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US">
- Hai địa danh Tê Phù, Chiêm Lãng được thay thế bằng
Tỉ Lẫm, Thiếp Lãng.</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US">
- Bản <span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh Thực
Lục</span> không có đoạn văn được dịch “
<span style="font-style: italic;">thì đó là lỗi mạo nhận của nhà Lê
trước đây</span> ”</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US">
- Bản <span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh Thực
Lục</span> thêm hai chữ “ <span style="font-style: italic;">tỷ giả</span>
” tức “
<span style="font-style: italic;">mới đây</span> ” trước đoạn “ <span
style="font-style: italic;">thần nghe Tri châu châu Khâm
tỉnh Quảng Ðông Lâm Hy Nguyên xưng rằng</span>…”</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">
Phần nguyên văn trong <span
style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh Thực Lục</span> đã
được nêu lên ở
trên, riêng phần nguyên văn trong <span
style="font-weight: bold; font-style: italic;">Lịch Triều Hiến Chương
Loại Chí</span>, tuy chúng tôi chưa được đọc qua, nhưng không
nghĩ rằng người dịch đã tự tiện sửa lại khác với
nguyên văn. Vậy có thể lý giải rằng sở dĩ có sự
khác biệt vì tài liệu Phan Huy Chú sưu tầm, được chép
trong <span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Lịch Triều
Hiến Chương Loại Chí</span> là bản thảo do
các quan soạn, lưu tại triều đình nhà Mạc. Riêng bản
trong <span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh Thực
Lục</span> là bản do Mạc Ðăng Dung và cận thần
duyệt đọc lần cuối bản thảo, rồi sửa chữa trước
khi mang đi. Ðây là văn bản mà Mạc Ðăng Dung phải chịu
trách nhiệm trước lịch sử, và cũng từ sự khác biệt
này có thể thấy được tính cẩn trọng và cách xử sự
của Mạc Ðăng Dung :</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US">
- Về địa danh, bản <span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh
Thực Lục</span>, đã cẩn thận sửa
lại cho đúng với tài liệu của nhà Minh, với 4 động :
Tỉ Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, thuộc hai đô Như
Tích, Thiếp Lãng.</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US">
- Trong bản <span style="font-weight: bold; font-style: italic;">Minh
Thực Lục</span> không có đoạn văn được dịch
là “ <span style="font-style: italic;">thì đó là lỗi mạo nhận của nhà
Lê trước đây</span>
”. Phần xóa bỏ, chứng tỏ Mạc Ðăng Dung không muốn
đổ lỗi cho triều đại trước.</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm; margin-left: 40px;"
align="justify" lang="en-US">
- Những cụm từ như mới đây (<span style="font-style: italic;">tỉ giả</span>)
và nếu đúng
như vậy (<span style="font-style: italic;">quả như sở xưng</span>), giữ
vai trò rất quan trọng
trong câu văn. Có thể diễn tả lại một cách nôm na rằng
“ <span style="font-style: italic;">Từ trước đến nay tôi chưa hề biết
việc này, chỉ
mới đây nghe Tri châu châu Khâm tỉnh Quảng Ðông Lâm Hy
Nguyên nói rằng các động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu
Cát thuộc hai đô Như Tích, Thiếp Lãng là đất cũ của
châu Khâm ; nếu những lời đó là đúng, thì tôi xin vâng
theo</span>… ”. Ðây là lời nói của người yếu, bị kẻ
mạnh bắt phải làm, chứ không căn cứ vào bằng chứng
lẽ phải nào cả.</p><br>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US">
Qua phần nhận xét trên, thấy rằng tuy ở trong vận bĩ,
Mạc Ðăng Dung còn kịp nghĩ đến tiền nhân và hậu thế.
Việc bỏ đoạn văn trong <span style="font-style: italic;">Thướng hàng
biểu</span>, chứng tỏ
ông không muốn đỗ lỗi cho tiền nhân. Không xác nhận
phần đất phải giao nạp có hay không thuộc quyền sở
hữu của nhà Minh, ý muốn hậu thế và lịch sử toàn
quyền định đoạt về vấn đề này.</p>
<h3 style="text-align: right;">
Hồ Bạch Thảo</h3>
<p class="western" style="margin-bottom: 0cm;" align="justify"
lang="en-US"><br>
</p>
<div id="sdendnote1">
<p class="western"
style="text-indent: 0cm; margin-bottom: 0cm; line-height: 150%;"
lang="en-US"> <a class="sdendnotesym" name="sdendnote1sym"
href="#sdendnote1anc">(1)</a><b> Phan Huy Chú, Lịch triều
hiến chương loại chí</b>, Bang giao chí, Bản dịch, Nxb Sử học, Hà Nội,
1961, tr. 147-148.</p>
</div>
<div id="sdendnote2">
<p class="western"
style="text-indent: 0cm; margin-bottom: 0cm; line-height: 150%;"
lang="en-US"> <a class="sdendnotesym" name="sdendnote2sym"
href="#sdendnote2anc">(2)</a><b> Minh Thực Lục</b>, Quan
hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ 14-17, Hồ Bạch Thảo dịch, Nxb Hà Nội,
Hà Nội, 2010, Tập 3 trang 216.</p>
</div>
<div id="sdendnote3">
<p class="western"
style="text-indent: 0cm; margin-bottom: 0cm; line-height: 150%;"
lang="en-US"> <a class="sdendnotesym" name="sdendnote3sym"
href="#sdendnote3anc">(3)</a><b> Minh Thực Lục</b>, Quan
hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ 14-17, Sđd, phần chữ Hán, trang 850.</p>
</div><img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/HUo1Al8T_mE" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Hồ Bạch Thảo</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-01-31T21:11:55Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ve-mot-111oan-van-trong-thuong-hang-bieu-cua-mac-111ang-dung</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/trau-nguoi">
        <title>Trâu Người</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/-4U1knslo9g/trau-nguoi</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<br>
<h3 style="font-style: italic;"><big>Thấy trên mạng</big></h3>
<br>
<p><br>
</p>
<h1 style="text-align: center;"><big>TRÂU NGƯỜI</big></h1>
<br>
<p><br>
</p>
<div
style="float: none; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; text-align: center;"><img
style="width: 400px; height: 300px;" alt="tn" src="traunguoi.jpg"> <img
style="width: 400px; height: 300px;" alt="tna" src="traunguoia.jpg"><br>
nguồn : báo Tiền Phong<br>
</div>
<p style="text-align: justify;">Mùa xuân tháng 2 năm Mậu Dần (1038),
vua Lý Thái Tông cày Tịch điền ở cửa Bố Hải. Bấy giờ, các quan tả hữu
có người can rằng. “Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế?”.
Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên
hạ noi theo?” Nói xong vua đẩy cày...</p>
<p style="text-align: justify;">xem tiếp : <a
style="font-weight: bold;"
href="http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=5750">TRÂU
NGƯỜI</a> trên trang mạng của TUANDDK<br>
</p><img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/-4U1knslo9g" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>tuanddk</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-01-31T17:08:53Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/thay-tren-mang-moi/trau-nguoi</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/bao-cao-ve-vu-noi-day-o-thai-binh">
        <title>Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/cs6GSfjb2kE/bao-cao-ve-vu-noi-day-o-thai-binh</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<h3>Tài liệu về cuộc nổi dậy của nông dân Thái Bình</h3>
<br>
<h1 style="text-align: center; font-weight: bold;"><big>Báo
cáo
sơ bộ<br>
về cuộc khảo sát xã hội học tại<br>
<big>Thái Bình<br>
</big>cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 1997</big></h1>
<br>
<h3 style="text-align: center;"><big><big>Tương
Lai</big></big></h3>
<br>
<br>
<div
 style="padding: 50px; float: none; background-color: rgb(255, 204, 255); text-align: justify;">
<p>Tác giả bản báo cáo này lúc đó là viện trưởng Viện xã hội học
Việt
Nam, thành viên Tổ Nghiên cứu Đổi mới của Thủ tướng Chính phủ (Tổ này
được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giải tán vào mùa hè năm 2006).</p>
<p>Bản báo cáo này đã được trích dẫn trên báo Diễn Đàn số 77
(tháng 9.1998) và tại Hội thảo hè năm 1999 họp tại
Liège (Bỉ). Nay được tác giả công bố toàn văn trên mạng <a
 style="font-weight: bold; font-style: italic;"
 href="http://boxitvn.blogspot.com/2012/01/bao-cao-so-bo-ve-cuoc-khao-sat-xa-hoi.html">Bauxite
Việt Nam</a> ngày 30.1.2012.</p>
<p>Thái Bình, mười lăm năm sau, ra sao ? Một nhà nghiên cứu xã
hội hội
vừa có dịp đi thăm xã An Ninh (huyện Quỳnh Phụ) cho biết : "<span
 style="font-style: italic;">Cả hai bên
đều mỏi mệt vì cuộc bạo động tự phát : người cầm quyền&nbsp;thì
thân
tàn ma dại, có người bỏ làng đi tít vào Tây Nguyên lập nghiệp nhưng rồi
cũng vất vưởng, có người thì nằm bẹp ở nhà trong đôi mắt nghi ngờ, lãnh
đạm của chòm xóm, và nói chung là đều tàn tạ, nhường chỗ cho một lớp
cướng hào mới lên nắm những vị trí của mình một cách khôn ngoan và ranh
ma hơn&nbsp; nhiều bậc đi trước. Phía bên kia, những người tham gia
vào
vụ bạo động thì cũng ê ẩm mình mẩy, có người đi tù 5 năm về (như bà
Hợi, một phụ nữ ngoài 50, sống độc thân, thất học, đi tù vì một câu
chửi mà mọi người đều nghe được, trở thành</span> "nhân chứng vật
chứng
không thể chối cãi": "Đánh bỏ mẹ thằng Hàm đi" [<span
 style="font-style: italic;">Hàm là chủ tịch xã</span>].
<span style="font-style: italic;">Khi tôi gặp lại bà, bà
chỉ gật đầu chào,
lầm lì không nói gì cả, chỉ thở dài ngao ngán !</span>) <span
 style="font-style: italic;">Phần lớn những người tham gia
bạo động đêm
26, rạng sáng 27 tháng 6.1997 năm ấy thì im lặng, cam chịu và chôn sâu
những phẫn uất cũng như những trải nghiệm dại dột vì đã làm bùng lên
ngọn lửa để bị dập tắt ngay và chỉ còn lại đống tro tàn của bài học
chua xót. Tuy nhiên, mâu thuẫn nội tại thì vẫn còn trầm tích lại đó,
ngày càng vón cục lại chứ không thể tan đi được</span>."<br>
</p>
</div>
<br>
<br>
<p style="text-align: justify;">Sự kiện đêm 26 rạng ngày
27/6/1997 ở xã
An Ninh, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình như một hồi chuông báo động
khiến chúng ta cần tỉnh táo nhìn nhận lại về hậu phương vững chãi của
chúng ta để có những suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề nông thôn, nông
nghiệp, nông dân trong sự nghiệp Ðổi mới và công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp.</p>
<p style="text-align: justify;">
An Ninh là lá cờ đầu của huyện Quỳnh Phụ, và cũng có thể nói là lá cờ
đầu của Thái Bình, một điển hình tiên tiến đã từng là quê hương của
phong trào 5 tấn trước đây và hiện nay luôn luôn là lá cờ đầu của nhiều
phong trào quần chúng chiếm lĩnh đỉnh cao thành tích về kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, v.v. Gần đây Thái Bình càng nổi bật trong việc
triển khai chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt với 4 công
trình lớn : Ðiện, Ðường, Trường, Trạm [trạm y tế] cùng tiến hành đồng
thời và thu được những thành tích lớn, tạo ra một diện mạo khang trang
đẹp đẽ của một tỉnh lúa đồng bằng sông Hồng mà khách tham quan có thể
ngồi trên ô tô đi khắp các xã trong tỉnh trên con đường quốc lộ, tỉnh
lộ, huyện lộ đã rải nhựa hoặc lát gạch phẳng lì !</p>
<p style="text-align: justify;">
Ấy thế rồi, đêm 26, rạng 27/6/97 hàng ngàn nông dân nổi dậy đập phá
chậu cảnh tường hoa, bàn xa lông tiếp khách, bát đĩa dùng liên hoan và
chiêu đãi, kính tủ bàn của trụ sở ủy ban xã, một tòa nhà uy nghi, lộng
lẫy vừa xây tốn hơn 800 triệu đồng. Rồi sau đó, dân kéo đi đập phá 8
ngôi nhà của bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch ủy ban, cán bộ địa chính và các
bậc chức sắc khác nhau của xã (chỉ có một nhà của một người dân làm
việc nấu nướng phục vụ hội nghị và khách của xã). Sau đêm hỗn loạn,
giận dữ, đốt phá, sáng mai hoạt động của xã lại bình thường, người ta
lại vẫn ra đồng họp chợ, đi lại chuyện trò vô tư !</p>
<p style="text-align: justify;">
Ba ngày sau sự kiện nói trên, theo yêu cầu của Tổ Nghiên cứu Ðổi mới
của Thủ tướng Chính phủ thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt,
đoàn cán bộ xã hội học chúng tôi về xã An Ninh, được Bí thư Ðảng ủy
tiếp tại trụ sở mà kính vỡ, mảnh bát đĩa vỡ, chậu cảnh vỡ vẫn ngổn
ngang, kể cả một tượng Bác Hồ bằng thạch cao trắng bị vỡ vẫn nằm ở góc
bàn trong hội trường và theo lời của Bí thư Ðảng ủy xã thì "<span
 style="font-style: italic;">Hiện trường vẫn được giữ nguyên</span>"
như để nói lên tính phản loạn không thể dung tha được và cần phải trấn
áp ngay của vụ bạo động 26-27/6/97.</p>
<p style="text-align: justify;">
Vấn đề gì đã diễn ra ở đây ? Nguyên nhân vì đâu ? Hậu quả ra sao ? Diễn
biến sắp tới sẽ thế nào ? Cần có kiến nghị gì đây từ sự tiếp cận xã hội
học ? Ðó là vấn đề đặt ra cho chúng ta, ba nhóm nghiên cứu gồm 10 người.</p>
<p style="text-align: justify;">
Một nhóm về ở ngay trong lòng điểm nóng : xã An Ninh gồm 4 người (1 Phó
Giáo sư, Phó Tiến sĩ, Trưởng phòng Xã hội học nông thôn, 1 Bí thư chi
bộ và là Trợ lý của Viện trưởng, 1 Phó Tiến sĩ Trưởng phòng Tổ chức và
Đào tạo cán bộ, đảng viên, 1 nữ cán bộ nghiên cứu của Phòng Xã hội học
nông thôn, đảng viên).</p>
<p style="text-align: justify;">
Một nhóm gồm ba cán bộ, do một Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ và là Phó Viện
trưởng phụ trách khoa học dẫn đầu, một cán bộ nghiên cứu, Phó Phòng Xã
hội học nông thôn, một cán bộ trẻ (cả hai đều là người quê ở Thái Bình,
đang có họ hàng ở Thái Bình) đi theo tuyến rộng, dọc theo đường Hà Nam,
Nam Ðịnh, qua Tiền Hải, vòng về thị xã, qua Ðông Hưng, Thái Thụy, Quỳnh
Phụ, Kiến Xương để tìm hiểu âm vang và độ nhiễm cảm của các sự kiện bạo
động trong tỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
Một nhóm xuất phát sau một tuần, đến huyện Thái Thụy nơi có điểm nóng
Thái Thịnh để đo sự diễn biến sau sự kiện An Ninh và dư luận quần chúng
về các giải pháp của chính quyền Tỉnh đã áp dụng. Nhóm này gồm một Phó
Giáo sư, ba Phó Tiến sĩ đều là đảng viên, trong đó có một chuyên gia đã
từng có công trình nghiên cứu sâu về nông thôn và về Thái Bình, đang
làm luận án Tiến sĩ sẽ bảo vệ tại Pháp về đề tài nông thôn Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðồng thời với các nhóm đi khảo sát tại Thái Bình, Viện trưởng Viện Xã
hội học đã giao nhiệm vụ cho một Phó Tiến sĩ Phó Trưởng Phòng Xã hội
học dân số và Gia đình đang cùng với các cán bộ triển khai một đề tài
nghiên cứu về hộ kinh tế gia đình và địa vị của người phụ nữ kết hợp
khảo sát thêm về chủ đề như nhóm nghiên cứu sâu ở Thái Bình đang làm,
hiện triển khai tại Hải Hậu, Nam Ðịnh. Cũng như thế, sau khi kết thúc
nghiên cứu ở Thái Bình một tuần, Viện trưởng Viện Xã hội học đã trao
nhiệm vụ cho một đoàn nghiên cứu tại 10 xã trong 3 tỉnh (Hà Nam, Nam
Ðịnh, Ninh Bình) về đề tài biến động dân số thu thập thêm tư liệu về
chủ đề như đã nghiên cứu ở Thái Bình, người phụ trách này là một nghiên
cứu sinh đang làm luận án Tiến sĩ ở Mỹ về dân số, là đảng viên, kết hợp
với đồng chí Bí thư chi bộ đã từng nghiên cứu ở Quỳnh Phụ, Thái Bình
cùng tiến hành, và cũng chỉ hai đảng viên này thu thập số liệu để báo
cáo trực tiếp cho Viện trưởng. Công việc đang được triển khai và sẽ bổ
sung vào báo cáo tổng kết này.</p>
<p style="text-align: justify;">
Bản báo cáo tổng kết này là dựa trên các tư liệu thu thập được qua
phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp, các văn bản của tỉnh, huyện, xã
(băng ghi âm ghi lời người được hỏi và tập hồ sơ ghi lại nội dung đã
thu vào băng) cùng với 8 báo cáo của các cán bộ đi khảo sát và sơ kết
của nhóm khảo sát. Vì đây chỉ là thông tin được thu thập qua phỏng vấn,
chuyện trò và lời người kể có thể là người trong cuộc, người chứng
kiến, người nghe kể lại không khỏi bị khúc xạ theo lăng kính chủ quan,
cho nên các số liệu (cho dù ghi thành con số) cũng chỉ có ý nghĩa phỏng
chừng, tương đối khác với thống kê và báo cáo chính thức của người có
trách nhiệm ở địa phương. Người viết báo cáo, trong trường hợp có dẫn
ra các số liệu cũng là để gợi lên tình huống, không mang tính biểu đạt
thật chính xác.</p>
<br>
<br>
<h2 style="text-align: left;"><strong><big>I. <span
 style="font-style: italic;">Tổng
quan về các sự kiện dẫn đến</span><br
 style="font-style: italic;">
<span style="font-style: italic;">sự bùng nổ ở Thái Bình</span></big></strong></h2>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Những ngày cuối cùng của tháng 6 năm 1997 đã cho thấy tính nghiêm trọng
của một loạt những sự biến đã xảy ra ở một phần lớn các vùng nông thôn
tỉnh Thái Bình. Ðã có tới 5 (Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải, Ðông Hưng,
Thái Thụy) trên 7 huyện và thị của tỉnh có phản ứng và khiếu kiện của
nông dân về những vấn đề dân chủ và công bằng xã hội trong nông thôn.
Nội dung chủ yếu của những khiếu kiện này tập trung xung quanh việc đòi
thanh tra và công khai hóa việc phân chia ruộng và nhất là việc thu và
chi những khoản đóng góp mà chính quyền địa phương (xã và huyện) thu
của nông dân trong những năm qua để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
trong nông thôn, chủ yếu là các công trình : Ðiện - Ðường - Trường -
Trạm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó đặc biệt là các công trình Ðiện -
Ðường -Trường - Trạm là một chủ trương đúng đắn của tỉnh, rất hợp với
nguyện vọng của dân. Người dân Thái Bình nói chung rất tự hào về hệ
thống đường giao thông liên tỉnh, liên huyện và liên xã của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðiều đáng nói ở đây là các công trình này đã được thực hiện trong 5 năm
qua với một tốc độ và nhịp điệu quá nhanh. Do đó các khoản thu từ nhân
dân cũng tăng nhanh chưa từng thấy. Năm 1991, tỉnh chủ trương chỉ đảm
bảo cho 65 % các hộ trong tỉnh có điện dùng vào năm 1995. Nhưng cuối
năm 1992 đã có 70 % số hộ (báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh, tháng 10
năm 1992) và năm 1996, 100 % số hộ trong tỉnh đã có điện dùng, toàn bộ
đường tỉnh đã được nhựa hoặc xi măng hóa hết và 2/3 số trường học trong
tỉnh đã là nhà cao tầng. Nguồn vốn để chi cho các công trình này chủ
yếu lấy từ các nguồn trong tỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong ba năm 1988-1990, tổng số vốn đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật
là 39,5 tỉ đồng, trong đó 9,5 tỉ là do Trung ương cấp, 30 tỉ là từ huy
động ngân sách trong tỉnh. Nhưng phần vốn huy động từ sự đóng góp của
nhân dân và tập thể cũng rất lớn. Ngoài ra, các quỹ giao thông xóm xã
cũng ra sức phát triển. Có nơi còn chủ trương "<span
 style="font-style: italic;">cứng hóa kênh mương</span>"
để tăng nhanh
các nguồn thu từ nhân dân (Thái Thụy). Phải chăng các khoản thu này là
quá lớn so với khả năng đóng góp của người nông dân Thái Bình vốn chỉ
có nguồn thu từ hạt thóc là chủ yếu ?</p>
<p style="text-align: justify;">
Cơ cấu thu nhập của tỉnh vào năm 1991 cho thấy 81 % là thu từ nông
nghiệp. Các khoản thu này lên tới chừng trên dưới 35 khoản, thay vì 14
khoản theo quy định của huyện và 7 khoản theo quy định của tỉnh. Ðiều
cần lưu ý là các khoản thu và chi này đã không được sử dụng một cách
công khai và dân chủ. Các khoản thanh toán được công bố lại cho thấy có
dấu hiệu của sự lạm dụng công quỹ, bởi nó vượt quá xa các định mức chi
phí trên thị trường (giá của các công trình xây dựng thường cao gấp
nhiều lần giá trị thực tế của chúng). Một chiếc cống thoát nước do
chính quyền xã xây đã quyết toán tới 21 triệu đồng, nhưng khi dân đập
đi xây lại thì chỉ mất 7,5 triệu đồng (xã Quỳnh Hồng). Trong khi đó,
một số cán bộ chủ chốt ở một số địa phương lại có biểu hiện giàu lên
nhanh quá mức bình thường trong năm năm qua, cùng với sự giàu lên trông
thấy qua nhà cửa, các phương tiện sử dụng trong sinh hoạt là những nét
xa hoa kệch cỡm về lối sống của một số người dễ dàng gây phản ứng trong
quần chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nhân dân một số địa phương đã có đơn khiếu kiện lên xã, huyện, thậm chí
cả tỉnh với các hình thức hợp pháp, từ đưa đơn có nhiều chữ ký cho một
người đi gặp các cấp lãnh đạo có thẩm quyền (Tiền Hải, xã Ðông Trà),
tới việc tập trung vài chục hay vài trăm người trước cổng Ủy ban tỉnh
từ cuối năm 1996 (Quỳnh Hội : tháng 10/1996, 700 người lên tỉnh 2 đêm 1
ngày để trình đơn khiếu kiện, sau đó là đợt 2, với 1.500 người, đòi
thanh tra lại đất 5 % vào tháng 4/1997). Người ta ước tính có chừng
120/260 xã trong tỉnh có biểu tình đưa đơn và từ chỗ đi lẻ tẻ, dần dần
hình thành tổ chức quy mô hơn, người ta cho rằng có chừng 40 cuộc biểu
tình lên tỉnh được tổ chức có quy củ và trật tự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Những cuộc khiếu kiện này thường được tiếp đón một cách không nhiệt
tình. Cách trả lời thường là sự im lặng kéo dài, hoặc lờ đi, hoặc cho
thanh tra công khai nhưng kết luận không có gì. Những vấn đề này, thực
ra, đã nảy sinh từ những năm 86-90 song cách giải thích chính thức của
các cấp chính quyền từ xã, đến huyện, đến tỉnh về những sự kiện trên
thường cho đó là "<span style="font-style: italic;">những
biểu hiện
tiêu cực nảy sinh do một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, lợi
dụng chức quyền tham nhũng, đè nén dân, làm mất uy tín của Ðảng và Nhà
nước. Mặt khác cũng là do một số người lợi dụng việc mở rộng dân chủ
trong quá trình đổi mới và những khó khăn đang gặp phải đã có hành động
cực đoan quá khích, thậm chí tiếp tay cho địch, gây rối nội bộ, nói xấu
Ðảng và Nhà nước</span>". Những cách giải thích này không thuyết
phục
được quần chúng, nhất là vì nó chưa đưa ra được những giải pháp có hiệu
quả thiết thực.</p>
<p style="text-align: justify;">
Từ tháng 5 năm 1997, những sự biến xảy ra dồn dập hơn, mãnh liệt hơn,
và có chiều hướng sử dụng bạo lực từ cả hai phía, để răn đe hoặc để
giải quyết những vấn đề đang tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sự xuất hiện của cảnh sát cơ động dường như đã đặt các cuộc biểu tình
hợp thức vào tình thế bế tắc. Xu hướng bạo lực ngày càng có khả năng
trở thành hiện thực. Sự kiềm chế và tính tổ chức ở những người biểu
tình càng giảm sút thì các sự biến xã hội càng khó kiểm soát. Người ta
chứng kiến một cuộc khủng hoảng chính trị xã hội thực sự trong nhiều xã
và huyện của nông thôn Thái Bình.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ngày 11 tháng 5 năm 1997, theo lời ước đoán thì có khoảng 2000 nông dân
Quỳnh Phụ thuộc trên dưới 36 trong 38 xã của huyện đã tham gia vào cuộc
biểu tình từ xã lên tỉnh bằng xe đạp và sau đó ở lại tỉnh 2 ngày 1 đêm,
gây ảnh hưởng lớn trong toàn tỉnh. Cũng theo lời kể lại thì trong khi
cuộc biểu tình này đang cố gắng thể hiện thái độ nghiêm túc và thận
trọng trong việc bày tỏ nguyện vọng của đông đảo nhân dân trong huyện,
thì ở trước trụ sở Ủy ban Nhân dân huyện Quỳnh Phụ, cuộc tập trung của
nhân dân nhiều xã trong huyện, cứ đông dần lên vì người các nơi ùn ùn
kéo đến, có người ước lượng là có đến 1 vạn (?) người. Khi đám đông đã
đến quy mô như vậy, chỉ cần một hành động quá khích là có thể dẫn đến
những bùng nổ không sao kiềm chế được.</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo lời người kể lại, thì do cách xử sự thiếu khôn ngoan và không thỏa
đáng của một số người đại diện cho quyền lực nhà nước, dân phẫn nộ đã
dùng bạo lực, phá trụ sở công an huyện, tấn công bằng gạch đá vào lực
lượng an ninh có trang bị xe phun nước và chó béc-giê. Trước 500 công
an, với 3 xe vòi rồng, dùi cui lá chắn, dân bảo nhau chuẩn bị nếu bị
phun nước thì cả đàn ông, đàn bà sẽ cởi hết quần áo ra tắm. Công an ném
10 quả lựu đạn cay, dân phá hỏng một xe vòi rồng trong tiếng kêu "<span
 style="font-style: italic;">thế này thì dân chết mất</span>",
lại có
tiếng "<span style="font-style: italic;">thà chết còn hơn
sống khổ</span>".
Công an được lệnh không đánh lại dân. Nhưng khi trời tối, dân phát hiện
có công an mặc thường phục trà trộn vào đám đông quần chúng. Thế là
diễn ra cảnh bi hài, dân hô : "<span style="font-style: italic;">cứ
xem
thằng nào đi giày da, sờ vào bụng thằng nào to tức là không phải dân,
nhằm vào nó mà nện</span>". Công an bị thương 9, 10 người, dân bị
thương vài chục. Công an bị thương được đưa vào bệnh viện, nhưng dân bị
thương thì không vào vì sợ bị phát hiện nên khiêng về làng tất.</p>
<p style="text-align: justify;">
Dẫn đến cuộc bạo động này là chuyện dân bao vây Viện Kiểm sát huyện
Quỳnh Phụ đòi thả hai người đánh kẻng tập hợp dân, đã bị bắt. Cuộc xô
xát này, cho dù không để xảy ra tử vong song đã là bước ngoặt dẫn đến
những sự biến sau này ngày càng bạo liệt hơn, bạo lực nhiều hơn và ngày
càng mang tính trả thù hơn là đấu tranh hợp pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðiều đáng lo ngại nữa là các huyện khác trong tỉnh đều coi cuộc đấu
tranh này của người dân Quỳnh Phụ đã trở thành mô hình cho cách đặt vấn
đề và phương thức đấu tranh của họ. Một mặt, những người khởi xướng
cuộc khiếu kiện, rồi biểu tình bày tỏ sự nhiệt thành với cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, giữ gìn sự trong sáng của Ðảng, bảo vệ sức mạnh của
chính quyền dân chủ nhân dân do Ðảng và nhà nước phát động. Mặt khác họ
kêu gọi tinh thần cố kết cộng đồng làng xã vốn tiềm tàng trong đầu óc
của mỗi người dân để buộc mọi người phải tham gia vào cuộc đấu tranh
chống tham nhũng theo cách nghĩ và cách làm của họ. Chẳng hạn như : ai
không đi biểu tình, khiếu kiện thì tùy, nhưng nhà có người chết đừng có
gọi dân khiêng, có cháy nhà đừng gọi người dập lửa. Phương thức đấu
tranh ấy, chính là sự quay trở về với "lệ làng", mà buộc "phép vua"
trước đây đã phải thua. Một khi mà kỷ cương, phép nước do những cán bộ
xã, huyện và cả tỉnh đại diện đã không yên được lòng dân, thì tính tự
phát của lệ làng, của đám đông có tổ chức hay không có tổ chức, dẫn đến
sự manh động, là điều không thể tránh khỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">
Bước chuyển từ "đối thoại" sang "đối đầu" đã thực sự chia rẽ một bộ
phận lớn nhân dân với chính quyền địa phương và lực lượng bảo vệ trật
tự là công an. Xu hướng manh động của những người nông dân mất bình
tĩnh với sự tham gia của những trẻ em vị thành niên và những người kém
kinh nghiệm xã hội đã được thổi bùng lên bởi các phần tử cực đoan quá
khích và những thành phần bất hảo trong xã hội, điều ấy cũng không có
gì lạ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ví dụ như, người ta kể lại rằng, ngày 8 tháng 6 năm 1997, chừng 300
thanh niên tuổi từ 13 đến 17 đã trói Chủ tịch và Bí thư xã Quỳnh Hoa,
dong lên huyện dưới trời mưa mà không cho đội mũ. Họ phá cổng Ủy ban
huyện làm Chủ tịch huyện phải bỏ chạy. Họ la hét và hạ nhục bằng những
câu hỏi khiêu khích : vì sao mà "<span style="font-style: italic;">giàu
lên nhanh thế</span>", vì sao mà "<span
 style="font-style: italic;">chóng
béo</span>" đến thế.</p>
<p style="text-align: justify;">
Khoảng 10 ngày sau là sự kiện lên đến cao trào bằng việc đốt phá đêm 26
rạng 27/6/97 tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ. Rồi sau Quỳnh Phụ, một
loạt các huyện khác đã nổ ra đấu tranh dưới nhiều hình thức kể cả biểu
tình, khiếu kiện như ở Ðông Hưng (xã Ðông Cường) lẫn tấn công bằng bạo
lực vào các cán bộ xã bị coi là phần tử tham nhũng. Người ta cho rằng
tại ba xã Thái Thịnh, Thái Tân và Mĩ Lộc của huyện Thái Thụy là đỉnh
cao của những cuộc tấn công bằng bạo lực. Phần đông các cán bộ xã bị
tấn công đã phải trốn chạy. Những người còn lại đã phải dùng hình thức
tự vệ bằng vũ khí và sự hỗ trợ của họ hàng, người cùng xóm gắn bó với
họ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sau những bùng nổ đó, huyện, tỉnh (và có thể cả Trung ương) đã có những
giải pháp, thêm vào đó, khung cảnh khủng bố và sự phá phách của những
phần tử quá khích cũng đã làm cho nhiều người phải suy nghĩ lại về mục
tiêu và phương thức của những cuộc đấu tranh đang diễn ra. Sự trấn áp
những phần tử quá khích và những lời hối lỗi của họ trên màn ảnh truyền
hình địa phương được đưa liên tục có thể cũng đã răn đe những hành vi
bạo lực, manh động. Trong nhân dân cũng đã có người nhận ra hành động "<span
 style="font-style: italic;">luồn gió bẻ măng</span>",
có thể thấy rằng
đám đông đã bị lợi dụng bởi những kẻ cực đoan, những kẻ muốn đục nước
béo cò, trả thù cá nhân, thậm chí những hành vi lưu manh, cướp bóc.
Tình hình tạm lắng xuống, song những nguyên nhân đẩy tới sự khủng hoảng
và bùng nổ vừa qua vẫn còn nguyên, nếu chưa nói là đây đó, nơi này nơi
khác được nung nấu thêm ! Màn kịch bạo lực dường như đã đi quá những
giới hạn có thể chấp nhận cả từ phía chính quyền lẫn từ phía nông dân,
hậu quả xã hội thật nặng nề.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðể tỉnh táo giải quyết hậu quả nặng nề này đòi hỏi một sự dũng cảm nhìn
thẳng vào sự thật, mổ xẻ phân tích để dám cắt bỏ ung nhọt, thuốc thang
bổ dưỡng cho cơ thể xã hội lành mạnh với một đường lối đúng, giải pháp
đúng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Câu hỏi đặt ra là, bằng cách nào đây để giải quyết những mâu thuẫn đã
tích lũy nhiều năm ở nông thôn mà không phải sử dụng đến bạo lực ? Ðể
trả lời câu hỏi này, việc đánh giá lại những sự biến vừa xảy ra một
cách khách quan, tỉnh táo và thực sự cầu thị là tiền đồ quan trọng nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">
Phải chăng là, không thể quy mọi nguyên nhân của các sự biến trên cho
những kẻ quá khích, cực đoan hay những tên lưu manh chỉ thèm trả thù,
cướp bóc và đập phá. Bởi lẽ nếu đúng là bọn này thì chúng không có uy
tín, không có lẽ phải, không có khả năng tập hợp nông dân trong những
cuộc biểu tình hợp pháp, nghiêm túc và đầy ý thức chính trị như vừa
qua. Nếu đúng như câu chuyện được kể lại thì với một tập hợp trên dưới
hai ngàn người, từ hơn 30 xã trong huyện, tập hợp ở một địa điểm và
thời điểm bí mật đã được định trước chắc chắn là một hoạt động có tổ
chức chặt chẽ và có sự chỉ huy thống nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">
Người ta kể lại rằng họ diễu hành hàng đôi bằng xe đạp lên tỉnh để
tránh những trục trặc và ách tắc giao thông do họ gây ra hoặc do hoàn
cảnh đưa lại. Cứ khoảng từ 30 đến 50 người lại có một người chữa xe đạp
để tránh những trục trặc kỹ thuật. Ðến trụ sở Ủy ban tỉnh, họ ngồi
thành hàng trên vỉa hè, tuyệt đối không bẻ cây, vứt rác, làm mất trật
tự, trị an nơi họ có mặt. Họ kiên nhẫn chịu đựng sự căng thẳng, mệt mỏi
trong 2 ngày 1 đêm chỉ để đưa được lá đơn khiếu nại tới tay ông Chủ
tịch tỉnh. Ðã có biết bao giai thoại về cuộc biểu tình này chỉ để tỏ
lòng khâm phục trình độ tổ chức của người lãnh đạo và ý thức tổ chức
của những người tham gia. Ở những cuộc biểu tình này tuyệt nhiên không
có xung đột, đụng độ nào cho dù có sự hiện diện của cảnh sát dã chiến
(chỉ có xung đột ở huyện, xã).</p>
<p style="text-align: justify;">
Người ta cho rằng ở các cuộc biểu tình này có sự tập hợp đông đảo các
tầng lớp nông dân ở nhiều vùng nông thôn trong tỉnh, từ người già, trẻ
em, phụ nữ, tới những cựu chiến binh, đảng viên, cán bộ về hưu vốn đã
từng lăn lộn, chiến đấu và hy sinh xương máu của mình qua hai cuộc
kháng chiến. Nếu thế thì phải chăng, tính quần chúng rộng rãi của cuộc
đấu tranh này cho phép nhìn nhận rằng đây là một phong trào xã hội, chứ
không phải là những mâu thuẫn cục bộ, càng không là sự phản loạn chống
lại chế độ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sự tham gia của đông đảo các đảng viên, các cựu chiến binh, những người
về hưu, một lực lượng xã hội có trình độ nhận thức chính trị và xã hội
tương đối cao trong nông thôn càng giải thích rõ tính chất và quy mô
của cuộc đấu tranh của nông dân trong sự biến vừa qua và có lẽ chưa tắt
hẳn.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực mà điển hình là cuộc đấu tranh
chống tham nhũng và sự mất công bằng, mất dân chủ trong nông thôn, lực
lượng này có vai trò rất quan trọng. Bởi vì, họ không chỉ là nạn nhân
trực tiếp của những tệ nạn cường hào, tham nhũng mà còn là những người
có khả năng nhận biết. Chính vì thế, họ dễ trở thành những người khởi
xướng và lãnh đạo cuộc đấu tranh mà chúng tôi đã nói ở trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
Qua tìm hiểu các cán bộ xã, thấy rõ một điều là họ biết rất rõ những ai
đứng đằng sau các cuộc tấn công vào bộ máy cán bộ lãnh đạo đương quyền.
Nhóm chủ yếu phát động là những cán bộ trước cũng làm cán bộ nhưng nay
không còn đương chức nữa. Thuộc về nhóm chủ yếu này ở một số nơi có cán
bộ hưu trí, những người tương đối có trình độ cả về học vấn, tổ chức,
còn sức lực nhưng thiếu việc làm. Cũng không nên quên rằng, Thái Bình,
với đặc điểm đất chật, người đông, có một số lượng rất lớn người đi
thoát ly làm cán bộ và nay về hưu. Ðược đảm bảo tương đối về đời sống,
và cũng có hiểu biết, có nhiều thời gian những người thuộc nhóm này
thường hay đề xuất ý kiến trong đời sống nông thôn.</p>
<p style="text-align: justify;">
Cũng chính vì vậy, cách đưa tin của Đài Truyền hình Thái Bình làm cho
người ta nghĩ rằng bọn "côn đồ" xúi giục, nay bọn chúng đã bị bắt và ăn
năn hối lỗi và nhận tội thì những người nhẹ dạ cả tin và manh động theo
đuôi bọn quá khích đã nhận ra sai lầm. Cách đưa tin đó hình như không
đạt được mục đích, mà ngược lại, trong khía cạnh nào đó lại như tích tụ
thêm sự phẫn nộ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sau 10 năm tiến hành công cuộc Ðổi mới, rõ ràng là đời sống vật chất
của mọi tầng lớp nông dân đã được nâng lên, nông thôn đã từng bước
chuyển mình. Thái Bình lại càng nổi trội lên với bao lá cờ đầu, bao
nhiêu vẻ khang trang, nề nếp. Vậy cái gì đã lôi kéo nông dân vào một
cuộc đấu tranh dữ dội và rộng khắp như vậy ? Theo chúng tôi có lẽ không
chỉ đơn thuần là lý do kinh tế. Những khiếu kiện kinh tế chỉ là điểm
xuất phát khi một số cán bộ xã bị nghi ngờ có hành vi tham nhũng lại tự
cho mình cái quyền tự phán xét, tự hợp thức hóa những quyết định đáng
nghi ngờ của họ. Những người này tự cho họ là đại diện cho Ðảng bởi họ
chính là bí thư hay các đảng ủy viên quan trọng của đảng bộ, tự cho là
đại diện cho Chính quyền nhân dân, khi họ là chủ tịch hay các phó chủ
tịch, trưởng thôn, tự xem là đại diện cho pháp luật khi họ là chủ tịch
hay các thành viên của Hội đồng nhân dân xã. Những người này triệt để
sử dụng các thiết chế hiện hành đang bị quan liêu hóa để hợp thức hóa
những quyết định của họ thay vì trực tiếp tham khảo, lắng nghe ý kiến
của nhân dân, dần dần một bộ phận những người có quyền lực này xa lạ và
đối lập với dân.</p>
<p style="text-align: justify;">
Một khi mà sự việc đã diễn ra đến tình huống như vậy thì ở những nơi
này, nội bộ Ðảng bị chia rẽ vì phe cánh và quyền lợi, mất dần sức sống,
không còn uy tín. Chính quyền rơi vào nguy cơ mất mối liên hệ với các
tổ chức quần chúng. Giữa dân với Ðảng và Chính quyền mất dần kênh liên
lạc vốn có. Người ta phải sử dụng đến các hình thức khiếu kiện vượt cấp
để tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của họ. Khi mọi hình thức đó không
đi đến kết quả thì xung đột nổ ra dưới mọi hình thức. Các phần tử cực
đoan quá khích có cơ hội để đưa cuộc đấu tranh nhanh chóng đi đến bế
tắc bằng các hình thức bạo lực và sự trả thù.</p>
<p style="text-align: justify;">
Hãy dừng lại ở sự kiện xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, đi vào diễn biến
dẫn đến sự bùng nổ để qua đó, chứng minh cho những phân tích nói trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sự việc bắt đầu bằng những đụng độ căng thẳng xung quanh yêu cầu của
Thanh tra Nhân dân xóm 10, thôn Kiến Quan, đòi ông Khương, nguyên Xóm
trưởng giao nộp hồ sơ sổ sách để kiểm tra mà chưa được đáp ứng. Ngày
24/6/97, trước sức ép của nhiều người, ông Lương Văn Quang, thành viên
Tổ Thanh tra Nhân dân xóm đã đánh kẻng họp dân toàn xóm mà chưa có sự
đồng ý của người có trách nhiệm. Ðiều này đã dẫn đến tranh chấp, đôi co
trong việc lập biên bản và giữ ông Quang tại trụ sở Ủy ban vào ngày
26/6/97. Việc này do Chủ tịch Nguyễn Mạnh Hàm và Bí thư Ðảng ủy Vũ Xuân
Chiếm chủ trương.</p>
<p style="text-align: justify;">
Bị kích động bởi một lời thách đố của Chủ tịch xã khi nóng giận, dân
xóm 10, và sau đó kèm theo là hàng nghìn người từ các thôn xóm khác
trong và ngoài xã đã tràn đến bao vây trụ sở xã vào cuối ngày hôm đó.
Những hành động quá khích vượt quá giới hạn của cuộc đấu lý đã dẫn đến
bạo lực. Ðám đông hàng trăm người trong đó có những người bịt mặt với
sự reo hò, cổ xúy của hàng nghìn người vây Ủy ban (cỡ chừng vài ba
nghìn người, có người cho rằng có tới 6 nghìn người) đã tràn vào trụ sở
Ủy ban Nhân dân xã, đập phá bàn ghế, tủ công tác, bàn hội nghị, phòng
ốc, chậu hoa, cây cảnh, bát đĩa, v.v. và săn đuổi cán bộ xã đang có mặt
tại trụ sở. (Khi thấy sự việc có chiều hướng nguy hiểm, hệ thống đèn
chiếu sáng đã phải vụt tắt, tất cả các cán bộ xã đều đã phải trốn chạy
tháo thân).</p>
<p style="text-align: justify;">
Thế rồi từ 7h tối ngày hôm đó cho tới rạng sáng ngày hôm sau (chừng
3h30') là một cuộc bạo động của đám đông hàng nghìn người rầm rập trên
đường lần lượt đi phá, đốt nhà cửa, lấy tài sản của các cán bộ chủ chốt
trong xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trình tự của cuộc đập phá : Thoạt đầu là Ủy ban xã, ngay sau đó là nhà
chị Ly, liền kề Ủy ban (đây là gia đình thường thổi nấu cơm khách, phục
vụ ăn uống cho Ủy ban xã). Người ta nói rằng việc đập phá nhà chị Ly là
để cho bõ tức vì không tìm thấy ông Chủ tịch Hàm tại đó. Tại nhà này,
đám đông đã đốt xe máy phân khối lớn của một cán bộ công an tỉnh biệt
phái theo dõi cơ sở. Từ nhà chị Ly, đám đông ầm ầm đi tới xóm 11 dập
phá nhà Chủ tịch Hàm. Sau đó, chuyển xuống xóm 6, phá nhà ông Trung,
cán bộ quản lý địa chính xã, sang xóm 8, đập phá tài sản nhà ông Lự,
Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái
Bình. Tại đây, đã diễn ra cuộc đụng độ quyết liệt giữa thân nhân của
chủ nhà với người đi đập phá, cả hai phía đều có người bị thương, đám
đông đã bắt đầu nổi lửa đốt từ nhà này trở đi. Tiếp đó đám đông vượt
đồng sang xóm 9, xóm 10 để đập phá và đốt nhà ông Hoa, Phó Chủ tịch phụ
trách nội chính xã, quay trở về gần nhà Chủ tịch Hàm để đốt phá nhà ông
Ðăng, Chỉ huy trưởng quân sự xã, sau đó tới các xóm khác đốt phá nhà
ông Trừ (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân khóa trước, nay là Trưởng
ban Tài chính xã) rồi tới đốt phá nhà ông Hứa, Phó Chủ nhiệm hợp tác xã
nông nghiệp. Ðiểm đốt phá cuối cùng là nhà Bí thư Ðảng ủy Vũ Xuân
Chiếm, huyện ủy viên huyện Quỳnh Phụ... Tại đây, đám đông giải tán vào
lúc khoảng 3h30' sáng ngày 27/6/1997.</p>
<p style="text-align: justify;">
Từ những thông tin mà chúng tôi nắm được qua cuộc khảo sát nhanh được
trình bày tóm tắt ở trên chúng tôi nghĩ có thể gợi lên một số nguyên
nhân để giải thích các sự biến vừa rồi. Ðương nhiên ở đây cũng chỉ là
sự suy nghĩ chủ quan của chúng tôi từ cách tiếp cận xã hội học. Ở những
cách tiếp cận khác, có thể có sự nhìn nhận khác. Tuy vậy, chúng tôi cứ
mạnh dạn nêu lên như sau :</p>
<br>
<br>
<h2><strong><big>II. <span
 style="font-style: italic;">Sức
dân bị khai thác
quá mức,</span><br style="font-style: italic;">
<span style="font-style: italic;">bị sử dụng lãng phí và
bị tham nhũng
quá mức</span></big></strong></h2>
<br>
<p style="text-align: justify;">Là một tỉnh nông nghiệp,
mật độ dân số
quá cao và có một thời tỉ lệ phát triển dân số quá lớn. Thái Bình cho
đến nay vẫn chỉ trông chờ vào việc trồng lúa. 102.360 ha đất nông
nghiệp của Thái Bình đã được thâm canh đến mức tối đa và nhìn chung
năng suất cũng đã đạt đến mức tối đa : 10-15 tấn/ha/năm ; tức là khoảng
từ 2 cho đến 2,5 tạ/sào/vụ. Bình quân đất canh tác mỗi khẩu dao động từ
1 tới 1,5 sào/người. Ước tính năm 1997 trung bình mỗi người dân Thái
Bình xuất khẩu không quá 15 đô la, trong đó một phần không nhỏ trông
chờ vào xuất khẩu lúa. Ðược mùa nên giá lúa đã rơi mạnh ; giá lúa trung
bình tại các chợ là 1.200 đ/kg thóc và sau vụ Ðông xuân 1997 Thái Bình
còn hàng chục vạn tấn chưa có thị trường tiêu thụ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nhìn từ góc độ hộ gia đình, tình hình lúa ít sáng sủa hơn. Theo nhiều
người đánh giá, nếu cần mua 200 đ thuốc lào cũng phải bán lúa và 5 cân
mới mua nổi 1 bao Vinataba (<span style="font-style: italic;">Thời
báo
Kinh tế</span>, 16/7/1997). Những nguồn thu nhập khác ngoài lúa
như
chăn nuôi là thấp và ít ỏi. Chúng tôi dẫn ra đây trường hợp một nông
dân đã từng tham gia biểu tình ở xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình. Gia đình anh ta 5 người với 7,5 sào ruộng có thể có thu nhập
tối đa là :</p>
<p style="margin-left: 40px;">7,5 sào x 4 tạ = 30 tạ = 3
tấn =
3.600.000đ</p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 40px;">2 tạ
lợn x
10.000đ/kg = 2.000.000đ</p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 40px;">Các
khoản khác : =
2.000.000đ</p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 40px;">Tổng
cộng : =
7.600.000đ</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong lúc đó, các khoản chi phí chủ yếu là :</p>
<p style="margin-left: 40px;">7,5 sào x 1 tạ = 7,5 tạ =
1.000.000đ</p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 40px;">2 tạ
lợn X 5.000đ/kg
= 1.000.000đ
Tổng cộng : = 2.000.000đ</p>
<p style="text-align: justify;">
Các khoản đóng góp cho chính quyền:</p>
<p style="margin-left: 40px;">Vụ đông : 71,1 tạ =
850.000đ</p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 40px;">Vụ mùa
: 5,7 tạ =
680.000đ</p>
<p style="text-align: justify; margin-left: 40px;">Cộng :
= 1.530.000đ</p>
<p style="text-align: justify;">Tổng cộng: =
4.100.000đ
Thu nhập bình quân 800.000 đ/người</p>
<p style="text-align: justify;">
Có lẽ đây là một trường hợp không mấy cá biệt, mà có thể xem như khá
phổ biến đối với Thái Bình.</p>
<p style="text-align: justify;">
Với nguồn thu tối đa là 1.000.000 đ/người/năm, người nông dân phải chi
cho ăn, mặc, học hành của con cái, chữa bệnh, sửa chữa nhà cửa và vô
vàn các khoản khác nữa. Trong lúc đó hệ thống nhu cầu lại được mở rộng,
theo kênh truyền thông đại chúng về lối sống đô thị và theo mạng lưới
giao thông nối liền nông thôn với đô thị. Ví dụ, nước giải khát chè
xanh không còn trong khi xuất hiện "bia Ong" (Thái Bình) cũng như các
loại nước có ga khác. Người nông dân trên những thửa ruộng với nhiều
mảnh cách xa nhau cũng không thể cày sâu hơn, cuốc bẫm hơn vì họ đã
nghiệm ra là càng như thế thì thu nhập của họ càng ít đi. Trong khi đó,
đường nhựa và thông tin đại chúng truyền tải liên tục về cho họ những
sản phẩm mới và những hình ảnh mới mà họ ít có cơ hội để hưởng dụng
chúng. Ðặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đại học và y tế nhà nước,
rất khó để người nông dân có thể hưởng được những thành quả của sự phát
triển trong hai hệ thống đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong lúc đó, người nông dân cũng tận mắt thấy sự đồng đều truyền thống
mà họ yêu mến không còn nữa. Nhóm cán bộ xã đã giàu lên nhanh chóng và
bắt đầu có một lối sống khác: "<span style="font-style: italic;">chiều
chiều họ cưỡi xe dim</span> [xe honda Dream], <span
 style="font-style: italic;">đeo vạt</span> [cà vạt], <span
 style="font-style: italic;">mặt đỏ như ông tiên sư, ra cánh
đồng đứng
chỉ trỏ</span>" (lời kể của một lão nông, huyện Quỳnh Phụ). Thế
rồi vợ
con của những cán bộ kiểu này bắt đầu có những đua đòi, kệch cỡm trong
lối sống mà bà con lối xóm cho là "hợm của". Và không thể nào lý giải
được nguồn gốc của số của cải đó. Trong các khiếu nại, nhiều người nông
dân chỉ yêu cầu các cán bộ lãnh đạo xã dạy cho họ biết cách làm thế nào
để cũng có thể giàu lên nhanh chóng như cán bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thành tựu về tăng trưởng kinh tế ở Thái Bình là rõ ràng : người nông
dân từ chỗ đói ăn, nhà tranh vách đất nay đã chuyển sang đủ ăn, nhà
kiên cố. Tuy nhiên, do hệ thống nhu cầu được mở ra nên từng người cụ
thể không cảm nhận được sự tăng trưởng đó. Có chăng là với người già,
khi họ ngồi nhớ lại rằng ngày xưa đời sống khổ cực hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">
Một thành tựu cơ bản của Thái Bình cho đến tận hôm nay là đẩy nhanh các
chương trình xã hội. Trong năm năm qua những công trình "Ðiện, đường,
trường, trạm" đã là những thành tựu nổi bật nhằm mục tiêu phát triển
kinh tế, đặc biệt là phát triển xã hội. Tuy nhiên, nếu phát triển các
chương trình đó trong bối cảnh của nền kinh tế không phát triển đạt đến
mức tương ứng thì sẽ đem lại một sự thụt lùi cả trên bình diện kinh tế
lẫn xã hội. Ðiều này thì nhiều lãnh đạo nào cũng có thể hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thế nhưng, dường như lãnh đạo Thái Bình muốn thông qua những chương
trình xã hội để phần nào đảm bảo lại sự phân phối lại công bằng hơn cho
người dân. Có lẽ chưa có tỉnh nào phát triển hệ thống giao thông nông
thôn tốt được như Thái Bình : đường liên xã đều được rải nhựa. Hơn thế,
Thái Bình còn phát triển cả bốn công trình điện, đường, trường, trạm
cùng một lúc. Quả thực điều này đã tạo cho nông thôn Thái Bình một diện
mạo rất tươi sáng. Nhìn từ ngoài vào, ấn tượng thật nổi bật. Song nếu
đi sâu phân tích sẽ bật ra nhiều vấn đề.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðiểm đầu tiên cần hiểu : từ nguồn vốn nào để thực thi các công trình
lớn đó ? Không thể từ đâu khác, kể cả nguồn vốn cho việc xây dựng trụ
sở, hội trường, nhà tưởng niệm, v.v. đều chủ yếu lấy từ sự đóng góp của
nông dân. Cùng với nó là từ các nguồn có thể xoay xở được như bán đất
cho những người có tiền làm nhà. Ðặc biệt là khoản tiền vay của ngân
hàng với hy vọng sẽ trả dần về sau này. Ước tính số tiền nợ vay ngân
hàng theo những người được hỏi có thể chiếm 10 % tổng số tiền sử dụng
để triển khai các chương trình trên. Gánh nặng trả nợ về sau thì rồi
cũng đè trên vai người dân chứ còn ở đâu khác. Mà những khoản đóng góp
thì rất đa dạng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ví dụ : tại xã Tây Phong huyện Tiền Hải, người ta nói với chúng tôi
rằng : mỗi con trâu 1 vụ phải đóng 40 kg thóc về tiền giao thông, tức
là mỗi chân trâu 10 kg thóc cho 1 vụ ; mỗi đàn vịt từ 30 con trở lên
phải đóng thuế trồng cỏ. Còn nhiều khoản đóng góp khác nữa, ví như một
cuộc họp phổ biến kiến thức nói về nông nghiệp cũng đòi mỗi gia đình
phải đóng góp 7 kg thóc, v.v.</p>
<p style="text-align: justify;">
Những xã càng là tiên tiến, lá cờ đầu, thì sự đóng góp của dân càng
nặng hơn. Cũng người nông dân tại xã Tây Phong, Tiền Hải, Thái Bình,
người đã tham gia cuộc biểu tình bày tỏ ý kiến trên huyện đã nói ở
trên, anh ta cho biết : "<span style="font-style: italic;">Theo
quy
định vụ Ðông xuân 97 gia đình anh phải đóng 7,1 tạ thóc cho hộ 5 người.
Nhờ quyết định 279</span> (**) <span
 style="font-style: italic;">nên
vụ Ðông xuân này hộ chỉ còn phải đóng góp 2,2 tạ thóc mà thôi. Và các
gia đình trong xã bắt đầu tổ chức ăn mừng việc</span> "giảm sản".
Ở xã
là nơi mà sự đóng góp đó đè lên vai người nông dân với tất cả sức nặng
của nó, hầu như tất cả các xã của Thái Bình đều nằm trong tình trạng
mang công mắc nợ ngân hàng. Xã nợ chừng 1-2 tỷ là chuyện thường. Tại xã
Quyết Tiến huyện Kiến Xương, một xã có khoảng hơn 3 000 dân, mức nợ nằm
ở khoảng trung bình cũng là chừng 400 triệu. Theo lời bình của một cán
bộ xã : "<span style="font-style: italic;">Nếu xã nợ chừng
100 triệu
trở lại thì còn có thể xoay xở được chứ quá 100 triệu thì sẽ rất nan
giải</span>".</p>
<p style="text-align: justify;">
Cần nhớ rằng, nội dung đích thực của các chương trình xã hội không phải
nằm ở phần cứng của nó, mà là nội dung bên trong cái khung hào nhoáng
đó. Chẳng hạn, với trường học thì phần cơ bản phải là đời sống và giáo
viên để cho họ thực sự là giáo viên chứ không phải là người nông dân có
nghề phụ là dạy học ! Với trạm xá thì tay nghề của các cán bộ y tế cùng
những trang thiết bị tối thiểu cho họ hành nghề mới là cái chức năng
đích thực. Nếu thế thì một câu hỏi được đặt ra : Liệu có cần phải xây
nhiều trạm xá đến như thế không trong khi đã có một hệ thống giao thông
tốt và thuận lợi đến như vậy ? Cũng có nghĩa là cho đến hôm nay, thực
chất các chương trình phát triển xã hội cũng mới chỉ hoàn tất bước đầu
ở phần dễ thấy nhất và tương đối ít tốn hơn. Ấy thế mà cũng đã kiệt
sức. Câu hỏi đặt ra sẽ là, phát triển các chương trình xã hội có kịp
mang lại động lực mới cho phát triển kinh tế nông thôn Thái Bình hay
không, hay đang là gánh nặng quá sức đối với người dân khi mà bình quân
thu nhập của họ chỉ trên dưới xấp xỉ 1 triệu đồng cho 1 người trong 1
năm ? Hậu quả của sự đóng góp quá sức đó là gì, chúng ta đã tìm thấy
trong các sự biến vừa rồi. Nói cách khác, theo chúng tôi, đó chính là
một trong những nguyên nhân đẩy tới sự biến Thái Bình.</p>
<br>
<br>
<h2><strong><big>III. <span
 style="font-style: italic;">Cán
bộ và cơ chế</span></big></strong></h2>
<br>
<h3>1. Về người cán bộ</h3>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Ðiều mà mọi người thường giải thích, do cán bộ xã tham nhũng quá đáng,
ức hiếp dân để dân không chịu nổi nên tức nước thì vỡ bờ thôi. Trăm sự
là đều do cán bộ xã hư hỏng mà ra. Nói vậy cũng có chỗ đúng song cách
nhìn nhận ấy không thỏa đáng, và nói cho cùng, cũng chưa đi vào nguyên
nhân cơ bản dẫn đến sự khủng hoảng ở Thái Bình, một điển hình nổi bật
nhiều năm của sự nghiệp phát triển nông thôn. Rốt cuộc lại thì những
người cán bộ là ai, phải chăng họ chính là những thành viên cấp cuối
cùng thực thi mọi đường lối chính sách của Ðảng và Nhà nước ? Mà thật
ra, với người nông dân ở xã thì Ðảng và Nhà nước cũng là một, nó là
hiện diện cho những người có quyền lực đang trực tiếp tổ chức và chi
phối đời sống của họ. Ở một khía cạnh nào đó, người cán bộ xã phải gánh
trên vai toàn bộ gánh nặng của hệ thống quản lý về chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng... Chính họ là người chuyển tải mọi
chủ trương đường lối của Ðảng và Nhà nước đến trực tiếp với người dân,
nói đúng hơn, đến 80 % dân số của cả nước. Không có họ khó hình dung
được sự hoạt động của hệ thống quản lý. Cho nên, không thể chỉ có sự
phê xét về họ, mà quan trọng hơn, là sự thẩm định lại cái cơ chế đang
điều hành họ, đúng hơn, cái cơ chế mà họ được đặt vào, và rồi, bản thân
họ góp phần làm cho cái cơ chế ấy vận hành và cũng bị sự vận hành của
cơ chế ấy chi phối.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðương nhiên, họ phải chịu trách nhiệm với những hoạt động của họ, hành
vi của họ, phẩm chất của họ. Không ai có thể biện hộ cho hành vi tham
nhũng và ức hiếp dân của những cán bộ xã hư hỏng. Họ phải bị xử lý,
người khác sẽ được thay thế vào, và guồng máy tiếp tục được vận hành
theo cái cơ chế đã từng chi phối những cán bộ vừa bị xử lý (sa thải
hoặc kỷ luật, ví dụ thế). Thế rồi sao nữa ?</p>
<p style="text-align: justify;">
Một bộ máy quản lý ở cấp xã cũng đủ lệ bộ như đã quy định từ Trung
ương, chỉ có điều, tiền phụ cấp công tác hoặc lương mà họ được hưởng
không tương xứng với công việc mà họ phải gánh vác. Ví dụ như, với
280.000đ, một chủ tịch xã chỉ có thể chi phí cho việc đi họp ở huyện, ở
tỉnh, giao tiếp, khách khứa (xăng xe, thuốc lá, thuốc lào, giải khát
dọc đường, sửa xe, v.v.). Nhưng họ cũng phải sống chứ, phải nuôi vợ
con, rồi nhà cửa, giỗ chạp, cưới xin, chữa bệnh, học hành cho con cái,
v.v. Tiền lấy đâu ra ? Ấy vậy mà, xem ra, không mấy cán bộ có chức, có
quyền ở xã lại chịu sống trong cảnh bần hàn nhưng liêm khiết cả. Nói
chung thì, ở những xã vừa bùng lên những vụ khiếu kiện, những vụ biểu
tình, những sự đập phá, v.v. các cán bộ xã đều có mức sống tương đối
cao so với mặt bằng mức sống chung của dân trong xã (trừ những cá biệt).</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong cuộc phỏng vấn một ông giáo về hưu tại thị trấn Kiến Xương, người
đang đi khắp nơi nộp đơn đòi thành lập Hội Chống tham nhũng, thì ông ta
chia tham nhũng ra làm ba loại, trong đó loại 2, loại 3 thì chỉ cảnh
cáo. Chính ông cũng thừa nhận rằng, các cán bộ xã đã làm việc rất nhiều
nhưng phần tặng thưởng cho họ về công lao hoạt động là quá ít ỏi. Cũng
có nghĩa là ông mặc nhiên thừa nhận những cái mà những người cán bộ có
được cũng một phần là công sức lao động của họ, công sức ấy chưa được
Nhà nước bồi hoàn thích đáng, và vì vậy tham nhũng là điều dễ hiểu và
khá phổ biến. "<span style="font-style: italic;">Nếu cách
chức cả thì
lấy ai làm việc</span>", ông ta kết luận !</p>
<p style="text-align: justify;">
Cũng có thể thấy rằng, công quỹ được hình thành nên, để trong đó có thu
nhập của cán bộ xã, có thể có được từ 3 nguồn (ở những xã không có dịch
vụ phát triển) :</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tiền phần trăm do các bên nhận thầu "lại quả" khi thực thi các công
trình phúc lợi công cộng. Khoản tiền này rất lớn và khó xác định.
- Tiền bán đất cho nông dân xây nhà.
- Những khoản thu phí trong các hoạt động sản xuất của nông dân.</p>
<p style="text-align: justify;">
Những khoản tiền này được chi để trang trải mọi hoạt động của một bộ
máy hành chính rất cồng kềnh, song không được trả đủ lương để tồn tại.
Ðấy là chưa nói để chứng minh sự tồn tại của mình là hợp lý, bộ máy này
luôn luôn xáo động bằng sự thay đổi nhân sự, bằng sự thăm viếng thường
xuyên để chứng tỏ tính chất tập trung tuyệt đối của họ. Phần còn lại
sau khi chi phí cho sự hoạt động của bộ máy cồng kềnh đó sẽ thuộc về
những người quản lý cấp cơ sở.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy có nghĩa là khoản thu nhập thêm của cán bộ xã có tính hai mặt.
Một mặt, nó là sự trả công cho lao động cường độ rất cao của họ. Mặt
khác, nó là sự tước đoạt của cộng đồng. Và do tính chất tuyệt đối của
quyền lực hiện hữu, hoàn toàn không có khả năng kiểm soát được về sự
tước đoạt này, gắn với sự bất hợp lý của nền hành chính. Sự lạm dụng
công quỹ được hình thành nên do những đóng góp nói trên là điều tất
yếu, không thể khác được. Và, sự lạm dụng đó rất lớn, chẳng hạn như,
người ta nói và chắc là không ngoa, sau hai năm công tác, một trưởng
thôn có thể kiếm được 17 tấn thóc. Nói cách khác, cùng với việc sử dụng
công quỹ để nuôi một bộ máy quản lý quá cồng kềnh ở cấp xã, để tạo ra
sự khang trang cho cả cộng đồng, người cán bộ xã cũng tìm cách làm giàu
cho gia đình họ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Vấn đề đặt ra không chỉ là phẩm chất của người cán bộ xã mà chủ yếu là
cơ chế nào đã cho phép họ cái quyền được tạo ra công quỹ đó và được
phép sử dụng công quỹ đó. Sự phẫn nộ của nông dân không phải chỉ là
những khoản họ phải đóng góp, và còn là, và chủ yếu là việc chi dùng sự
đóng góp đó, trong đó có sự tham nhũng như đã phân tích ở phần II.</p>
<br>
<h3>2. Sự đối đầu giữa cán bộ quản lý và dân</h3>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Sự đối đầu giữa cán bộ cấp cơ sở và nông dân là một thực tế rõ nét. Mà
những sự biến ở Thái Bình vừa qua đã được phơi bày, cần phải được mạnh
dạn chỉ ra. Cần chú ý đến một câu ngạn ngữ phương Tây : "<span
 style="font-style: italic;">Quyền lực có xu hướng tham
nhũng, và quyền
lực là tuyệt đối thì tham nhũng là tuyệt đối</span>". Ở cơ sở
cộng đồng
xã hội nông thôn hiện nay, sự tập trung quyền lực tuyệt đối, trên thực
tế là ở trong tay một số người, mặc dù trên danh nghĩa thì là tập thể
lãnh đạo của tổ chức Ðảng và Chính quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong cuộc phỏng vấn tại nhiều xã trong đợt khảo sát vừa qua của chúng
tôi, nhiều bà con nông dân đã thể hiện rõ sự phẫn nộ và quyết liệt với
một số cán bộ xã và ngược lại các cán bộ xã cũng có một thái độ như thế
đối với những người nông dân biểu tình. Sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai
nhóm người này là quá rõ, họ rành nhau quá, biết kỹ về nhau quá. Sau
những năm dài cùng tồn tại dựa vào nhau, có lẽ chỉ có họ mới hiểu chính
xác thế nào là mối quan hệ giữa người quản lý (nhà nước) và người bị
quản lý (nhân dân). Và tuyệt đối họ không có ảo tưởng về nhau. Những ảo
tưởng về đối tượng quản lý, nếu có, chỉ bắt đầu xuất hiện tại cấp huyện
và những cấp cao hơn chứ không thể nào có được tại cấp xã. Cán bộ cấp
xã là những người có tư duy rất cụ thể (và có lẽ đó là nơi đào tạo tốt
nhất về quản ý nhà nước hiện nay hơn bất cứ học viện nào).</p>
<p style="text-align: justify;">
Bi kịch nông thôn là ở chỗ cả hai nhóm người đang đối diện với nhau đều
cùng hướng vào những mục tiêu mà xã hội theo đuổi và cơ chế mà xã hội
vận hành để theo đuổi các mục tiêu đó. Chính họ cùng chia sẻ những mục
tiêu đó mà không ý thức được về cái giá phải trả để đạt được tới đích.
Sự căng thẳng vẫn tồn tại từ rất lâu, nhưng một thời gian có phần mờ đi
vì chiến tranh, về sự hy vọng về một xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người
đều bình đẳng như nhau, sướng khổ như nhau. Khi bắt tay vào xây dựng
cuộc sống mới sau hòa bình, những hậu quả của chiến tranh càng được làm
trầm trọng thêm trong sự vận hành cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao
cấp đẩy tới sự khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài, đời
sống nông thôn lại càng khó khăn gấp bội. Những bước khởi sắc với Nghị
quyết 10 và công cuộc Ðổi mới làm cho đời sống nông thôn có chuyển biến
mạnh. Tuy nhiên, sau thời gian khởi động, những động lực được tạo ra
không còn giữ được sức đẩy như trước nữa, động lực mới thì chưa tạo ra
được. Cơ chế vận hành của hệ thống quản lý và bộ máy hành chính càng
ngày càng bộc lộ sự bất cập của chúng. Sự bất cập càng kéo dài thì đụng
độ giữa người quản lý và đối tượng họ quản lý càng tăng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Những dồn nén không được giải tỏa (những khiếu kiện hợp lý và trong
khuôn khổ hiền hòa, chỉ nhận được những thái độ lẩn tránh quanh co hoặc
im lặng kéo dài của các cấp từ xã lên đến huyện, đến tỉnh thậm chí đôi
lúc cả trung ương) đến một lúc không kềm chế được đã bục ra. Và khi nó
đã bục ra thì có một thực tế phũ phàng là: bộ máy quản lý cấp xã nhiều
nơi bị vô hiệu hóa hoặc tan rã. Ðiều mỉa mai nhất, chúng thể hiện rõ sự
bục vỡ đó ở ngay những nơi đã được đánh giá là chính quyền vững mạnh,
đảng bộ bốn tốt ví như ở xã An Ninh, Quỳnh Phụ, xã Thái Thịnh, Thái
Thường của Thái Thụy và xã Tây Phong của Tiền Hải.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ở những nơi này, sự đối đầu giữa người dân và bộ máy quản lý đã đến cao
độ. Và sự đối đầu này hoàn toàn không có cái gì để làm mềm đi cả. Mặc
dầu ở những nơi này người ta vẫn học thuộc lòng khẩu hiệu : "Ðảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Thế là diễn ra tình huống nhà
nước cấp xã quản lý theo những mục tiêu mà nhà nước cấp trên đề ra.
Nhân dân thể hiện sự làm chủ của mình bằng cách nổi lên phản kháng. Tuy
nhiên, trong cuộc xung đột đó, theo nhận xét của nhiều người, hoàn toàn
không thấy bóng dáng của đảng viên nào đứng ra can ngăn những cơn phẫn
nộ của quần chúng, bảo vệ những thành quả đã đạt được cũng như bảo vệ
nhân tính của người. Trong các sự biến, nhìn rõ sự đối đầu giữa nhà
nước, những người quản lý, và nông dân, những người bị quản lý. Tuy
vậy, không thấy có ai ca thán gì về Ðảng, tất cả mọi người vẫn nói rằng
: đường lối của Ðảng là đúng đắn ! Gần như mọi người đều nhận định rằng
: dân chỉ chống những cán bộ tham nhũng, hư hỏng, không chống lại chế
độ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðây là một vấn đề của chính trị học, có lẽ chúng ta cần có sự nghiên
cứu thỏa đáng để rút ra bài học về mặt thể chế và về vai trò của Ðảng
cầm quyền được hiện diện bằng xương bằng thịt ở tổ chức Ðảng cơ sở và ở
người Ðảng viên sống trong lòng quần chúng. Không thể không thấy rằng,
sự hiện diện bằng xương, bằng thịt của Ðảng cầm quyền là Nhà nước, là
chính quyền ở cơ sở cũng như ở các cấp. Ở một khía cạnh khác trong mối
quan hệ giữa cán bộ cơ sở với dân, cần phân tích đó là sự mất dân chủ,
xa rời quần chúng nhân dân của một số cán bộ xã còn phản ánh ở một
chiều cạnh khác của sự bất bình đẳng xã hội mà chính họ là đại diện.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðó là sự cố tình phô bày một lối sống trái ngược hẳn với đạo lý của đời
sống cộng đồng vốn rất đặc trưng cho nông thôn Thái Bình. Người dân
Thái Bình chỉ chuyên nghề nông, ít va chạm với thương trường, vì xa các
trục giao thông quốc gia và quốc tế nên rất dễ phản ứng với những gì xa
lạ, nhất là những thay đổi từ trong đời sống cộng đồng của chính họ. Họ
nhìn những người cán bộ xã đang giàu lên nhanh không phải bằng mồ hôi
nước mắt của chính họ bằng con mắt nghi ngờ bao nhiêu, thì càng tỏ ra
căm uất bấy nhiêu khi chứng kiến sự xa hoa đua đòi và kênh kiệu của
những người này.</p>
<p style="text-align: justify;">
Người dân thể hiện sự căm tức ấy qua cách mô tả những ngôi nhà cao to
có trang bị đắt tiền kiểu thành phố, những chiếc xe máy đời mới nhất,
đến cách ăn diện của các bà vợ các cán bộ xã đi liền với những câu nói
hợm hĩnh, rồi đồ trang sức ở những đứa con cán bộ, v.v. (Một ví dụ : vợ
của một cán bộ xã đứng giữa chợ gọi điện thoại di động về cho chồng con
xem muốn ăn gì đổi món để mua khiến cho bà con nhìn họ với đôi mắt phẫn
nộ và dè bỉu). Rõ ràng là cùng với sự phẫn nộ trước những bất công và
tham nhũng về kinh tế trước sự lộng quyền mất dân chủ về chính trị và
xã hội, mô hình văn hóa của làng quê cổ truyền đụng độ gay gắt với
những khác lạ của lối sống của những người mới phất lên do khai thác
được cơ may, quyền lực mà họ đang có. Chiều cạnh của văn hóa này của
các sự biến cần phải nhìn cho ra để giải thích thêm về nguyên nhân cho
những màn kịch đốt nhà và đập phá của cải đầy bạo lực mà người không
theo dõi sự kiện này từ đầu khó cảm nhận được để nhìn nhận và phân tích
sự kiện bạo động vừa xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">
Quả thật, cán bộ xã, người đại diện cho hệ thống quản lý nhà nước ở cấp
xã cùng với cơ chế quản lý đang vận hành đã bộc lộ những yếu kém và bất
cập để dẫn đến những vụ đụng độ gay gắt, chuyển thành những bùng nổ xã
hội khiến chúng ta buộc phải nhìn nhận trở lại một cách nghiêm khắc về
vấn đề quản lý nhà nước. Cũng cần phải lưu ý rằng những sự kiện Thái
Bình lại nổ ra vào lúc chúng ta vừa có nghị quyết Trung ương 3 về nhà
nước và cán bộ !</p>
<br>
<h3>3. Những giải pháp bất cập từ nhiều phía</h3>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Nếu diễn biến của tình hình đã vượt quá tầm kiểm soát của những người
tổ chức và tham gia vào cuộc đấu tranh, thì đối với chính quyền các cấp
trên, đây cũng là một sự kiện hết sức bất ngờ. Cách nhận định địch - ta
trong tư duy chính trị trước đây đã có ảnh hưởng không nhỏ tới các giải
pháp tình thế. Nghi vấn về sự xúi giục hay âm mưu phá hoại của địch đã
loại trừ khả năng xử lý kịp thời những vụ tham nhũng và vi phạm dân chủ
trong nông thôn của một số cán bộ xã và có thể dập tắt ngay từ đầu cái
mầm của sự rối loạn không đáng có này. Nó cũng làm chậm lại việc củng
cố Ðảng và các tổ chức quần chúng trong nông thôn. "<span
 style="font-style: italic;">Không cắt bỏ ngay cái bọc ung
thư, để cho
nó di căn rồi mới lo cứu chữa thì quá chậm</span>", đó là một
nhận xét
chí lý của một cán bộ có trọng trách ở cấp tỉnh nay đã về hưu, đã nói
với chúng tôi !</p>
<p style="text-align: justify;">
Các quyết định của tỉnh cho dù là đúng, song vì không sát với thời điểm
của nó nên có khi còn gây căng thẳng thêm cho tình hình. Chỉ thị "279"
yêu cầu chính quyền địa phương chỉ được thu 7 khoản như quy định của
tỉnh, được công bố vào cuối tháng 6.97 đã làm bế tắc thêm cho các giải
pháp nếu đâu đó cán bộ cố tìm cách tháo gỡ sự đụng độ. Các công trình
đã được ký kết và khởi công. Các khoản tiền đã được vay để tạm ứng
trước, nay không còn khả năng thanh toán vì đã mất các nguồn thu. Tỉnh
đã phải ban bố tiếp một quyết định khác yêu cầu đình chỉ mọi khoản thu
và hứa cung cấp kinh phí để giải quyết những bế tắc hiện tại. Những yêu
sách của quần chúng là bức xúc và phần lớn những chính quyền cấp xã
không sao thỏa mãn, vì nếu thỏa mãn chúng thì phải phủ định chính mình:
quyền lực, lợi ích, uy thế. Tình hình dẫn tới chỗ bế tắc. Hệ thống
quyền lực ở xã lung lay và không còn chỗ dựa trong dân. Vai trò lãnh
đạo bị mờ nhạt, vô hiệu hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tình trạng thiếu lãnh đạo trong nông thôn lập tức được biến thành cơ
hội cho các lực lượng xã hội khác xuất hiện chi phối đời sống xã hội
nông thôn. Cái cơ cấu làng họ lâu nay tưởng như chìm sâu trong ký ức
giờ đây lại sống lại và trở thành chỗ dựa mạnh mẽ cho đời sống thôn xã.
Hình ảnh những cán bộ xã Mỹ Lộc (Thái Thụy) phải co cụm trên nóc nhà
mình với sự bảo vệ của những người trong gia tộc và thôn xóm phải chăng
là điều cảnh báo cho sự bất lực của bộ máy quản lý mà lâu nay chúng ta
cứ ngỡ như là vững chãi và sự phục hồi sức mạnh hệ thống thân tộc, làng
họ cổ truyền. Sự khôi phục những sinh hoạt gia tộc và làng xã truyền
thống trong những năm gần đây có mối liên hệ gì không với những sự biến
này ?</p>
<p style="text-align: justify;">
Năm 1993, các đảng viên thuộc hai chi bộ ở xã Thụy Hải (Thái Thụy) đã
tổ chức dân hai thôn cầm vũ khí đánh nhau vì tranh chấp đất. Người ta
cũng rất tích cực trong việc đòi tách hợp tác xã và đòi chia lại ruộng
đất giữa các thôn. Những câu chuyện về "chi bộ họ ta", về sự kế nghiệp
các bí thư và chủ tịch đã nghỉ quản lý bằng con, cháu của họ vốn không
chỉ xảy ra gần đây mà nó đã tiềm tàng từ lâu trong cộng đồng làng xã
khi đi vào hợp tác hóa để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Việc khôi phục các
quan hệ và sinh hoạt văn hóa truyền thống ấy chính là cái giá đỡ có
hiệu quả cho quá trình chính trị hóa đời sống nông thôn hiện nay. Nó có
thể có ích cho công cuộc đổi mới hiện nay, nếu nó được hướng theo những
mục tiêu chung của đất nước và thời đại. Trong tình thế ngược lại nó sẽ
là lực cản to lớn cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân và sự đi lên
của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng
chủ nghĩa xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
Cần lưu ý rằng : "<span style="font-style: italic;">Làng
là tế bào của
xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản phẩm của tự nhiên tiết ra từ
quá trình định cư và cộng cư của người dân Việt trồng trọt. Hiểu được
làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên hiểu
xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong sự năng động
lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong
các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước
những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó</span>" (***).</p>
<p style="text-align: justify;">
Chúng ta đang chứng kiến "<span style="font-style: italic;">những
phản
ứng của làng xã</span>" trước những hình thái mà lịch sử đương
đại đặt
vào nó.</p>
<p style="text-align: justify;">
Mô hình văn hóa "làng họ" ăn sâu vào tâm thức và thế ứng xử của người
nông dân, đặc biệt là nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Trong các thiết chế
của làng xã cổ truyền, làng - họ là mối liên hệ đặc trưng. Hệ thống
thân tộc, các phe giáp, mối quan hệ người cùng làng đã phần nào tạo ra
đời sống ổn định, trung hòa bởi những đối kháng trong xã hội. Cái cơ
cấu làng - họ với những thiết chế cổ truyền ấy tưởng đã bị xóa bỏ để
thay vào đó thiết chế quyền lực mới : Đảng và Chính quyền ở xã. Trong
thực tế, ảnh hưởng của thiết chế bền vững xưa kia không tan biến mà chỉ
chìm sâu xuống mà thôi. Một khi uy lực và tín nhiệm của bộ máy quyền
lực hiện thời bị lung lay thì sức mạnh của thiết chế cũ lại trỗi dậy.
Không thấy điều này, sẽ không tìm ra được những giải pháp mang tính bền
vững trong việc xây dựng nông thôn mới, lại là nông thôn đang hướng tới
sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thổi bùng lên ngọn lửa từ lâu âm ỉ là thiếu sót của một bộ phận khá lớn
những cán bộ cấp cơ sở và những xử lý không đúng của các cấp trên của
họ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc xử lý và kỷ luật một số cán bộ
có sai lầm khuyết điểm mà thôi thì chưa đủ. Ðiều ấy là tuyệt đối cần
thiết để yên lòng dân, song chưa giải quyết được tận gốc những nguyên
nhân tích lũy, sự bùng nổ lại tiếp tục có thể diễn ra. Vì, tiếp theo
sau sự sa thải hoặc kỷ luật những cán bộ có sai lầm, những người mới
được bổ nhiệm sẽ lại tiếp tục hoạt động trong cái cơ chế vốn là nguyên
nhân của sự tham nhũng, lộng quyền, thiếu dân chủ, không đủ trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ để thực thi chúc năng nhà nước tại cơ sở thì con
đường dẫn đến sai lầm của lớp cán bộ mới này là không tránh khỏi.</p>
<br>
<br>
<h2><strong><big>IV. <span
 style="font-style: italic;">Dân
chủ và dân trí, sự
vi phạm</span><br style="font-style: italic;">
<span style="font-style: italic;">quyền dân chủ tại nông
thôn</span></big></strong></h2>
<br>
<p style="text-align: justify;">Nếu khởi đầu từ cấp cơ sở
đi lên, thì
thật sẽ hết sức ngạc nhiên tại sao người nông dân lại có thể chịu đựng
lâu đến như thế sự mất dân chủ. Trước hết là vấn đề ruộng đất. Nếu việc
trả lại ruộng đất cho người nông dân tự quản là nền tảng lớn nhất và sơ
khởi cho bất cứ loại hình dân chủ nào thì hiện thực ở Thái Bình là,
người nông dân thường không biết được thật chính xác số đất họ có và
với số đất đó họ phải nộp những khoản gì, bao nhiêu và trên văn bản
nào. Tất cả đã được tính sẵn trong một quyển sổ bởi ai đó và hộ gia
đình ở nhiều nơi không được giữ quyển sổ đó, mà là do trưởng xóm giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chẳng thế mà sau những sự biến, ở nhiều nơi cán bộ xã (có thể dưới sự
chỉ đạo của cấp trên) đã lẳng lặng đến tuyên bố hoặc gạch bỏ những
khoản mục mà dân phải đóng góp và đã được ghi vào sổ. Bà con kháo nhau,
nếu cứ đà này thì vài năm là chúng ta có thể giàu ! Bằng những chuyện
thật mà cứ tưởng như đùa này, quyền làm chủ đất đai, ước mơ nghìn đời
của người nông dân trên thực tế đã bị vi phạm nghiêm trọng và khiến cho
mọi sự bàn cãi về thành tích dân chủ của một nông thôn mới quả là một
điều xa xỉ. "<span style="font-style: italic;">Nhà nước
bảo thuế ruộng
loại A nộp 19 kg/sào, xã thu hơn 30 kg/sào, dân cứ phải đóng. Một gia
đình có 3 mẹ con, một đứa con đang đi học lớp 7, một đứa học lớp 4. Bà
mẹ không may ngã gãy chân. Thế là tiền thuốc men ngốn hết số thóc trong
nhà, chưa thể đóng thuế được, chỉ còn 20kg thóc trong nhà, xã cũng vào
vét sạch thì còn dân với chủ gì nữa</span>". Ðấy là lời của một
cán bộ
lão thành ở Thái Bình nói với chúng tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tiếp đó, những dấu hiệu thông thường của nền dân chủ, dù chỉ là hình
thức, càng khó có thể nói là được tôn trọng. Một việc đơn giản nhất là
bầu trưởng xóm, một chức vụ được quy định bởi nhà nước và quy trình bầu
cũng được quy định bởi nhà nước, một nhân vật sống sát nhân dân nhất,
thì ngay việc bầu cử này người dân cũng không thật có quyền. Hay đúng
hơn là, người dân có quyền bầu ra một ông trưởng xóm làm đúng những gì
cấp trên quy định. Nếu không ông trưởng xóm đó sẽ được bãi miễn, để
thay bằng một ông trưởng xóm khác dễ bảo hơn (xã Tây Phong, Tiền Hải).</p>
<p style="text-align: justify;">
Do vậy, khó có thể nói nền dân chủ mà chúng ta triển khai có gì khá hơn
nền dân chủ làng xã vốn đã tồn tại nghìn đời ở nông thôn Việt Nam mà
ngay cả chính quyền đô hộ thực dân Pháp trước năm 1945 cũng ngần ngại
không dám xóa bỏ. Ở một chiều cạnh khác của việc thực thi dân chủ là ở
tinh thần luật pháp. Ở đây cũng lại thể hiện một sự bất cập. Một số cán
bộ tin chắc rằng quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã có thể là cơ sở
pháp lý tuyệt đối cho mọi hành vi của họ. Vì thế, chỉ cần thao túng Hội
đồng nhân dân là họ có ngay được những văn bản pháp lý cho những quyết
định mất dân chủ của họ. Còn ở phía một bộ phận nhân dân thì dường như
chế độ dân chủ bằng pháp luật chỉ có tính hình thức. Họ chỉ tin vào một
chế độ dân chủ trực tiếp, nơi mà họ có thể trực tiếp phát biểu ý kiến
và nguyện vọng của họ. Họ đã làm nên một sự kiện gần như cuộc "đảo
chính" khi họ giằng micro từ tay một cán bộ (xã Thái Thịnh, tháng 6/97)
để đọc bản đề nghị phế truất vị chủ tịch xã do chính họ bầu ra trước
đây và đề cử một người khác. Những cách quan niệm khác nhau và bất cập
về dân chủ trong xã hội không thể không dẫn tới những rối loạn chức
năng của tổ chức bộ máy nhà nước ở cấp xã, cái cần làm thì không làm,
cái không được phép thì cứ làm bừa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Một đặc trưng khác của nền dân chủ là sự kiểm soát hữu hiệu hoạt động
của nền hành pháp. Và không thể nói người nông dân, hay thanh tra nhân
dân được bầu ra, lại có thể làm được điều nàỵ Một kiểm soát hữu hiệu
phải có thông tin, ấy vậy mà, chưa có cơ chế nào quy định để người dân
nắm được thông tin cần thiết. Với cơ chế "Ðảng lãnh đạo" được hiểu một
cách thô thiển theo kiểu đảng viên phải nắm tất cả mọi chức vụ, sự kiểm
tra cũng bị những người nhân danh Ðảng thao túng. Như vậy thì sự dân
chủ đã bị vi phạm trắng trợn.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sự kiện Thái Bình diễn ra với đủ mọi lời đồn đại lan tràn, nhưng truyền
thông của tỉnh trong một thời gian dài đã không hề cung cấp bất kỳ một
thông tin nào về việc "<span style="font-style: italic;">vậy
thì cái gì
đang lan truyền trong toàn thể các xã ở Thái Bình</span>". Còn
khi được
phép đưa tin thì lại đưa theo một sự lựa chọn phiến diện, không phản
ảnh được tình hình, không đáp ứng được đòi hỏi của dân. Ðể nói về cái
quyền sơ đẳng của nhân dân nhiều nơi bị xâm phạm thô bạo, xin dẫn ra
đây một ví dụ : Một trường hợp đẻ con thứ ba (xã Tây Phong, Tiền Hải)
bị phạt theo quy định. Nhằm nhanh chóng thu tiền phạt, xã đã tự mình
đặt tên cho con của gia đình bị phạt và dẫn đến trường hợp rất hy hữu
trong lịch sử : đứa bé có hai tên, tên chính do chính quyền đặt và tên
khác do bố mẹ đặt cho !</p>
<p style="text-align: justify;">
Quyền dân chủ bị xâm phạm, điều ấy quá rõ, điều ấy cũng lại gắn với vấn
đề dân trí. Có một sự thật phải chấp nhận, khi trình độ dân trí chưa
được nâng cao thì việc thực thi dân chủ không tránh khỏi những lệch
lạc. Ðiều dễ trông thấy nhất là chủ nghĩa bình quân trong dân chủ làng
xã, trong quan niệm dân chủ đó, phần lớn mọi người vẫn chỉ chia sẻ một
giá trị là sự chia đều cho tất mọi người những quyền lợi về vật chất và
về tinh thần mà xã hội đạt được và người ta có quyền duy trì và thực
hiện các quyền đó. Người ta không chấp nhận rằng có những người khác
lại có khấm khá hơn họ. Và sự phát triển dân trí trong những năm vừa
qua chỉ đủ đưa những người lãnh đạo phong trào nông dân, trong trường
hợp tốt nhất là tư tưởng thành lập một Hội Chống tham nhũng. "<span
 style="font-style: italic;">Bọn tham nhũng như lũ chuột. Hội
Chống
tham nhũng là con mèo. Chỉ cần có hơi mèo là chuột sợ</span>".
Khởi đầu
với lý lẽ như thế, rõ ràng là dễ đi vào lòng người, sẽ được những kẻ
quá khích cổ vũ cho cái triết lý trong cơ chế hiện nay thì cứ Chí Phèo
là được tất. Và đám đông bùng lên. Những người cầm đầu với ý định rất
tốt đẹp ban đầu không còn làm chủ được tình hình nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Còn bên kia, các cán bộ chính quyền, nhất là cấp xã, cũng có cùng mặc
cảm dân chủ ấy, ngần ngại hành động. Và họ rất hận với chỉ thị 279 giảm
đóng góp của dân xuống. Vì theo họ, đấy là chỉ báo cho cái sự dân chủ
Chí Phèo phát triển.</p>
<br>
<br>
<h2><strong><big>V. </big><span
 style="font-style: italic;"><big>Những nhu cầu
khác chưa được đáp ứng</big></span></strong></h2>
<br>
<p style="text-align: justify;">Cùng với sự tăng trưởng
kinh tế, phát
triển xã hội, đảm bảo dân chủ nâng cao dân trí, xã hội hiện đại cần đến
một loạt các thiết chế xã hội để đảm bảo sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn
giữa con người trên căn bản tôn trọng cá nhân. Xã hội hiện đại còn là
một sự hài hòa giữa lao động và sử dụng hợp lý thời gian nhàn rỗi, đặc
biệt là khi có sự tăng trưởng kinh tế.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chúng ta đứng trước hiện tượng là Thái Bình là một trong những tỉnh khá
nhất của nông thôn Bắc Bộ, kinh tế có lên tuy chưa nhiều so với tiêu
chuẩn hiện đại nhưng là rất cao so với những ngày trước năm 1945. Học
vấn cũng vậy. Ấy thế mà việc tạo ra những điều kiện để sử dụng thời
gian nhàn rỗi là gần như con số không. Thanh niên sau khi được học hành
đã không thể tìm được một cách giải trí tích cực nào ngoài việc giải
trí thụ động là xem tivi. Trong khi đó tuổi kết hôn lại được nâng cao
đến thừa sinh lực. Thanh niên cũng không có chỗ để thực thi trình độ
hiểu biết của mình do phải tuân thủ truyền thống "trọng xỉ", dù cho đã
có văn hóa, nhưng xem ra vẫn còn "trẻ quá" để thay thế các bậc cha chú
do vậy họ cũng chưa có chỗ để sử dụng. Trong các đám đập phá ở nông
thôn Thái Bình người ta quan sát thấy chủ yếu là thanh niên, với những
mô hình hiệp khách du nhập một cách bập bõm qua các phương tiện thông
tin đại chúng cũng là điều để chúng ta suy nghĩ kỹ hơn về nguyên nhân.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðối với các nhóm tuổi khác, đặc biệt là phụ nữ, tình hình còn bi kịch
hơn. Ruộng đất còn ít, nghề phụ không có, người ta không biết sử dụng
lao động của mình làm gì. Những truyền thống và tập tục văn hóa ngày
xưa thì phần lớn đã bị tiêu vùi trong những năm tháng trước đây. Việc
phá đình chùa cuối cùng ở Thái Bình là vào những năm đầu thập kỷ 80.
Một sự trống trải trên bình diện văn hóa tinh thần, cái dù sao đi chăng
nữa cũng đào tạo cho con người ta một nhân cách, dù là nhân cách cam
chịu, sự trống trải đó sẽ dẫn tới những hệ lụy mà không phải lúc nào
người lãnh đạo cũng cảm nhận được. Và không có cái gì dễ thay thế nó.
Văn hóa mới, hướng nhiều về vật chất, lại cao hơn mức mà kinh tế nông
thôn Thái Bình cho phép.</p>
<p style="text-align: justify;">
Những tổ chức, thể chế xã hội được xây dựng nên trong những năm tháng
đã qua. Ðoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Phụ lão, v.v. dần dần rơi vào
trạng thái phần nào hữu danh vô thực. Những tổ chức này có một thời đã
đóng một vai trò rất tích cực nhưng giờ đây hình như không còn sức hấp
dẫn người dân nữa. Tất cả những thiết chế xã hội này đều vẫn đang hoạt
động, nhưng có vẻ như nó đã không đáp ứng được mục tiêu : tạo một sự
đồng cảm xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong khi đó, những loại hình tổ chức khác bắt đầu được lập ra : các
hội từ thiện, các tổ chức phi chính phủ, v.v. lại cũng chưa phát huy
được tác dụng bao nhiêu. Người ta dường như cũng cảm nhận rằng những
loại hình thức tổ chức đó cũng chẳng đáp ứng được gì cho nhu cầu tinh
thần và giao tiếp xã hội của người dân vì vẫn là những con người cũ làm
những việc đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
Do vậy, một mặt người dân tiêu chỗ tiền phụ trội ít ỏi có được của họ
vào ma chay, cưới xin và những cái hủ tục khác nữa như uống rượu hoặc
đánh số đề. Và mặt khác, tâm linh họ lại hướng mạnh về tôn giáo tín
ngưỡng. Có thể thấy ở nông thôn tất cả các bà, các chị từ 30 tuổi trở
lên đều chăm chỉ tham gia lễ chùa hoặc đi nhà thờ đều đặn.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nên chỉ riêng quan sát ngôi chùa ở nông thôn thì có thể thấy thiết chế
này trong bối cảnh hiện nay là trở nên rất hữu ích cho người dân nông
thôn : thỏa mãn phần nào nhu cầu văn hóa tinh thần, rèn luyện tình
người cho con người. Hơn thế, nó còn là nơi cưu mang cho những cuộc đời
bất trắc, cái mà ở thời nào cũng có. Ðặc biệt là với một nông thôn mà
không có gia đình nào không có người phải nằm xuống trong cuộc chiến
tranh. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các sư giữ chùa làng là những
người phụ nữ có số phận dở dang, trong số đó có nhiều người trở về sau
những năm tháng chiến đấu trong trong hàng ngũ thanh niên xung phong,
chống Mỹ cứu nước.</p>
<p style="text-align: justify;">
Và nhà thờ Thiên chúa giáo cũng đang hoạt động tích cực như một lực
lượng cứu rỗi linh hồn. Họ có đủ đức tin và nguồn tài chính để đi vào
trong quần chúng. Ðiều này thật đáng phải suy nghĩ.</p>
<br>
<br>
<h2 style="font-style: italic;"><strong><big>Kết
luận</big></strong></h2>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Sự kiện Thái Bình, nếu với cái nhìn tỉnh táo, sẽ là một cơ hội để chúng
ta có thể nhìn rõ thực trạng chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của
nông thôn nước ta, do vậy mà có những chủ trương đúng sách lược đúng,
đưa nông nghiệp và nông thôn đi vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện
đại hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Khi cái nhọt đã bục vỡ, nếu biết cách xử lý, nỗi đau sẽ giảm nhẹ đi rất
nhiều và phần cơ thể nhiễm khuẩn sẽ lành mạnh trở lại. Ðiều ấy là dễ
hiểu song không dễ chấp nhận, không dễ có một thái độ dám nhìn thẳng
vào sự thật, nói đúng sự thật với một sự dũng cảm mổ xẻ, phân tích để
tìm ra đúng nguyên nhân. Nếu không tìm ra đúng nguyên nhân của sự kiện,
chỉ dừng lại trên bề mặt của hiện tượng, đối phó bị động và tạm thời
bằng những giải pháp chắp vá, thì nhất thời có thể tạm yên được sự bùng
nổ, nhưng cái đẩy tới sự bùng nổ thì vẫn còn nguyên, thậm chí còn nung
nấu them, đây là một logic tất yếu mà mọi sự bưng bít, che đậy hay
xuyên tạc sẽ gánh chịu những hệ lụy khó lường.</p>
<p style="text-align: justify;">
Hơn nữa, sự kiện Thái Bình không là ngẫu nhiên và duy nhất. Cái đáng
ngạc nhiên – nếu có ai đó có sự ngạc nhiên – thì tại sao lại xảy ra
đúng ở Thái Bình, lá cờ đầu của sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới, cái xót xa là ở những điểm nóng nơi dân đòi hạ bệ hoặc bắt
dẫn lên huyện cán bộ Ðảng và Chính quyền xã mà không gặp sự phản kháng
nào của Ðảng viên, mà những nơi ấy lại vừa được tuyên dương là đảng bộ
vững mạnh! Sự kiện Thái Bình có những nguyên cớ ngẫu nhiên, đặc thù,
song vấn đề nông dân trỗi dậy đòi quyền lợi về kinh tế, về chính trị,
về xã hội thì không còn là cá biệt và ngẫu nhiên chỉ xảy ra ở Thái
Bình. Do đó, giải quyết đúng sự kiện Thái Bình cũng chính là giải quyết
đúng vấn đề nông thôn, nông nghiệp, nông dân hiện nay. Trên cơ sở khảo
sát nhanh sự kiện Thái Bình, từ sự tiếp cận xã hội học, chúng tôi hình
dung các kịch bản có thể diễn ra như sau:</p>
<br>
<h3>1. Kịch bản thứ nhất :</h3>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Bị động đối phó bằng cách, một mặt giảm bớt các khoản phải đóng góp của
dân, mặt khác trấn áp những đối tượng được nhận định là người cầm đầu,
người kích động dân, người có hành vi hung đồ phạm pháp. Tiếp đó dần
dần xem xét và kỷ luật hoặc loại bỏ một số cán bộ tham nhũng mất lòng
dân, xem xét lại một số văn bản, quyết định từ cấp xã, cấp huyện, cấp
tỉnh để có sửa đổi hợp lý, hợp lòng dân, kiện toàn lại bộ máy Đảng và
Chính quyền ở cấp xã, loại bỏ những người tham nhũng quá đáng, quá mất
phẩm chất, không có khả năng quản lý, bổ sung những cán bộ tốt, có phẩm
chất, có năng lực, được dân tin.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ðộng viên sức dân, đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp,
cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nông dân.</p>
<br>
<h3>2. Kịch bản thứ hai :</h3>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Trung ương và tỉnh cử người về tại những điểm nóng, họp toàn thể nhân
dân, công khai tiếp nhận kiến nghị, trực tiếp trả lời cho dân một số
vấn đề có thể trả lời được ngay, ghi nhận những điểm cần tiếp tục xem
xét để trả lời dân sau đó. Ở những nơi khác, cũng có thể làm tương tự
với đại diện của tỉnh, huyện và một số ngành chức năng. Cách chức những
cán bộ Ðảng và Chính quyền đã có bằng chứng là tham nhũng nặng, mất hết
uy tín trong dân ; công khai tự phê bình những sai lầm về chủ trương,
giải pháp không đúng với đường lối chính sách của Ðảng và nhà nước, làm
thiệt hại đến lợi ích của dân. Cùng với việc đó, xử lý trong pháp luật
những phần tử manh động và kích động quần chúng gây thiệt hại về vật
chất và tinh thần cho cán bộ và cho dân, cho tài sản công cộng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Kiện toàn bộ máy quản lý cấp xã, Đảng và Chính quyền bổ sung những cán
bộ có phẩm chất được dân tín nhiệm. Sửa đổi và hoàn thiện cơ chế mới
phát huy được sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh
tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân,
từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn.</p>
<br>
<h3>3. Kịch bản thứ ba</h3>
<br>
<p style="text-align: justify;">
Công khai phê bình và tự phê bình về những sai lầm của cán bộ lãnh đạo
xã, huyện và tỉnh trong việc ban hành và áp đặt những chủ trương, giải
pháp không phù hợp với đường lối Ðổi mới của Ðảng, làm mất lòng dân,
gây phẫn nộ trong quần chúng. Xử lý thích đáng những cán bộ Ðảng và Nhà
nước ở các cấp xã, huyện, tỉnh mắc sai lầm nghiêm trọng đã được dân chỉ
ra, những người chịu trách nhiệm về việc ban hành những văn bản, chỉ
thị sai lầm, gây thiệt hại cho dân, làm mất uy tín của Ðảng và Nhà
nước. Song song với công việc trên, dựa vào pháp luật để xử lý thích
đáng những người lợi dụng phong trào quần chúng nhằm thực hiện những
mưu đồ cá nhân, vi phạm luật pháp, làm hại đến lợi ích vật chất và tinh
thần của cán bộ, nhân dân và tài sản công cộng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nhanh chóng xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải tạo cơ bản bộ máy hành
chính trên căn bản hoạt động theo chức năng, do vậy, phải bổ nhiệm
những cán bộ được đào tạo nghiệp vụ hành chính, có phẩm chất đạo đức và
được dân tin. Phân định rõ chức năng của cơ quan Ðảng và cơ quan hành
chính Nhà nước để có hệ thống kiểm tra, chỉ huy thông suốt đến cấp xã,
nơi trực tiếp với công sản hàng ngày của dân.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trên cơ sở ổn định xã hội mà mấu chốt là sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh
sản xuất, phát triển kinh tế và xã hội theo cơ chế thị trường của nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được vận dụng sáng tạo trên địa bàn
nông thôn. Tạo ra động lực phát triển bằng việc xử lý thỏa đáng mối
quan hệ lợi ích của người nông dân và nghĩa vụ xã hội, nghĩa vụ với đất
nước trên căn bản của nhận thức đúng về vai trò và lực lượng của người
nông dân trong giai đoạn lịch sử mới. Từ đó, có những sửa đổi lớn về
mặt chính sách trên hướng Ðổi mới và sáng tạo để thực sự phát huy sức
mạnh nội sinh, đưa nông nghiệp, nông thôn, nông dân vào công nghiệp hóa
và hiện đại hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ba kịch bản nói trên cũng chỉ là những dự báo căn cứ vào những gì đang
diễn ra. Ðương nhiên, điều mong muốn của người làm khoa học là muốn
được thấy kịch bản thứ hai được chuyển dần sang kịch bản thứ ba.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nông thôn và nông nghiệp của chúng ta từ sau Nghị quyết 10 vẫn đang
phát triển trên căn bản của kinh tế hộ gia đình nông dân. Ðể cho hộ
kinh tế gia đình chuyển dần từ hộ sản xuất tự cấp tự túc sang hộ kinh
tế sản xuất hàng hóa còn là những phấn đấu gian khổ với rất nhiều điều
kiện được tạo ra. Một trong những điều kiện tiên quyết nhất là phải có
những thể chế thích hợp với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước bằng các cơ
chế chính sách vĩ mô.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sự biến Thái Bình sẽ là một cái hích mạnh mẽ cho những quyết sách đúng
đắn để giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Mà nếu như
vậy thì trong cái rủi có cái may.</p>
<p style="text-align: justify;">
Một điều tưởng như đã chìm vào trong quá khứ : mọi chính quyền nhà nước
qua các biến thiên của lịch sử đều phải đối diện với nông dân, nông
thôn, nông nghiệp ở một nước mà hệ văn minh lúa nước ở vùng nhiệt đới
gió mùa chi phối toàn bộ đời sống. Từ tháng 8 năm 45, chúng ta cứ tưởng
là với công nông liên minh là nền tảng, nhà nước ta đã không phải lo sự
đụng độ và đối đầu với cái biển nông dân mênh mông và mãnh liệt ấy. Thế
mà giờ đây, hóa ra chính nhà nước công nông của ta cũng vẫn đang đứng
trước một thách đố mới của câu chuyện cũ. Chỉ có điều, lịch sử phát
triển theo đường xoáy trôn ốc. Vì vậy, lịch sử lại càng đòi hỏi bản
lĩnh của Ðảng và nhà nước mà sứ mệnh của mình là xây dựng lại đất nước
ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng văn minh đi lên chủ nghĩa xã hội phải giải quyết một cách
thỏa đáng và vững chắc vấn đề nông dân. Ðặc biệt là, khi chúng ta quyết
tâm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ta, một
nước mà 80% cư dân sống ở nông thôn, thì vấn đề công nghiệp hóa và hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn càng là vấn đề bức xúc. Không làm sáng
tỏ vấn đề này thì chưa thể định hướng được rõ đường lối công nghiệp hóa
và hiện đại hóa. Một lần nữa vấn đề nông dân lại được đặt ra !</p>
<p style="text-align: right; font-style: italic;">Ngày 8
tháng 8 năm
1997
</p>
<br>
<h3 style="text-align: right;"><big><span
 style="font-weight: bold;">Tương
Lai </span></big></h3>
<br>
<br>
<br>
<p style="text-align: justify;">(*) Theo kế hoạch kinh tế
năm 1992 của tỉnh - tháng 1.1992.</p>
<p style="text-align: justify;">
(**) Chỉ thị của chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ký ngày 11.6.97 "<span
 style="font-style: italic;">Về việc chấn chỉnh, thu, quản lý
và sử
dụng các loại quỹ, các khoản thu của xã, phường, thị trấn và hợp tác xã
nông nghiệp</span>".</p>
<p style="text-align: justify;">
(***) Nguyễn Từ Chi "<span style="font-style: italic;">Góp
phần nghiên
cứu văn hóa và tộc người</span>" - Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội,
1996,
trang 177.</p>
<br>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/cs6GSfjb2kE" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Tương Lai</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-02-01T22:15:59Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/bao-cao-ve-vu-noi-day-o-thai-binh</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/sang-tac/mien-hu-ao/soi-blog">
        <title>Sỏi blog - Lời đứa sinh viên bị xe đụng</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/Kw0-2kn218o/soi-blog</link>
        <description>Tiểu thuyết Miền Hư Ảo, chương 10</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<br>
<h1 style="font-weight: bold; text-align: center;"><big><big>Phần
1 –
Miền hư ảo</big></big></h1>
<br>
<h3 style="text-align: center;"><big><big><big>Lưu
Thuỷ Hương</big></big></big></h3>
<br>
<h3><big><big>Chương 10</big></big></h3>
<br>
<h2><strong><big><big>Sỏi
blog - Lời đứa sinh viên bị xe đụng</big></big></strong></h2>
<br>
<br>
<p align="justify">Hãy
tiếp tục câu chuyện bằng một
chương ảm đạm và buồn tẻ
nhất của Sỏi.</p>
<p align="justify">Hãy
mở cánh cửa sổ căn phòng bạn
ra để hơi nóng mùa khô đồi
Thủ Đức tràn vào.</p>
<p align="justify">Nắng
đổ trao trảo ngoài cơi, nắng tướt
lên hiên nhà, nắng đọng trên
ngạch cửa, nắng đốt da người
khô ran ran. Những hàng cây mệt phờ
rũ áo, cỏ triền đồi cháy
trắng hoang ma. Trời Thủ Đức đang
lên cơn sốt giữa mùa hạn.</p>
<p align="justify">Đã
có bao giờ bạn đến Đông Hà
vào một buổi trưa nắng hạ? Cảm
giác đó cũng sẽ giống như
lúc này đây, thời gian ngừng
đọng không trôi đi làm người
ta tưởng như lạc vô cõi chết.
Từng đàn quạ bay qua sông Cam Lộ,
mùa gió Lào đốt bóng liêu
xiêu trên dòng nước cạn. Quạ
trắng trong bụi trắng áo não gọi
bên cầu Đuồi, đưa hồn sang
sông. Sang sông. Sang sông. Quạ quạ.
Quạ quạ.</p>
<p align="justify">Tôi
đi ngược dòng sông cạn nước,
đi ngược qua cây cầu trắng bóng
quạ, tìm về đây để bắt
đầu câu chuyện của mình, trong
chính thư phòng này, vào một
buổi trưa chuyển mùa hầm hập sốt.
Giang nói, mỗi người tự tìm cho
mình một thời khắc để quay về.
Tôi trở về từ cánh đồng mùa
gió Lào bốc cháy, đem theo hơi
nóng hừng hực lửa của miền Trung
thổi lên ngọn đồi Thủ Đức.</p>
<p align="justify">Nông
Lâm. Nông Lâm trong trái tim tôi. Nóng
rực lửa hè.</p>
<p align="justify">Tôi
bồi hồi dựng cây cuốc mòn vẹt
vô góc cửa, nước mắt bỗng
dưng muốn trào ra. Mở cánh cửa
cũ kỹ này, bước vô căn phòng
kia, tôi sẽ thấy nàng ngồi đó,
một mình giữa đám cỏ dại
và đống sách cũ bề bộn.
Nàng sẽ ngước mắt lên nhìn
tôi ngỡ ngàng, mình chờ bạn từ
lâu lắm rồi, không ngờ ta vẫn còn
gặp lại nhau. Vẫn còn gặp lại
nhau, âm hưởng đó vang lên không
chút vui mừng mà chỉ là xót
xa. Những người khác biến mất đi
đâu, họ chưa kịp đến hay sẽ
không về cùng? Tôi nhìn vô tấm
gương hoen ố trên tường chỉ
tìm lại được ba chiếc bóng.
Một bà lao công không già không
trẻ, nửa tỉnh nửa điên. Một
gã ghẻ lở đầu đặc bụng
rỗng. Và, một con mọt sách…
què chân (xin lỗi Bắc).</p>
<p align="justify">Tôi
ngập ngừng đưa tay vuốt mái tóc
còn cháy khét.</p>
<p align="justify">Hơi
nóng trong thư quán nung khê mùi sách
cũ.</p>
<p align="justify">Bắc
đang tìm cách phân loại mớ cỏ
dại hái trên đồi. Bắc hỏi
nhỏ điều gì, nhỏ như tiếng
thở, mong manh như tiếng cỏ đong đưa.
Tôi đến ngồi bên Bắc để
nghe nàng nói, chợt đau nhói trong
lòng, vậy mà cứ ngỡ mình đã
không còn biết đau. Cứ ngỡ, mình
sẽ không bao giờ còn gặp lại
nàng.</p>
<p align="justify">"Sỏi
có bao giờ nhìn thấy những cái
nốt rễ to tướng, sưng vù như
vầy chưa? Bên trong toàn chứa chất
dịch đỏ như máu. Phải chi bên
phòng vi sinh cho phép sinh viên được
tự do vô sử dụng kính hiển vi.
Bắc muốn tìm hiểu thêm về loài
vi khuẩn cố định đạm trong những
cái đốt rễ này…"</p>
<p align="justify">Ơ,
sao Bắc lại nói tới cỏ, tới vi
khuẩn, tới kính hiển vi. Được
rồi, vậy thì mình bắt đầu
câu chuyện từ mấy cái kính hiển
vi. </p>
<p align="justify">Tụi
tôi không ai biết rõ bên phòng
vi sinh trước năm 1975 có bao nhiêu cái
kính hiển vi. Sau khi cán bộ miền Bắc
vô tiếp quản, tài sản trường
cứ hao hụt dần đi, những gì lấy
đi được thì người ta tìm
cách lấy đi cả. Hiện nay trong phòng
thực tập chỉ còn trên mười
cái kính hiển vi cũ mốc. Suốt
năm năm đại học, sinh viên được
sờ mó, ghé mắt nhìn vô kính
hai lần, nhưng thường cũng phải chen
lấn nhau đến gần bẹp ruột. Cảm
giác đó thật là tuyệt vời.
Bạn cười chi hè? Không, không
phải cảm giác bẹp ruột mô. Tôi
nói tới cảm giác lần đầu
được nhìn vô kính hiển vi,
một thế giới kỳ lạ đầy màu
sắc bỗng mở ra trước mắt mình.
Tuyệt vời lắm. Nhưng cũng ngắn ngủi
lắm.</p>
<p align="justify">Sau
này tôi trở lại Thủ Đức, có
ghé viện nghiên cứu thăm Giang mấy
lần. Phòng thí nghiệm tân tiến
nhất miền Nam của hắn trang bị một
trăm cái kính hiển vi đời mới
nhập từ Tây Âu. Mấy cô nhân
viên xì xầm, giám đốc Giang chỉ
sử dụng kính soi mấy cọng mì
sợi, trưa nào cũng ghé qua phòng
thí nghiệm soi tới soi lui cọng mì.
Tôi đứng ngay sau lưng Giang, ứa nước
mắt gọi. "Giang, Giang…" gọi hoài
mà hắn không nghe. Âm dương cách
trở, phải không Giang?</p>
<p align="justify">Nóng
chi mà nóng, hơi nóng đốt ngột
cả thư phòng, nung lưng, nung gáy. Bà
lao công ngồi trả treo trên chiếc ghế
bố. Đầu bà thả vắt trên
thành ghế. Cái chổi đang tuột từ
từ ra khỏi bàn tay thon thả. Tôi
nhướng mắt nhìn nó, chờ hoài
chờ mãi… chờ một tiếng động
giải thoát tôi khỏi cơn buồn ngủ
triền miên. Cuối cùng cây chổi
mới chịu rớt "bộp" trên sàn
nhà. Tiếng động khô khốc làm
mớ tóc bù xù cháy nắng hơi
đong đưa rồi lại im lìm. Khoan đã…
Sỏi… Ở đây có một cái
gì đó không bình thường.
Hình như là… bàn tay thon thả
của bà điên. Một người đàn
bà vừa già vừa xấu lại có
bàn tay thon thả trắng trẻo. Nhưng bàn
tay đã biến mất đi đâu, chỉ
có cây chổi phủ bụi, ai để
nằm từ bao giờ trên sàn. Mọi
chuyện ở đây đều phi lý…
có lẽ vậy. Tôi há miệng ngáp
một tiếng dài mệt mỏi. Tiếng
ngáp oặt ẹo bay đi đụng vô
vách tường gỗ, dội thành một
tiếng "hời…" dài thườn
thượt. </p>
<p align="justify">Bắc
mỉm cười, không rõ nàng cười
chuyện gì, nhưng sao ngượng ngùng
chi lạ. Tôi cúi đầu xuống, tự
hứa sẽ không ngáp nữa. Những
hàng chữ trong giáo trình phân loại
thực vật lại đan dính vô nhau,
mắt tôi cứ ríu lại. Bạn nỏ
biết mô, bạn chẳng biết đâu.</p>
<p align="justify">Một
người vừa qua giấc ngủ chết chóc
dài lê thê rất lòng khó tỉnh
táo trở lại.</p>
<p align="justify">Bắc
cắm cúi soi chiếc kính lúp lên
những đóa hoa. Giọng Bắc dài ra
độc thoại, chìm đuối tận
phương mô. Tôi biết là Bắc
đang đi sai đường, nhưng cứ mặc
kệ, lúc này sai đúng chẳng có
nghĩa chi. Răng mà Bắc cứ bám vô
mấy cái rễ nớ? Cây ni có phải
họ đậu mô. Răng cứ buồn ngủ
dữ hè? Khoảnh khắc thức ngủ cứ
nhập nhằng níu kéo nhau. Tôi cố
nén không ngáp thêm lần nữa.
Ngồi thư viện mà ngáp hoài rõ
ràng là không tế nhị rồi. Tiếng
ngáy ngừ ngừ của bà lao công
vang lên trong góc phòng vắng. Bà
điên ni dễ ngủ chưa tề. Trưa
nóng hừng hực như ri, e mệt nhoài
thiếp đi trong chốc lát, răng mà
ngủ say tới ngáy ngừ ngừ như rứa.</p>
<p align="justify">Bắc…
Bắc lại tiếp tục lảm nhảm một
mình. Cái tên "Sỏi" thỉnh
thoảng được Bắc thân thiện
nhắc tới thật ra là một vật đối
thoại vô hình. Đừng có mừng
hụt. Bắc chỉ quan tâm đến đám
cây dại. Và thằng Sỏi chỉ quan
tâm đến chuyện làm sao gật đầu
theo Bắc mà không ngáy. Từ bao giờ
Bắc quan tâm tới môn phân loại
thực vật này, thật lạ, Bắc không
phải là loại con gái siêng học
đến nỗi hẹn tôi lên thư viện
giữa một buổi trưa nắng chang chang. Lần
đầu được Bắc hẹn đi học
chung, tôi mừng tới ngẩn ngơ, đó
là một sự kiện lớn nhất trong
cuộc đời ngắn ngủi của tôi.
Vậy mà… lên đây chỉ để
ngồi ngáp. Bắc chồm qua đập cuốn
sách lên vai tôi, chắc là hỏi
nhiều lần mà tôi không nghe nên
Bắc mới động thủ thô bạo như
rứa.</p>
<p align="justify">"Sỏi
không nghe Bắc nói gì sao? Nhờ Sỏi
giúp cho chuyện này. Bắc đã dò
suốt trong họ đậu, cả hai họ
<i>Caesalpiniaceae</i>
và họ <i>Mimosaceae</i>,
không có loài thực vật nào
tương tự. "</p>
<p align="justify">Tôi
cười gượng gạo.</p>
<p align="justify">"Làm
chi có vi khuẩn trong mấy cái đốt
rễ đó mà Bắc tìm. Mình
đoán, đó chỉ là một trạng
thái biến chứng của bộ rễ để
sống được trong điều kiện đất
xám đồi Thủ Đức. Hôm trước
ra tiệm sách cũ ngoài Thủ Đức,
tình cờ mình có thấy loài hoa
này trong một cuốn sách phân loại
thực vật. Đây là họ <i>Papaveraceae,
</i>một
loại anh túc có chứa chất morphin."</p>
<p align="justify">Bắc
giật mình, bó hoa trong tay Bắc run run. Bà
lao công ngồi phía sau cũng hơi trở
mình chồm dậy. Không… không…
chắc tôi lầm, có gì quan trọng
đâu mà thiên hạ giật mình.
Bắc hỏi.</p>
<p align="justify">"Họ
Papaveraceae, chứa chất morphin? Thật vậy
sao?" </p>
<p align="justify">"Thật
mà. Thằng Rồi hay sang chơi bên trại
nuôi đỉa cũng có kể lại. Tụi
công nhân bên đó trồng cây
này cho đỉa ăn, để tụi đỉa
bớt quậy phá. Tụi nó gọi là<i>
cỏ huyết mỹ nhân,</i>
nghe nói giống hoa này do chủ trại
đỉa đưa từ Afghanistan về rải
khắp đồi Thủ Đức…"</p>
<p align="justify">Bắc
chăm chú nhìn tôi, hỏi dồn.</p>
<p align="justify">"Cuốn
sách đó còn ngoài tiệm không?
Tiệm nằm chỗ nào?"</p>
<p align="justify">"Ơ…
làm sao Sỏi biết được. Nhưng
chắc là còn. Ai mà thèm mua mấy
loại sách đó. Tiệm nằm ngay dốc
nhà thờ."</p>
<p align="justify">"Chiều
nay Sỏi dẫn Bắc ra tiệm sách nghen."</p>
<p align="justify">Tôi
ngần ngừ gật đầu, vì không
biết làm cách nào đưa Bắc
ra thị trấn. Thường tôi chỉ lang
thang cuốc bộ ra đó, ngồi đọc
sách tới khi tiệm đóng cửa thì
lại cuốc bộ về. Bắc đau chân
chắc không đi bộ được rồi.
Hình như Bắc cũng nghĩ vậy nên
nói khéo.</p>
<p align="justify">"Thôi
để dịp khác. Mà Sỏi có
chắc hoa này thuộc họ anh túc không?"</p>
<p align="justify">Lại
hỏi nữa. Tôi lơ mơ trả lời
một câu gì đó rồi chìm vô
cơn buồn ngủ thật khủng khiếp.
Chắc hay không chắc cái gì. Cứ
ăn thử rồi biết. Một vùng cháy
đỏ hiện ra trong mắt. Thứ cỏ hoang
đó như ma như quỷ, đói khát
bò đi tràn lan trên triền đồi.
Hồi ban đầu chỉ có vài chòm
lẻ tẻ, mọc khép nép dưới
chân đồi, qua một mùa mưa lan tràn
khắp nơi. Buổi chiều công nhân
trại đỉa sang đồi cắt từng
bao tải mang về nuôi đỉa. </p>
<p align="justify"><i>"Huyết
mỹ nhân"</i>. Một ngày nắng vàng, cỏ bùng
nở hoa, nhuộm cháy đỏ cả triền
đồi, rực rỡ lạ lùng. Những
đóa hoa nhỏ thanh mảnh vươn lên
lắc lư trong gió. Mùi hăng ngầy
ngật lơ lửng lan man, không bám vô
đâu, không đọng vô đâu.
Đêm đêm len lỏi vô những căn
phòng ngủ chật hẹp u ám. Tụi
tôi là những đứa đầu tiên
hớn hở tóm đám lá non mịn
cho vô nồi. Đám sinh viên đói
khát kinh niên, chỉ muốn nhét hết
mọi thứ vô dạ dày. Cái gì
đỉa ăn được thì sinh viên
cũng ăn được, ăn để mà
sống, sống để mà học cho hết
"Tư bản luận", để mà
phát triển tư duy chống lại hệ
thống tư bản, để chứng minh rằng
chế độ bất công này về sau
sẽ bị đào thải triệt tiêu.
Một điều không tránh khỏi. Một
điều gì đây? Tôi đang ở
đâu đây? Đang nói cái chi
đây? Phải rồi… đói, đói
khát kinh niên, đói khát triền
miên. Tụi vô sản đói rách,
cùng khổ, bần hàn. Những túm
lá mềm mại, đám trái xanh non
vừa bứt khỏi cành tươm sữa
trắng. Tôi với Giang nuốt miếng rau
luộc rồi ói ngược ra, hăng không
chịu nổi. Rồi lại cố nuốt, rồi
lại bò ra ói, cả đêm ngủ
say vật vờ.</p>
<p align="justify">Đầu
óc tôi xanh rớt món rau huyết mỹ
nhân. Trong thăm thẳm mịt mùng sương
đêm, tôi tỉnh giấc, bàng hoàng.
Cư xá cúp điện tối đen đúa.
Ánh trăng non nhợt nhạt soi qua tàn lá
liễu. Giang ở giường bên cạnh cũng
vừa lồm cồm bò dậy. Mắt nó
long lanh dại khờ trong bóng trăng. Những
thằng khác cũng lồm cồm bò dậy,
lơ ngơ đờ đẫn. Tôi đổ
vật xuống, đêm lại chìm trong
giấc mơ hồng lâu hoang hoải. Đầu
óc tôi mê loạn. Sinh viên là
những thằng bệnh hoạn, càng đói
càng mê loạn.</p>
<p align="justify">Thằng
Rồi đi chơi gái suốt đêm, gần
sáng mới mò về gõ cửa. Cả
phòng nằm im re, không nghe tiếng nó
đập cửa cộc cằn. Anh Bốn bò
dậy mở cửa sổ cho nó leo vô, rồi
đêm sau anh Bốn cũng đi. Họ đi
thâu đêm, ban ngày nằm vật ra
ngủ. Căn phòng tối tăm ảm đạm
thoảng thoảng mùi đàn bà mà
họ mang về. Những cơn mơ lại đờ
đẫn xanh xao.</p>
<p align="justify">Đêm
khoác áo thiêu thân, rã rời ảo
ảnh.</p>
<p align="justify">Có
lẽ… mọi người đều ghét
nói về cái đói, mọi người
coi khinh nó. Chỉ có những thằng hèn
mạt như tôi mới luôn nghĩ tới
cái đói. Đành vậy. Tôi đói
lắm. Suốt cả cuộc đời mình
chưa hề biết bữa ăn no, cả đến
khi nhắm mắt xuôi tay cũng vậy. Cái
đói vẫn dai dẳng bám theo về tận
thế giới bên kia. Chết trong khi bụng
rỗng, chết trong khi đầu óc đặc
cứng, chết mà chưa kịp thấy hệ
thống tư bản bất công bị tiêu
diệt ra sao. Ôi, ước mơ của thằng
vô sản khốn cùng, đói rách
và… ghẻ lở. Thằng người bị
nhồi sọ chết bao nhiêu lâu thì
những thứ cứng đọng trong đầu
mới tan rã?</p>
<p align="justify">Hai
bàn tay co quắp giấu trong túi quần
ngứa ngáy kinh khủng. Hơi nóng ủ
trong lớp vải quần đang cắn xé
những nốt mụn lở. Ráng chút đi.
Ráng không nghĩ đến bàn tay mình,
ráng quên cơn đói và ráng
đừng ngáp. Giáo trình phân loại
thực vật trôi tuột đi dần, những
hàng chữ biến mất. </p>
<p align="justify">Không…
đừng lạc đề. Tôi về đây
không phải để than trách gì đâu.
Tôi về đây chỉ để gặp
lại Bắc. Nhưng sao đầu óc mình
đặc cứng như vầy. </p>
<p align="justify">Bắc
duỗi cái chân bó bột thẳng đơ
ra phía trước. Tiếng cọt kẹt từ
khung ghế dựa làm tôi giật mình,
suýt nữa thì đập trán xuống
bàn. Tôi rút bàn tay ra khỏi túi
quần vội vàng dụi mắt. Bắc có
đôi chân dài trường túc.
Bắc và cái chân trắng cứng đờ
nhảy lóc cóc trên con đường
trải đá băng qua những quán cà
phê. Bắc là cơn ác mộng của
lũ sinh viên. Bắc là hình ảnh
của cái chết. Bắc là sự thật
về mối hiểm họa chờ chực sẵn
ở đầu cổng trường. Bắc, Bắc.
Lẽ nào…</p>
<p align="justify">Tôi
nhéo bắp đùi mình hai cái. </p>
<p align="justify">Bạn
sốt ruột lắm phải không? Bạn đang
chửi tôi lạc đề phải không?
Được rồi, để tôi ráng
tập trung kể, để tôi dẫn bạn
đi. Chuyện như vầy… Nhưng mà,
nếu bạn chán thì cứ tắt máy
đi ngủ, entry này có hay không cũng
chẳng quan trọng gì. Tôi kể ra để
cho thiên hạ buồn ngủ chơi, tôi kể
ra để thử sức chịu đựng của
người khác. Cho vui thôi mà. Đời
mình có mấy khi vui.</p>
<p align="justify">Đồi
Nông Lâm có đoạn đường
dốc đổ thẳng xuống xa lộ Đại
Hàn, đoạn đường giao thông
huyết mạch của thành phố, xe cộ
đông nghịt ào ào kéo qua. Khủng
khiếp nhất, ám ảnh nhất là
những cái xe tải chở gỗ, chở đá
từ công trường chạy ngang mà sinh
viên gọi là những chuyến xe hung thần.
Rừng điều, cây dại bên đường
mọc lan tràn che lấp mất tầm nhìn.
Hai con dốc cùng đổ vô một điểm
chết, ở một góc bốn mươi lăm
độ, dày đặc tàn cây và
bụi rậm. Sinh viên gọi đó là
ngã ba Tan Thương. Sinh viên miền Trung
như tụi tôi đọc "Tang" hay
"Tan" đều giống như nhau. Tôi
viết Tan theo nghĩa là tan nát, tan tành,
tan vỡ và ly tan. Nếu ai viết Tang theo
nghĩa tang tóc, tang ma thì cũng được
thôi. Tụi đâm đầu xuống dốc
Tan Thương tang tóc chết tan nát thường
là đám sinh viên năm thứ nhất.
Một cô bé ở An Giang, vừa làm
đám tiệc linh đình ở quê ăn
mừng trúng tuyển vô đại học,
vừa bịn rịn chia tay bạn bè lên
thành phố. Đúng một tuần sau, xe
đòn đưa xác cô về lại
trước cổng nhà. Bạn bè không
ai dám tới nhìn mặt, lần không
ai dám quàng vai kề má, chụp hình
chia tay. Cô nằm một mình trong hòm
dị dạng, tan nát, lẻ loi. Nỗi cô
đơn tật nguyền đó kinh khủng
lắm, thật đó, tôi biết rõ
mà. </p>
<p align="justify">Ngay
ngã ba có ngôi miếu cô hồn của
dân chúng lập bên lề đường.
Ngôi miếu đổ nát nằm im lìm
trong đám cỏ dại. Đó là
nơi cư ngụ năm này qua tháng nọ
của đám cô hồn sinh viên bất
cẩn, bất hạnh rồi bất thành nhân
dạng. Ban đêm về hiu quạnh não
nùng lắm. Những đứa đầu bò
lì lợm có tiếng, đi ngang qua miếu
mà cũng phải cúi đầu rảo
bước. Bãi đất hoang sau lưng lại
trống trải thê lương dưới bóng
trăng. Ban ngày nơi này là vũng
cày tập sự của sinh viên Cơ Khí
năm thứ ba. Máy kéo Valmet một trăm
mã lực, cày chảo tám tấm, dàn
phay đất sáu lưỡi… hốt bụi
thả bay mù trời. Hai năm trước
đây khoa Cơ Khí có đại tang.
Ba thằng sinh viên năm thứ nhất đổ
dốc trượt vô gầm xe chở đá,
ba thằng từ giã đời sinh viên
ngay cổng trường. Những đứa còn
sống ôm nhau khóc thảm thương tiễn
đưa linh cữu bạn về quê. Tôi
đi theo sau xe đòn, đưa họ tới
tận chân dốc. Không hề biết rằng,
bước thêm một bước nữa, rồi
tôi cũng lên xe về miền hư ảo.
</p>
<p align="justify">Một
đêm, thằng sinh viên thần kinh nào
đi nhậu về khuya, té bờ té bụi
mần răng mà phát hiện ra tấm
bảng báo nguy. Tấm bảng rỉ sét
treo im lìm trong bụi, từ cái thuở
nào không ai hay. Hàng chữ lở tróc.
<i>"Cẩn…
hận. Đoạn đươn… dốc ễ
gây tai nạ..."</i> Có lẽ, thằng say nổi máu điên.
Hắn gỡ luôn tấm bảng mang về gắn
lên bức tường trước cổng cư
xá B. Phía trên tấm bảng lại
treo thêm xác một con quạ đen. Không
biết nó tìm ở đâu ra con quạ
to lớn dị thường bị xe tải cán
bẹp lép. Lông nó xám ngoét
dính tơi tả trên tấm thân nhầy
nhụa. Cái mỏ vằn vện mở ngoang
ngoác, từ đó thoát ra tiếng kêu
đau đớn cuối cùng. Quạ…….
ạ……. Con mắt bên trên vàng
khè trợn trừng, lòi ra kinh hoàng.
Thằng nghệ nhân treo quạ còn viết
thêm bên dưới tấm bảng hàng
chữ nguệch ngoạc bằng than đen. <i>"Con
quạ này chết vì mù chữ."</i> </p>
<p align="justify">Bảy
trăm đứa sinh viên sống trong cư xá
B, buổi sáng đi học ngang qua xác con
quạ đều ngoác miệng cười hô
hố. Lại nữa, có đứa lượm
than bếp, viết thêm vô bên dưới
cái xác con quạ mấy câu đùa
tục tĩu. Sinh viên là những thằng
thích đùa, càng đói càng
đùa dai. Tôi đứng nhìn con quạ,
buột miệng hỏi, cái chết ra sao. Đó
là điềm gở, con quạ cũng là
điềm gở. Mọi sự cảm thông
đều có thể kéo mình vô
bất trắc. Tôi không hề biết, khi
ấy, cái chết đã kề cận bên
mình.</p>
<p align="justify">Đàn
quạ trắng kéo mây qua Cam Lộ.<br>
Về
vô biên.<br>
Sống thác vô biên.</p>
<p align="justify">Hơi
nóng bám vô lưng, bám vô gáy.
Hơi nóng cào cấu hai lòng bàn
tay mưng mủ. Hàng ngàn con vật gian ác
đang nhe răng cắn xé giữa những kẽ
tay. Nỗi bế tắc cùng quẫn căng
dần lên. Đừng… Đừng mà.
Tôi cắn răng, quai hàm bạnh ra, mồ
hôi chảy dài theo kẽ nách. Không
nghĩ đến nó không được
sao. Tôi không biết nữa. Trời ơi,
tôi đầu hàng đây. Dưới
gầm bàn, hai bàn tay tôi vồ lấy
nhau, cà xát, xoắn xít. Những cái
mụn mủ bể toét ra. Bụp bụp…
những cái bong bóng căng đầy nước
độc, căng đầy tủi nhục. Cảm
giác sung sướng oà vỡ tràn
ngập. Ôi chao! Hoá ra cuộc đời
mình cũng có những lúc sung sướng
ngắn ngủi như ri.</p>
<p align="justify">Tôi
ngẩng lên nhìn Bắc cười khoan
khoái. Sướng quá.</p>
<p align="justify">Xác
con quạ nằm trên tường tới ngày
thứ hai thì bốc mùi hôi. Tấm
bảng bằng sắt nặng chịch tuột
xuống chân tường. Bảy trăm đứa
sinh viên, mỗi thằng một ngày ra vô
cư xá tối thiểu bốn lần. Chi vị,
hơn hai ngàn tám trăm lần. Mỗi
thằng nhăn mặt bịt mũi phun một bãi
nước miếng lên tấm bảng. Tính
ra, mỗi ngày hơn hai ngàn tám trăm
bãi nước miếng tấp vô chân
tường. Xác con quạ bắt đầu
ráo, lại càng đen đúa, lại
càng bốc mùi ghê rợn. Khoảng
chân tường bên dưới ướt
tươm tướp nước miếng sinh viên,
bắt đầu trổ rêu xanh. Thằng nghệ
nhân treo quạ tỉnh rượu từ khi mô,
hắn chẳng còn nghĩ đến việc
gỡ tác phẩm nghệ thuật của mình
xuống.</p>
<p align="justify">Giang
còn nhớ không hè? Phòng 5A của
tụi thằng Nhái Bầu nằm gần cổng
ra vô, cửa phòng lúc nào cũng
mở toang hoang, bỗng nhiên lại la ó
bảo, cần một khoảng không gian riêng
tư êm đềm. Thằng Nhái Bầu
trần trụi nằm trên giường, uể
oải lên giọng.</p>
<p align="justify">"Đứa
nào đi ngang đó? Khép dùm tao
cánh cửa phòng. Hôi thấy mẹ."
</p>
<p align="justify">Thằng
Pháo Lép quần sà lỏn hở mông,
vò cái đầu bờm xờm, đám
gàu bay tứ tán theo tiếng than thở. </p>
<p align="justify">"Hôi
như quạ. Ê, đứa mô đi ngang
khép dùm tụi tau cánh cửa?" </p>
<p align="justify">Mùi
hôi đâu có ngán mấy thằng
làm biếng, mùi hôi cứ thong thả
đi ra đi vô. Một bầy nằm ngáp
dài cất tiếng chửi loạn xạ. Chửi
cái thằng làm biếng nào đi
ngang không đóng dùm cánh cửa.
Chửi cái thằng cà chớn nào
mang đồ thối tha về treo trên tường.
Chửi con quạ mắt đui đâm đầu
vô xe tải, gây thêm bao tai hoạ. Mà
khoan… chửi luôn dùm mấy thằng
nào nghe chửi mà không lên tiếng
chửi lại.</p>
<p align="justify">Thung
nghe chửi rên rỉ.</p>
<p align="justify">"Để
tao đóng dùm tụi nó cánh cửa."</p>
<p align="justify">Giang
gõ cái muỗng ăn cơm lên đầu
Thung hai cái "cóc, cóc". </p>
<p align="justify">"Mi
đóng cửa rồi ai mở cửa dùm
tụi nó?"</p>
<p align="justify">Thung
đành lặng im, nằm thở dài nghe
hàng xóm lôi tới tên mình ra
chửi. Một đứa nào đó bên
phòng 5A lớn tiếng hỏi.</p>
<p align="justify">"Mười
một giờ chưa hè? Hôm ni tới phiên
thằng mô đi lãnh cơm trưa?" </p>
<p align="justify">Mấy
đứa khác thở phào, khoan khoái.</p>
<p align="justify">"Ừa,
đứa mô đi lãnh cơm? Đi ra nhớ
khép cửa luôn." </p>
<p align="justify">Sinh
viên phòng 5A và cả cư xá chịu
đựng trò đùa dai của con quạ
đến ngày thứ tám, không khí
hình như đã nguôi ngoai. Vậy đó,
biết kiên nhẫn biết chịu đựng,
chuyện gì rồi cũng êm. Đến
ngày thứ chín, cả trường náo
nức chuẩn bị đại hội đoàn
thanh niên cộng sản, toàn thể các
cư xá rầm rộ phát động
phong trào. </p>
<p align="justify"><i>"Thực
hiện nếp sống văn minh – Cư xá
sạch đẹp"</i>.
</p>
<p align="justify">Ban
quản lý cư xá B, khi đó, bỗng
dưng, phát hiện ra xác con quạ khô
đép trên tường. Xác nó
được gỡ xuống an táng ngoài
bãi rác. Những hàng chữ đen đúa
trên tường và vũng nước miếng
tập thể được chùi rửa sạch
sẽ. Mấy ông táo, bà táo làm
ổ lung tung ngoài hành lang cũng được
sinh viên mời về chầu trời. Khẩu
hiệu<i>
</i>được
cắt dán treo khắp nơi. </p>
<p align="justify"><i>"Văn
minh – Lịch sự
– Tế nhị"</i></p>
<p align="justify">Chiến
dịch rộn ràng lắm, như đám
cưới vậy. Phòng 5A được phân
công, đem treo tấm bảng báo nguy về
đúng vị trí cũ. Tụi ni sẵn
có tư thù với con quạ, nên căm
ghét nhét luôn tấm bảng rỉ sét
xuống gầm giường. Coi như trả thù
những ngày bị đày đọa? Bầu
không khí trật tự, nguyên tắc
lại được thiết lập. Hình ảnh
con quạ thích đùa mau lẹ dễ dãi
lùi vô dĩ vãng. </p>
<p align="justify">Đám
sinh viên mới vừa nhập học lại
vui vẻ phóng xe ào ào lao xuống dốc.
Thì vậy... thôi. Đám ma là để
có dịp khóc lóc đưa tiễn
nhau.</p>
<p align="justify">Những
mẩu chuyện về tai nạn dần dà hoá
thành chuyện tiếu
lâm. Thung mượn xe đạp anh Bốn
không được bèn nghĩ cách trả
thù. Nó hầm hầm qua cư xá nữ
xin trực ban cho gặp chị Mẫn. Vừa thấy
bóng chị Mẫn ở đầu cầu
thang, Thung vò tai bứt tóc khóc rống
lên.<i>
</i></p>
<p align="justify">"Chị
Mẫn ơi, anh Bốn bị xe tông chết dí
ngoài dốc Tan Thương. Xe tải cán
ngang... phần dưới bụng." </p>
<p align="justify">Chị
Mẫn hét lên hãi hùng, nhảy té
ba bậc tam cấp, rách môi khâu ba mũi.
Ba ngày không ăn. Ba ngày không nói.
Ba ngày không hôn. Anh Bốn giận quá
chửi luôn.<i>
</i></p>
<p align="justify">"Phải
cẩn thận chớ. Lần sau nghe tin anh bị
xe đụng, em cứ thủng thẳng mà
đi." </p>
<p align="justify">Anh
Bốn phóng xe ẩu hơn bất cứ đứa
sinh viên năm thứ nhất nào. Mỗi
chiều thứ sáu, anh cưỡi chiếc xe
đạp màu vàng đâm bạt mạng
ra hướng Bình Triệu để kịp
đón chuyến xe đò về quê.
Tôi sợ chết lắm, cả đời chưa
biết sung sướng là gì, nếu phải
chết ngang thì oan ức quá. Có nhắc
nhở anh Bốn thì anh lại cười khà
khà. </p>
<p align="justify">"
Bà già tao coi bói rồi. Mạng tao lớn
lắm, không xe nào đụng chết nổi."</p>
<p align="justify">Thầy
bói nói vậy mà không sai, anh Bốn
ra trường nhờ thân thế gia đình
chị Mẫn mà làm tới chức cán
bộ tỉnh, chỉ đi xe hơi. Buổi sáng
xe đưa đi họp, buổi chiều xe bí
mật chở đi chỗ khác. Đi đâu
anh Bốn hè? Cái thằng hay nhắc anh
cẩn thận lại không thọ. Ngày ra
chuẩn bị ra trường, xe tải đá
tông nó bẹp xác ngay dốc Tan Thương.
Bạn bè kéo về đốt cho nén
nhang đưa tiễn, khi đó mới biết
họ thương mình. Đồi Thủ Đức
nắng như đổ lửa. Hồn ma về
lại Đông Hà, theo đàn quạ
trắng sang sông. Nhưng đó là
chuyện sau này... </p>
<p align="justify">Một
ngày thứ bảy, nắng vàng rợp
triền đồi. Cả đám sinh viên
hân hoan sánh vai nhau về hội trường
lớn tham dự đại hội đoàn
trường. Mọi thứ đều mới, áo
quần mới giặt, tóc mới gội, niềm
tin mới được chà rửa. Tấm
huy hiệu đoàn mới tìm ra, giương
cao ngọn cờ trên ngực áo. Cũng
đành, cái chết không mãi là
nỗi ám ảnh. Người ta chỉ nên
sống để nhìn về tương lai,
sống để ca ngợi và hy vọng. Ờ
vậy mà, vừa qua kỳ đại hội
đoàn, vừa hô vang xong khẩu hiệu,
đùng một cái, Bắc bị tai nạn.
May làm sao, tai nạn mà không chết.
Nhưng kinh khủng lắm. Chiếc xe đạp
và cây cuốc chim bị tám cái
bánh xe tải đá khổng lồ càn
qua bẹp dúm. Tên lái xe bỏ trốn
mất, cũng chẳng ai bỏ công tìm.
Hoa huyết mỹ nhân phủ đỏ quanh chỗ
Bắc nằm. Chẳng ai biết, Bắc hái
thứ cỏ ma này làm chi, chất cả
một đống lùm xùm lên xe. Vào
đúng ngày sinh nhật thứ mười
tám. Hay vào đúng ngày này ba
mươi năm trước là sinh nhật
thứ mười mươi tám.</p>
<p align="justify">Tiếng
bánh xe tải nghiến rít xuyên thủng
màng nhĩ tôi. Giang hốt hoảng nắm
áo tôi, kéo chạy băng băng ra đầu
dốc, băng qua đồng cỏ dại um tùm.
Xác Bắc văng ra bên đường,
nằm yên đó, bất động. Khuôn
mặt trắng bệch vô hồn phủ đầy
hoa huyết mỹ nhân. Tôi với Giang vác
Bắc chạy ra trạm y tế, vừa chạy
vừa gào khóc. Bắc nằm trên vai
Giang bỗng mở mắt gọi, ba ơi.</p>
<p align="justify">Bạn
à! Bởi vậy mà từ hôm đó
Giang hay đi chơi chung với Bắc, Giang hay chăm
sóc Bắc, chọc cho Bắc cười. Tình
cảm bạn bè chỉ giới hạn vậy
thôi. Còn tôi, cũng hay nghĩ về
Bắc, nhưng là một thứ tình cảm
khác. Nó vô vọng lắm.</p>
<p align="justify">Bắc
trở lại trường, mỗi ngày chống
nạn lóc cóc lên giảng đường.
Chiếc bóng què quặt vô tình
trở thành tấm biển báo nguy cho bạn
bè. Cả trường kể về tai nạn
của Bắc, kể về những tai nạn thảm
khốc trước đó. Kể đi kể
lại, nỗi sợ hãi lại bao trùm
dốc Tan Thương. Tụi tôi lại chìm
vô những ngày ám ảnh hoang mang.</p>
<p align="justify">Bắc
không đọc sách nữa sao? Bắc đã
muốn về chưa? Bắc chăm chú nhìn
vô góc tường tối trước mặt.
Bộ mặt xanh xao cắt ngang khoảng không
gian nửa tối nửa sáng. Bàn tay Bắc
chống hai bên má. Mái tóc dài
hất ngược về phía sau làm cái
mũi xinh xắn của Bắc nhỉnh lên.
Bắc thường hay ngồi như vậy nhìn
hoài vô khoảng không mông lung, lúc
này, nhìn Bắc giống một đứa
con nít bướng bỉnh hơn là một
cô gái đăm chiêu. Giang chắc đang
ngủ vùi trong phòng ký túc xá.
Nó lắc đầu ngao ngán nhìn tôi
ôm tập đi học. Tôi thèm học
quá, thèm ngửi mùi sách, thèm
nhìn những cuốn sách xếp ngay ngắn
trên kệ. Và cũng vì một lý
do khác nữa, không nói bạn cũng
hiểu mà. </p>
<p align="justify">Mắt
tôi ríu lại, mà miệng cứ muốn
hả ra ngáp hoài. Tôi ngồi lơ mơ
bên mép vùng lơ lửng, mắt khép
dần. </p>
<p align="justify">Bắc
rủ tôi về. Hai cái nạng gỗ khua
lọc cọc trên hành lang lót đá.
Tôi ngượng ngùng đi tuột lại
một khoảng phía sau. Chắc những người
con gái đẹp như Bắc không bao giờ
muốn đi cạnh một thằng xấu xí
ghẻ lở như tôi. Nhưng Bắc dừng
lại chờ, nụ cười nàng thân
thiện dịu dàng làm sao. Tôi rụt
rè bước lên cạnh Bắc, tôi
đã đi suốt một đoạn đường
dài để trở về đây, để
có được một buổi chiều được
sóng bước bên nàng. Bắc đi
chậm lắm, nàng tự bám thành
cầu thang nhảy lóc cóc, mồi hôi
rướm trên trán. Chắc lại đau.
Tôi giấu tiếng thở dài, đút
sâu hơn bàn tay vô túi quần.
Không. Không. Tôi không dám đưa
tay cho Bắc đâu. Không dám thật
mà, cuộc đời đừng ép tôi.
Dù phải chết thêm lần nữa, tôi
cũng không thể chìa bàn tay ghẻ
lở ra cho nàng. Một đám sinh viên
tan học trố mắt nhìn Bắc. Thầy
Long "gà công nghiệp" đi ngược
chiều, cũng nhìn Bắc ái ngại.
Thầy Long dạy môn gà công nghiệp.
Sinh viên trong trường vẫn quen gọi thầy
cô theo chuyên môn, nhiều khi bậy bạ
thật tức cười. Cô Hà sâu
bệnh, thầy Hải cà chua, cô Thuỷ
ốc bưu, thầy Hoàn tinh bò… Thầy
Long gà vừa đắc cử chức bí
thư đoàn trường trong kỳ đại
hội đoàn vừa rồi. Thầy chặn
đường tụi tôi, đưa tay xoa đầu
Bắc. Thầy nói thật lớn.</p>
<p align="justify">"Con
nhỏ bị xe đụng đây phải
không? Phải cẩn thận, phải cẩn
thận chứ. An toàn là bạn, tai nạn
là thù."</p>
<p align="justify">Hai
đứa lễ phép chào thầy. Mặt
Bắc đỏ ửng, chắc vì mắc cỡ,
chắc vì cảm động. Tôi thấy
buồn buồn. Răng Bắc tin người như
rứa. Răng thầy phải vuốt tóc Bắc.
Răng thầy phải nói oang oang. Bắc không
phải là con nít. Hai đứa tôi
cũng đâu có bị điếc. Có
phải tai nạn khi mô cũng do bất cẩn
mà ra? Tôi với thầy, kẻ chết
người sống, ai đủ tư cách
biện chứng vấn đề đó? </p>
<p align="justify">Bắc
lại chẳng để ý mấy điều
như vậy, lan man nói sang chuyện khác.</p>
<p align="justify">"Sỏi
nè. Bắc đã chép xong phần bài
giảng mấy hôm nghỉ bệnh. Đối
chiếu với phần chép của Duyên,
bạn thiếu nhiều chỗ. Bên tập
Duyên cũng thiếu lung tung."</p>
<p align="justify">"Mấy
hôm đó trời nóng quá, cả
lớp thi nhau ngủ gục mà."</p>
<p align="justify">Bắc
cười nho nhỏ. Chẳng ai lạ gì
chuyện sinh viên ngủ trên giảng đường.</p>
<p align="justify">"Mình
đã chép bổ xung bên cạnh cho Sỏi
và Duyên những phần thiếu."</p>
<p align="justify">Bắc
không thông minh sáng láng như Duyên,
nhưng Bắc cẩn thận tới độ chi
li. Bạn biết không, tai nạn như con quỷ
cái ranh ma đồng bóng, nó lẩn
trốn ở chỗ mô chỉ thỉnh thoảng
nhảy ra vồ đại một đứa. Và
một ngày nắng loà mắt nó nhảy
ra từ trong bóng tối của những hàng
dương liễu hăm hở vồ lấy tôi.
Chiếc xe tải đá lao ầm ầm xuống
dốc, tiếng bánh xe rít trên con đường
nhựa nóng rát. Suy nghĩ cuối cùng
khi đó là "Bắc", chia sẻ với
Bắc cảm giác kinh hoàng phải đối
diện với cái chết. Những cái
bánh xe khổng lồ nghiến lên thân
thể mình, tiếng gọi yêu thương
chưa kịp thoát trên môi. Vĩnh biệt
bạn bè. Vĩnh biệt đồi Nông
Lâm.</p>
<p align="justify">Duyên
ơi! Nhờ Duyên hát tặng thằng Sỏi
một bài, như là đưa tiễn.
Những ngày chia xa biền biệt, mình
nhớ các bạn lắm. Nhớ Bắc. Nhớ
Giang. Nhớ thằng Thung. Nhớ thằng Lũ.
Nhớ tiếng hát của Duyên.</p>
<br>
<br>
<h2><strong><b>Comments</b>
<i>(5 total)</i></strong></h2>
<br>
<p align="justify"><b>Duyên</b></p>
<p align="justify">Sỏi
ơi, chuyện ngày xưa nhắc lại thêm
đau lòng.</p>
<p align="justify"><b>Phú</b></p>
<p align="justify">Gửi
các bạn một số thông tin về đời
sống sinh viên hiện nay ở đồi Thủ
Đức.</p>
<p align="justify"><u><a
 href="http://www.sggp.org.vn/anninhtrattu/2009/3/185296/">http://www.sggp.org.vn/anninhtrattu/2009/3/185296/</a></u></p>
<p align="justify"><u><a
 href="http://www.tin247.com/hung_than_container_khuynh_dao_lang_dai_hoc-6-164473.html">http://www.tin247.com/hung_than_container_khuynh_dao_lang_dai_hoc-6-164473.html</a></u></p>
<p align="justify"><b>Trí</b></p>
<p align="justify">Cái
"cơ chế phức tạp" này là
cái thứ khốn nạn gì mà ngang
nhiên đe doạ mạng sống của thế
hệ này qua thế hệ khác? Thằng
chó đẻ nào đẻ ra nó?</p>
<p align="justify"><b>Ad</b></p>
<p align="justify">Cẩn
thận! Cẩn thận! </p>
<p align="justify">Không
chửi rủa, không quá khích, không
xúi dục bạo động. </p>
<p align="justify">Diễn
đàn của chúng ta đang bị theo dõi
và tấn công. Từ nhiều ngày nay
ban quản trị phải tìm cách đối
phó với những chương trình lạ
xâm nhập. Dự đoán, trong thời
gian sắp tới sẽ phải đóng cửa
diễn đàn trong nhiều ngày. </p>
<p align="justify">Bạn
nào thấy không an toàn xin cứ rút
lui.</p>
<p align="justify"><b>Phú</b></p>
<p align="justify">Mình
vừa về lại đồi Nông Lâm,
định chụp hình vài khóm hoa
huyết mỹ nhân gửi tặng các bạn
ở xa. Nhưng đồi Nông Lâm bây
giờ… ôi thôi, bát nháo, dơ
bẩn, xô bồ, chẳng còn chút gì
lãng mạn của ngày xưa. Hoa cỏ
chẳng thấy đâu, chỉ thấy nhà
cửa ngổn ngang, rác rưởi với xà
bần.</p>
<p align="justify">Mình
lên mạng tìm, nhưng không thấy
loài hoa nào tên huyết mỹ nhân,
chỉ có loài hoa tên ngu mỹ nhân,
cũng thuộc họ anh túc, cũng giống
như loài hoa đỏ của đồi Nông
Lâm xưa. Có lẽ, dạo đó bọn
mình đọc chệch tên đi. Có
một truyền thuyết rất lãng mạn:
cỏ ngu mỹ nhân nguồn gốc từ Cai
Hạ, là nơi Ngu Cơ tự vẫn trong đêm
biệt ly đối ẩm cùng Hạng Vũ.
Chỗ máu bà đổ xuống mọc
lên một thứ cỏ hễ có rót
rượu gần bên thì cỏ múa lả
lướt như hình bóng nàng Ngu Cơ.
Người ta gọi cỏ ấy là <i>ngu
mỹ nhân thảo</i>.</p>
<p align="justify">Vô
blog của Loan mỹ nhân tìm được
mấy tấm hình ngu mỹ nhân, gửi
các bạn xem cho vui. Vài giây thư
giãn.</p>
<br>
<p style="text-align: center;">
<img style="width: 445px; height: 297px;" alt="hoa"
 src="hoa-chap10.jpg"></p>
<br>
<p align="justify">He
he! Thằng mập nào đang mơ mộng hái
hoa đây? Thằng Lũ phải không?</p>
<br>
<p style="text-align: center;">
<img style="width: 640px; height: 467px;" alt="bê"
 src="be-chap10.jpg"><br>
</p>
<br>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/Kw0-2kn218o" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Lưu Thuỷ Hương</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-01-28T21:33:53Z</dc:date>
        <dc:type>Rich document</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/sang-tac/mien-hu-ao/soi-blog</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/thay-loi-chuc-tet">
        <title>Thay lời chúc Tết</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/RW1X3fSNI3c/thay-loi-chuc-tet</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<br>
<h1 style="font-weight: bold; text-align: center;"><big><big>Thay
lời Chúc Tết</big></big></h1>
<p align="justify"><br>
</p>
<h3 style="text-align: center;"><big>Diễn Đàn</big></h3>
<p align="justify"><br></p>
<p style="text-align: justify;">
Những
bài cuối cùng của Giai phẩm Xuân
Nhâm Thìn 2012 này được dàn
trang và đưa lên mạng trong những
ngày thời sự Việt Nam nổi bật
«&nbsp;sự kiện Tiên Lãng&nbsp;»,
mà Diễn Đàn đã thông tin
tới bạn đọc qua nhiều bài trong
mục Thấy trên mạng và ba bài
của các đồng nghiệp trong nước&nbsp;đăng
lại trên «&nbsp;trang nhất&nbsp;» : <u><a
 href="http://www.diendan.org/viet-nam/vai-cau-hoi-ve-vu-111oan-van-vuon/">Vài
câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn</a></u>
của Nguyễn Quang A trên blog Ba Sàm, <u><a
 href="http://www.diendan.org/viet-nam/su-kien-tien-lang-va-giot-nuoc-tran-ly/">Sự
kiện Tiên Lãng và "giọt nước
tràn ly"</a></u>
của Đặng Hùng Võ trên Tuần
Việt Nam và <u><a
 href="http://www.diendan.org/viet-nam/qua-bom-111oan-van-vuon/">Quả
bom Đoàn Văn Vươn</a></u>
của Huy Đức từ trang Facebook của tác
giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Một sự
kiện chưa từng có, người dân
bắn lại lực lượng công an và
quân đội, ghép trên một sự
kiện đã trở thành «&nbsp;chuyện
thường ngày của huyện&nbsp;»&nbsp;:
quan chức ở các địa phương
câu kết với những «&nbsp;tư bản
đỏ&nbsp;» dùng quyền lực của
mình để «&nbsp;cưỡng chế&nbsp;»
người dân nhằm tước đoạt
đất đai, của cải của họ, bất
kể công sức lao động, máu và
nước mắt mà họ đả bỏ
ra, đã đổ xuống những cánh
đồng hay đầm nuôi thuỷ sản
như trong trường hợp anh Đoàn Văn
Vươn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự
kiện chưa từng có kia rõ ràng
là một giọt nước tràn ly, như
nhận định của ông nguyên thứ
trưởng phụ trách đất đai (bộ
Tài Nguyên &amp; Môi trường) Đặng
Hùng Võ, người biết rất rõ
những tranh chấp đất đai trong cả
nước. Còn cái chuyện thường
ngày kia, mở rộng phạm vi một chút
sẽ thấy ngay, nó không chỉ xảy
ra trong nông nghiệp, ở nông thôn. Năm
2011 vừa khép lại với vụ bắt đưa
vào trại «&nbsp;cải tạo, phục
hồi nhân phẩm&nbsp;» chị Bùi Thị
Minh Hằng, một người chỉ có tội
nhiều lần tham gia biểu tình chống
thái độ bành trướng hung hãn
của Trung Quốc trên Biển Đông, năm
2012 liền mở ra với vụ bắt «&nbsp;tạm
giam&nbsp;» nhà báo Hoàng Khương,
người chuyên viết điều tra về
những hành vi ăn hối lộ của cảnh
sát giao thông, và tiếp nối với
vụ xử 4 năm tù một sĩ quan công
an đã đánh tới chết công
dân Trịnh Xuân Tùng và còn dã
man không cho gia đình đưa nạn nhân
đi cấp cứu khi ông còn có thể
được cứu. Hàng chục vụ đánh
chết người trong trại công an được
nguỵ trang để trốn tội, như blogger
Mẹ Nấm đã <u><a
 href="http://menam0.multiply.com/journal/item/586">sơ
kết</a></u>.
Vân vân và vân vân. Khung cảnh
của những hành động bạo quyền
công an trị đó bên trong là nền
kinh tế xuống dốc, lạm phát gần
20% (xem chẳng hạn <u><a
 href="http://dantri.com.vn/c76/s76-551980/kinh-te-viet-nam-2011-365-ngay-day-bien-dong.htm">bài
này</a></u>),
nạn quan tham lại nhũng không hề giảm
sút ; bên ngoài là sự hung hãn
của ông bạn láng giềng 16 chữ,
vừa hung hãn vừa giảo quyệt khiến
cho trong ngoài còn có khi lẫn lộn
ít ai biết được tỏ tường.
Sang lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo
dục, cũng chẳng có gì hơn. Quan
chức suy thoái, biến chất, chỉ biết
bám lấy ghế, lấy lợi của mình
bằng mọi giá kể cả bán mình
cho xã hội đen như nhiều vụ việc
đã được tiết lộ cho thấy,
trách
sao văn hoá, đạo đức xã hội
không ngày một suy đồi, báo chí
dày đặc những vụ cướp, giết,
hiếp chen giữa những trang về các chân
dài «&nbsp;lộ hàng&nbsp;», các
«&nbsp;đại gia&nbsp;» khoe xe sịn.</p>
<p style="text-align: justify;">Đen. Nếu
chỉ được dùng một chữ để
nói về đất nước khốn khổ
này trong năm qua, thì thế, như cái
tiền đồ của Chị Dậu. Nhưng dĩ
nhiên một bức tranh toàn cảnh về
một đất nước không thể chỉ
có một gam màu. </p>
<p style="text-align: justify;">Năm
2011 cũng được đánh dấu son
trong lịch sử hiện đại bằng những
cuộc biểu tình «&nbsp;đầy khí
phách&nbsp;» (chữ của nhà thơ
Hoàng Hưng trong <u><a href="http://www.procontra.asia/?p=135">bài
nói chuyện với nhà văn Phạm Thị
Hoài</a></u>,
với nhiều ý hay khác) suốt mùa
hè, mà không ai có thể nghĩ tới
chỉ cách đây vài năm. Bằng
những phản ứng mạnh mẽ và gần
như thống nhất của cả một hệ
thống truyền thông hiện đại, những
website, blog «&nbsp;lề trái&nbsp;» mà
nhà cầm quyền không ngăn chặn
nổi, trước những vụ ngược đãi
người dân hay chỉ là trước
những sự vô cảm đối với khổ
đau của người khác. Trong một số
sự việc, những phản ứng ấy đã
lôi kéo được cả những quan
chức hay cựu quan chức nhưng còn ảnh
hưởng trong chính trường, buộc họ
phải lấy thái độ đứng về
người dân, và cũng lôi kéo
được một số báo chí chính
thống. Như vụ Đoàn Văn Vươn
cho thấy. Hoặc như chuyện kể trong <u><a
 href="http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-01-13-chi-huy-cung-can-suy-xet-phan-bien">bài
viết này</a></u>
của tác giả Võ Văn Tạo, nói
tới một đại tá phó giám
đốc công an của một tỉnh nọ
đã dõng dạc trả lời khi bị
vị quan đầu tỉnh trách là ông
không mạnh tay dẹp việc người dân
phản ứng do bị cưỡng chế lấy
đất&nbsp;:&nbsp;"<i>Bà
con đấu tranh ôn hòa, không bạo
động. Không được phép sử
dụng lực lượng vũ trang can thiệp,
vì chỉ tạo thêm căng thẳng bức
xúc, bất ổn xã hội. Đó là
nguyên tắc</i>".
Không có lý do gì để nghĩ
rằng đại tá P. trong câu chuyện
là duy nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Một
xã hội công dân đang hình thành
và lớn lên, tuy chậm nhưng tầm
vóc đã vượt qua đánh giá
bi quan của nhiều người. Những «&nbsp;kiến
nghị&nbsp;» về nhiều vấn đề
«&nbsp;nhạy cảm&nbsp;» như kiến
nghị <u><a
 href="http://www.diendan.org/viet-nam/tu-do-cho-cu-huy-ha-vu">đòi
trả tự do cho công dân</a></u>
Cù Huy Hà Vũ, về chính sách
cần có đối với Trung Quốc để
<u><a href="http://www.diendan.org/viet-nam/kien-nghi-1007/">bảo
vệ và phát triển đất
nước</a></u>, thu được nhiều chữ ký
của những người dân đã vượt
qua sợ hãi để tỏ thái độ
của mình. <u><a
 href="http://www.diendan.org/viet-nam/cai-cach-toan-dien-111e-phat-trien-111at-nuoc/">Bản
Ý kiến</a></u>
về «&nbsp;cải cách toàn diện để
phát triển đất nước&nbsp;»
của 14 trí thức Việt kiều tuy không
được chính thức đăng tải
trên các phương tiện truyền thông
chính thống nhưng nhiều tờ báo
lớn đã dám nói tới nó, phỏng
vấn một đồng tác giả của
nó…</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc đấu
tranh chống cường quyền, độc đảng,
sẽ còn gay gắt, do nhiều lý do từ
tương quan lực lượng tới nội
tình người dân đã sống quá
lâu trong một chế độ toàn trị.
Nhưng giữa mảng đen đã nổi
lên nhiều vệt sáng. Chắc ít
người có thể tin vào một đổi
thay trong ngắn hạn (tuy, biết đâu&nbsp;?,
những sự việc xảy ra ở Trung Đông,
và gần ta hơn, ở Miến Điện,
cho thấy như câu ngạn ngữ Pháp
«&nbsp;điều xấu nhất chẳng bao giờ
là chắn chắn&nbsp;»&nbsp;!), nhưng niềm
tin vào tương lai của đất nước
thì hoàn toàn có cơ sở, để
giúp mỗi chúng ta vững bước tiến
vào năm mới, mỗi người làm
được những việc mà mình cần
và thấy mình làm được,
trong cuộc hành trình chung của dân
tộc. </p>
<p style="text-align: justify;">Niềm
tin cũng được nuôi dưỡng trong
những ngày xuân sang, Tết đến,
trong truyền thống của dân tộc là
những ngày nghỉ ngơi, sum họp với
gia đình. Số Diễn Đàn Giai phẩm
Xuân Nhâm Thìn này, với sự đóng
góp bài vở đặc biệt phong phú
của nhiều bè bạn (gần) khắp năm
châu&nbsp;: Á, Âu, Mỹ, Úc, trong
nhiều chủ đề từ thơ văn, mỹ
thuật tới văn hoá, khoa học, nhẹ
nhàng nhưng không hề phù phiếm,
mong được là người bạn đường
thân thiết và hữu ích với bạn
đọc trong những ngày nghỉ Tết và…
sau đó. Giai phẩm được chia làm
4 phần&nbsp;: Tết, Thơ - Hoạ, Truyện –
Ký và Văn hoá – Khoa học, bạn
có thể mở mỗi phần, bấm vào
tên bài trong cột trái để mở
ra đọc. Chúng tôi xin bày tỏ nơi
đây lòng biết ơn sâu sắc và
chân tình với những tác giả đã
nhiệt tình cộng tác cho số Xuân
này cũng như trong những ngày thường
suốt năm, và nhiều tác giả khác
trên mặt báo này tiếc là đã
không kịp gửi bài cho số Tết.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn ít
ngày nữa là sang năm mới, Diễn
Đàn chân thành gửi tới bạn
đọc và các tác giả và
gia đình những lời chúc năm mới
hạnh phúc, sức khoẻ, an khang.</p>
<h3 style="text-align: right;">Diễn
Đàn</h3>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/RW1X3fSNI3c" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Diễn Đàn</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-01-26T22:32:58Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/thay-loi-chuc-tet</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/ngo-bao-chau-va-du-luan">
        <title>Lại chuyện trí thức : Ngô Bảo Châu và dư luận</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/deBhYjOCy28/ngo-bao-chau-va-du-luan</link>
        <description />

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<h3>Lại chuyện «&nbsp;trí
thức&nbsp;»</h3>
<p align="justify"><br>
</p>
<h1 style="text-align: center;"><big><big>Ngô
Bảo Châu và
dư luận</big></big></h1>
<p align="justify">&nbsp; </p>
<h3 style="text-align: center;"><big>Hoà Vân</big></h3>
&nbsp;
<p align="justify">Mấy ngày Tết,
tưởng được nghỉ đôi chút
sau khi làm xong số xuân, nhưng lại bị
một cơn bão tố trong làng mạng
kéo dậy&nbsp;!</p>
<p align="justify">Chuyện
là Ngô Bảo Châu bị bà con dân
mạng ném đá tơi bời, chủ
yếu là do một hai câu nói về
vai trò của trí thức, trong <u><a class="western"
 href="http://tuoitre.vn/Giao-duc/474615/Giao-su-Ngo-Bao-Chau-Ban-tre-van-day-niem-tin-tuong-lai.html">bài
trả lời phỏng vấn</a></u>
của báo Tuổi Trẻ cuối tuần (đề
ngày 20.1.2012). Thực ra, cũng không phải
những người ném đá đều
trích mấy câu đó mà đa
phần chỉ nói hùa theo một số
nhỏ người bình luận có trích
dẫn đàng hoàng – nhưng cũng
chỉ là trích ra để nói về
hai câu đó, mà chẳng đếm
xỉa gì mấy tới toàn bộ những
ý kiến của tác giả trong bài.
Để bạn đọc dễ theo dõi,
chúng tôi xin đăng lại toàn văn
(xem phụ lục 1 dưới đây)
phần liên quan<sup><a class="sdendnoteanc"
 name="sdendnote1anc" href="#sdendnote1sym"><sup>1</sup></a></sup>
trong bài phỏng vấn, dưới tiểu đề
của báo Tuổi Trẻ&nbsp;: «&nbsp;Không
ai độc quyền chân lý&nbsp;», và
nhấn mạnh (in nghiêng) mấy câu «&nbsp;tội
phạm&nbsp;».</p>
<p align="justify">Nếu
chỉ có thế thì… chả đáng
nói gì thêm. Nhưng phần vì đề
tài trí thức và&nbsp;«&nbsp;phản biện xã
hội&nbsp;» có vẻ luôn luôn
«&nbsp;nóng&nbsp;», báo chẳng thể
làm ngơ, phần vì cái tên
«&nbsp;người nổi tiếng&nbsp;» (tội
nghiệp Ngô Bảo Châu, nếu anh không
sinh ra ở cái xứ sở khốn khó
này, không được giải Fields vào
cái thời điểm đa đoan này
của xã hội thì đã bớt đi
được gánh nặng ấy) nên cũng
phải có đôi lời. Ngô Bảo
Châu cho rằng «&nbsp;<i>
trí thức là người lao động
trí óc</i>&nbsp;»,
nhưng trong sự chấp nhận rộng rãi
của xã hội (mà bản thân người
viết chia sẻ) thì đó chỉ là
một <i>định nghĩa tối
thiểu</i>. Người ta đã
quen với những định nghĩa mang nhiều
kỳ vọng của xã hội hơn, do đó
cũng đòi hỏi nhiều tố chất
hơn – mà ngôn ngữ thì không
thể bỏ qua cái chiều kích «
quen tai&nbsp;» của người đời ấy.
Quen tới mức ít ai còn bằng lòng
với cái định nghĩa tối thiểu
trên, dù rằng người ta vẫn sử
dụng «&nbsp;trí thức&nbsp;» trong các
cụm từ «&nbsp;trí thức trùm
chăn&nbsp;», «&nbsp;trí thức sống
trong tháp ngà&nbsp;»…, với cái
định nghĩa tối thiểu kia. Một thực
tế đã hình thành&nbsp;: «&nbsp;trí
thức&nbsp;» hầu như đồng nghĩa
với «&nbsp;kẻ sĩ&nbsp;» trong nghĩa
đẹp của nó, «&nbsp;<i>Đã
mang tiếng ở trong trời đất, phải
có danh gì với núi sông</i>&nbsp;»
(Nguyễn Công Trứ). Quên thực tế
là một điều nguy hiểm. </p>
<p align="justify">Nhưng bàn về các
tố chất của trí thức thì hoàn
toàn không dễ. Mặt báo này và
bản thân người viết cũng đã
đôi lần góp tiếng nói của
mình, tất nhiên là không thể
toàn diện, cũng không thể «&nbsp;đúng&nbsp;»
hết. Trung thực chẳng hạn, là một
đòi hỏi không thể thiếu. Thế
mà nhiều người nhân danh trí
thức vẫn sẵn sàng tách một câu
nói của «&nbsp;đối phương&nbsp;»
ra khỏi những suy nghĩ khác về cùng
chủ đề của người ấy để chê
bai, dè bỉu, hoặc tệ hơn. Như thế
có trung thực không&nbsp;nhỉ ? Câu trả
lời hiển nhiên&nbsp;: không, nhưng nạn
nhân thì trong nhiều trường hợp
chẳng trách được ai ngoài mình,
oan đấy nhưng «&nbsp;giá như&nbsp;»
mình cẩn trọng hơn một chút khi
phát ngôn... Tâm lý xã hội là
một thực tế chẳng thể coi thường.
Tiên trách kỷ hậu trách nhân là
thế&nbsp;!</p>
<p align="justify">Nhưng
xin không đi xa hơn, và trở lại
cái tố chất đang được bàn
cãi, phản biện xã hội có phải
là «&nbsp;chỉ tiêu&nbsp;» để
được coi là trí thức hay không&nbsp;?
Xin lưu ý, Ngô Bảo Châu nói
«&nbsp;chỉ tiêu&nbsp;», tức điều
kiện cần và đủ, chứ không
nói «&nbsp;một tiêu chí&nbsp;»,
một trong nhiều tiêu chí cần khác.
Nếu cách hiểu này là đúng
thì, dù người viết rất coi trọng
tiêu chí này, y vẫn thấy khó
lòng phản bác nhà toán học&nbsp;trẻ
tuổi, khi anh không đồng
ý với việc coi <i>phản biện xã hội
như chỉ tiêu để được
phong hàm “trí thức”</i>
! Nhất là trong khung cảnh ngôn từ lạm
phát khá nhiều ở xã hội Việt
Nam hiện nay. Còn bàn về nội dung thì
có lẽ cũng cần nói tới cụm
từ «&nbsp;phản biện xã hội&nbsp;»
nữa. Người sống ở những nước
quen với các tranh luận công cộng,
nhiều ý kiến trái chiều cả ủng
hộ và chê trách nhà cầm quyền,
thì… không thấy có gì tương
đương với cụm từ này. Người
lao động trí óc cũng như lao động
chân tay, phát biểu thoải mái về
nhiều vấn đề của xã hội mà
không bị nhà cầm quyền phiền
nhiễu. Những phát biểu đó, kể
cả của các cá nhân hay các tổ
chức dân sự, hội đoàn hay đảng
phái, chắc khó có thể gọi là
«&nbsp;phản biện xã hội&nbsp;»
khi chúng có thể là phê phán
hay ủng hộ từ một cuốn phim, một cuốn sách tới một chính sách nào
đó của nhà cầm quyền được
bầu ra một cách dân chủ. Không phải mọi chuyện đều có thể quy về chính
trị. Điều
người ta đòi hỏi là khi anh trí
thức lên tiếng về một vấn đề
nào đó, anh ta phải chứng tỏ
được – ngoài trình độ
hiểu biết của mình- một tinh thần
phê phán tự do, không lệ thuộc
vào những giáo điều, không xuyên
tạc các dữ kiện để nhét
các kết luận của mình vào cái
khung giáo điều đó. Trong
tinh thần phê phán tự do đó, sự lên
tiếng của từng người trí thức
- với tư cách cá nhân hay tập thể - tuỳ theo các mối quan tâm của
mình,&nbsp; nếu
cộng lại, có thể bao trùm hầu
như mọi mặt của các hoạt động
xã hội, và cấu thành một đặc trưng của giới trí thức. Ngoài ra, chẳng
ai đòi
hỏi cá nhân một anh trí thức
nào phải lên tiếng về mọi vấn
đề, đó cũng là một thực
tế. </p>
<p align="justify">Còn «&nbsp;phản
biện xã hội&nbsp;» ư, có chăng,
như trường hợp bài văn nổi
tiếng «&nbsp;J’accuse&nbsp;» của nhà
văn Emile Zola trong vụ án Dreyfus cuối thế
kỉ 19, hay «&nbsp;Tuyên ngôn về quyền
bất tuân thượng lệnh&nbsp;» của
121 trí thức Pháp trong chiến tranh
Algérie, là những trường hợp
hiếm, xảy ra khi nền dân chủ bị
xâm phạm nghiêm trọng, không phải
là hoạt động thường ngày
của người trí thức. </p>
<p align="justify">Như vậy, «&nbsp;phản
biện xã hội&nbsp;» chẳng có gì
là đặc thù của giới hay người
trí thức, ngoài những trường hợp
đặc biệt, nói chung là khi xã
hội chao đảo, những niềm tin vốn
có của mình bị lung lay mạnh. Khi ấy,
nếu những người có học thức,
có văn hoá, có điều kiện
hơn đa số để phản ứng với
những tệ hại đang gây ra sự bất
ổn ấy, nếu những người đó
tỏ ra vô cảm trước nỗi đau,
nỗi hoang mang của đồng bào mình,
không chịu đầu tư một phần
thời gian và hoạt động trí óc
của mình để cùng họ tìm
kiếm những giải pháp mà những
người cầm quyền hoặc bế tắc,
bất lực, hoặc bản thân dính
trong các tệ hại ấy, nếu thế thì
chẳng phải là xã hội nào cũng
có quyền lên án những người
«&nbsp;trí thức&nbsp;» ấy ư&nbsp;?
Vậy tại sao xã hội Việt Nam hiện
nay đòi hỏi ở người trí
thức sự tham gia tích cực vào «&nbsp;phản
biện xã hội&nbsp;», đôi khi cực
đoan tới mức coi đó là tiêu
chí duy nhất của những người trí
thức ? Tình hình đất nước
tưởng đã trả lời câu hỏi
đó đủ rõ để không cần
dài dòng thêm nữa.</p>
<p align="justify">Thế còn Ngô Bảo
Châu&nbsp;? Xin dành quyền đánh giá
cho bạn đọc, chỉ xin lưu ý, các
phát biểu của anh, dù bạn đánh
giá như thế nào, bao gồm cả
những đoạn sau mấy câu «&nbsp;tội
phạm&nbsp;» in nghiêng dưới đây.
</p>
<p align="justify">Để «&nbsp;rộng
đường dư luận&nbsp;», chúng
tôi cũng xin đăng lại nguyên văn
các phát biểu đó… sau biên
tập, do nhà văn và cũng là nhà
báo lão thành Hoàng Hưng gửi
cho Diễn Đàn (Phụ lục 2.), và một vài đường
dẫn tới một số bài viết liên
hệ (Phụ lục 3.)</p>
<p align="justify">Cuối cùng thì
sao&nbsp;? «&nbsp;Cơn bão&nbsp;» nêu
trên đầu bài thực ra chỉ là
một cơn bão trong chén trà, như
cách nói của người Anh, mà
chính đương sự cũng gợi ra
trong một thư gửi Bọ Lập (xem Phụ
lục 3.). Nhưng dư chấn của nó có
lẽ không sớm tan như thế&nbsp;! Không
phải vì bản thân câu chuyện chưa khép lại. Mà
vì «&nbsp;cái xã hội Việt Nam
nó thế&nbsp;», nhu cầu «&nbsp;phản
biện xã hội&nbsp;» và nhu cầu
đồng hoá trí thức với trí
thức phản kháng dĩ nhiên chưa có
cơ sở gì để tan mau, khi chế độ
toàn trị còn tham vọng ngự trị
mãi trên toàn bộ cuộc sống của
người dân. Nhưng điều đó
vượt qua cuộc tranh cãi này.</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h3 style="text-align: right;">Hoà Vân</h3>
<p align="justify"> </p>
<p align="justify">&nbsp; </p>
<h2><big>Phụ lục 1. Ngô Bảo
Châu trả lời Tuổi trẻ cuối tuần</big></h2>
<h3><br>
</h3>
<h3><big><b>Không
ai độc quyền chân lý</b></big></h3>
<p align="justify"><b>TTCT.</b>
Gần đây phong trào phản biện của
giới trí thức ngày càng sôi
nổi. Thậm chí người ta còn cho
rằng người lao động trí óc
sẽ chưa đạt tầm của một trí
thức nếu chỉ biết làm công việc
chuyên môn của mình mà chưa bộc
lộ được năng lực phản biện
xã hội. Giáo sư suy nghĩ thế nào
về trách nhiệm phản biện xã hội
của giới trí thức cũng như vai trò
của giới trí thức trong xã hội?</p>
<p align="justify"><b>Ngô
Bảo Châu.</b>
<i>Tôi không
đồng ý với việc coi phản biện
xã hội như chỉ tiêu để được
phong hàm “trí thức”. Đến
bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để
được phong hàm “trí thức”?</i></p>
<p align="justify"><i>Đối
với tôi, trí thức là người
lao động trí óc.</i>
Cũng như những người lao động
khác, anh ta cần được đánh
giá trước hết trên kết quả
lao động của mình. <i>Theo
quan niệm của tôi, giá trị của
trí thức là giá trị của sản
phẩm mà anh ta làm ra, không liên
quan gì đến vai trò phản biện xã
hội.</i></p>
<p align="justify">Mặt khác,
cần trân trọng những người trí
thức, hoặc không trí thức, tham gia
công tác phản biện xã hội.
Không có phản biện, xã hội đã
chết lâm sàng.</p>
<p align="justify">Những
người có học, có tri thức thật
ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia
việc phản biện xã hội. Học hàm,
học vị không thể đảm bảo
rằng cái anh nói ra là mặc nhiên
đúng. Với thói quen làm việc
khoa học của mình, cái mà anh có
thể làm là đưa ra những lập
luận vững chắc và có tính
thuyết phục. Nhà lãnh đạo văn
minh, có bản lĩnh sẽ biết lắng
nghe những lập luận đó. Họ có
thể làm theo hoặc không làm theo kết
luận của anh. Trong trường hợp họ
không làm theo, vẫn dưới giả
thiết là lãnh đạo văn minh và
có bản lĩnh, lãnh đạo sẽ
phải đưa ra những lập luận ít
nhất cũng vững chắc bằng những lập
luận của anh để bảo vệ quyết
định của mình. </p>
<p align="justify">Tôi quan
niệm vai trò của trí thức là
như vậy, anh ta có vai trò gây sức
ép lên người lãnh đạo,
nhưng cũng như lãnh đạo, anh ta
không độc quyền chân lý. </p>
<p align="justify"><b>TTCT.</b>
Giáo sư có nói cần khuyến khích
mọi thành phần trong xã hội phát
biểu ý kiến của mình và lãnh
đạo phải lắng nghe tất cả ý
kiến đó. Nhưng điều quan trọng
là cuối cùng lãnh đạo cần
phải có một quyết định, vậy
việc quyết định nên căn cứ
vào đâu?</p>
<p align="justify"><b>Ngô
Bảo Châu.</b>
Nếu có một thuật toán để
ra quyết định trong mọi trường hợp
thì chắc không cần đến lãnh
đạo nữa mà thay bằng một cái
máy tính. Người lãnh đạo
có bản lĩnh sẽ có những hành
động nhất quán, chứ không được
chăng hay chớ. Đi cùng với sự nhất
quán là tính chủ quan, ở đây
nếu lắng nghe ý kiến phản biện,
người lãnh đạo sẽ tránh
được những sai lầm không thể
cứu vãn. Theo tôi, phẩm chất quan
trọng nhất của người lãnh đạo
là tính lương thiện, ít nhất
là lương thiện vừa đủ để
không tự lừa mình bằng những
điều viển vông và không tự
bao biện cho những sai lầm của mình.</p>
<p align="justify"><b>TTCT.</b>
Để tận dụng được khả
năng suy nghĩ của trí thức, lãnh
đạo nên chăng chia sẻ thông tin với
họ để nhận được lời tư
vấn tốt nhất trước khi đưa ra
quyết định? </p>
<p align="justify"><b>Ngô
Bảo Châu.</b>
Đối với người lãnh đạo,
chia sẻ thông tin là một việc khó,
như từ bỏ một phần quyền lực
của mình. Thông tin hoàn toàn mở,
anh lãnh đạo sẽ phải tranh luận
với anh trí thức trong tình huống
“cân bằng vũ trang” và chưa
chắc anh lãnh đạo đã thắng.</p>
<p align="justify">Nhưng thật
ra cởi mở thông tin, tranh luận với trí
thức, với những người nằm ngoài
bộ máy chính là một cách tiếp
năng lượng cho anh lãnh đạo, vẫn
với giả thiết lãnh đạo văn
minh và có bản lĩnh. Để làm
được việc, anh lãnh đạo luôn
phải phụ thuộc vào bộ máy của
mình. Nếu không cởi mở, dừng
tranh luận, những quyết định của
anh sẽ dần dần chịu ảnh hưởng
của bộ máy, phục vụ lợi ích
của bộ máy chứ không ưu tiên
phục vụ xã hội nữa.</p>
<p align="justify"><b>TTCT.</b>
Năm qua là năm có nhiều hoạt động
phản biện của giới trí thức
trong nước cũng như ngoài nước.
Giáo sư đánh giá thế nào
về các hoạt động này? Là
một trí thức, giáo sư có muốn
đóng góp tiếng nói của mình
vào trào lưu chung đó? </p>
<p align="justify"><b>Ngô
Bảo Châu.</b>
Cá nhân tôi thường tránh bàn
luận các vấn đề mà tôi
không biết rõ. Tôi quan tâm nhiều
hơn tới những lĩnh vực mà tôi
có thể trực tiếp tham gia hành động
thay vì chỉ nêu ý kiến. Nhưng
tôi cho rằng việc đưa ra các phản
biện có lập luận chặt chẽ là
những đóng góp lớn cho xã hội,
cho đất nước của giới trí
thức. Tuy nhiên, trước khi lên tiếng
về một vấn đề nào đó,
người trí thức hơn ai hết cần
phải hết sức ý thức về ảnh
hưởng của nó. </p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<p style="text-align: right;"><span
 style="color: rgb(51, 102, 153); font-weight: bold;">Thư Hiên</span>
thực hiện</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h2><big><b>Phụ
lục 2. </b><b>Không
có phản biện, xã hội đã
chết lâm sàng</b></big></h2>
<br>
&nbsp; &nbsp;<br>
<p style="font-style: italic; margin-left: 120px;"
 align="justify">Là một
người nhiều năm làm công việc
biên tập ở vài tờ báo khác
nhau của Nhà nước Việt Nam cũng
như của một trang web tự do, tôi xin mạn
phép thử “biên tập lại”
bài trả lời phỏng vấn của Ngô
Bảo Châu trên báo Tuổi trẻ (qua
blog Basam) thành một bài viết khác,
có thể sẽ làm một số bạn
nghĩ khác một chút về thái độ
của nhà toán học trẻ này trước
đề tài “vai trò phản biện
xã hội của trí thức” chăng?</p>
<h3 style="text-align: right;">Hoàng
Hưng</h3>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h3><big>Không có
phản biện, xã hội đã chết
lâm sàng</big></h3>
<p align="justify">Nguyễn Bá
Ngọc</p>
<p align="justify">(đầu
đề của tòa soạn)</p>
<p align="justify"><b>I. Vai trò
của trí thức là gây sức ép
lên người lãnh đạo:</b></p>
<p align="justify">Cần trân
trọng những người trí thức, hoặc
không trí thức, tham gia công tác
phản biện xã hội. Không có phản
biện, xã hội đã chết lâm
sàng.</p>
<p align="justify">Nhà lãnh
đạo văn minh, có bản lĩnh sẽ
biết lắng nghe những lập luận đó.
Họ có thể làm theo hoặc không
làm theo kết luận của anh. Trong trường
hợp họ không làm theo, vẫn dưới
giả thiết là lãnh đạo văn
minh và có bản lĩnh, lãnh đạo
sẽ phải đưa ra những lập luận
ít nhất cũng vững chắc bằng những
lập luận của anh để bảo vệ
quyết định của mình.</p>
<p align="justify">Tôi quan
niệm vai trò của trí thức là
như vậy, anh ta có vai trò gây sức
ép lên người lãnh đạo,&nbsp;nhưng
cũng như lãnh đạo, anh ta không độc
quyền chân lý. </p>
<p align="justify">Nếu có
một thuật toán để ra quyết định
trong mọi trường hợp thì chắc
không cần đến lãnh đạo nữa
mà thay bằng một cái máy tính.
Người lãnh đạo có bản lĩnh
sẽ có những hành động nhất
quán, chứ không được chăng
hay chớ. Đi cùng với sự nhất quán
là tính chủ quan, ở đây nếu
lắng nghe ý kiến phản biện, người
lãnh đạo sẽ tránh được
những sai lầm không thể cứu vãn.
Theo tôi, phẩm chất quan trọng nhất của
người lãnh đạo là tính
lương thiện, ít nhất là lương
thiện vừa đủ để không tự
lừa mình bằng những điều viển
vông và không tự bao biện cho những
sai lầm của mình.</p>
<p align="justify">Đối
với người lãnh đạo, chia sẻ
thông tin là một việc khó, như
từ bỏ một phần quyền lực của
mình. Thông tin hoàn toàn mở, anh
lãnh đạo sẽ phải tranh luận với
anh trí thức trong tình huống “cân
bằng vũ trang” và chưa chắc anh
lãnh đạo đã thắng.</p>
<p align="justify">Nhưng thật
ra cởi mở thông tin, tranh luận với trí
thức, với những người nằm ngoài
bộ máy chính là một cách tiếp
năng lượng cho anh lãnh đạo, vẫn
với giả thiết lãnh đạo văn
minh và có bản lĩnh. Để làm
được việc, anh lãnh đạo luôn
phải phụ thuộc vào bộ máy của
mình. Nếu không cởi mở, dừng
tranh luận, những quyết định của
anh sẽ dần dần chịu ảnh hưởng
của bộ máy, phục vụ lợi ích
của bộ máy chứ không ưu tiên
phục vụ xã hội nữa.</p>
<p align="justify"><b>II. Không
nên cực đoan trong vấn đề phản
biện của trí thức:</b></p>
<p align="justify">Tôi không
đồng ý với việc coi phản biện
xã hội như chỉ tiêu để được
phong hàm “trí thức”. Đến
bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để
được phong hàm “trí thức”?</p>
<p align="justify">Đối
với tôi, trí thức là người
lao động trí óc. Cũng như những
người lao động khác, anh ta cần
được đánh giá trước hết
trên kết quả lao động của mình.
Theo quan niệm của tôi, giá trị của
trí thức là giá trị của sản
phẩm mà anh ta làm ra, không liên
quan gì đến vai trò phản biện xã
hội.</p>
<p align="justify">Những
người có học, có tri thức thật
ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia
việc phản biện xã hội. Học hàm,
học vị không thể đảm bảo
rằng cái anh nói ra là mặc nhiên
đúng. Với thói quen làm việc
khoa học của mình, cái mà anh có
thể làm là đưa ra những lập
luận vững chắc và có tính
thuyết phục.</p>
<p align="justify"><b>III. Kết
luận:</b></p>
<p align="justify">Cá nhân
tôi thường tránh bàn luận các
vấn đề mà tôi không biết
rõ. Tôi quan tâm nhiều hơn tới
những lĩnh vực mà tôi có thể
trực tiếp tham gia hành động thay vì
chỉ nêu ý kiến. Nhưng tôi cho
rằng việc đưa ra các phản biện
có lập luận chặt chẽ là những
đóng góp lớn cho xã hội, cho
đất nước của giới trí thức.
Tuy nhiên, trước khi lên tiếng về
một vấn đề nào đó, người
trí thức hơn ai hết cần phải hết
sức ý thức về ảnh hưởng của
nó.</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<p align="justify"><b>Để
tham khảo</b>: Trích vài ý kiến về trí thức của
GS Nguyễn Bá Ngọc trên báo Sinh Viên
số Tết Nhâm Thìn và đã
được GS đưa lại trên blog của
mình với tiêu đề “Nói
những điều mình nghĩ”: </p>
<p align="justify">27.
GS có đồng ý định nghĩa, trí
thức trong việc không để xã hội
“ngủ”?</p>
<p align="justify">– Người
trí thức có nhiệm vụ quấy rầy
khi những người khác ngủ trong những
định kiến của mình.</p>
<p align="justify">28.
Theo GS, đâu là phẩm cách quan trọng
của một trí thức?</p>
<p align="justify">– Trí
thức cần tinh thần cầu thị, ham học,
đầu óc phân tích, lập luận
sắc bén. Người trí thức cần
thêm sự can đảm và một tấm
lòng rộng rãi, nhân hậu.</p>
<p align="justify">29.
Trí thức cần gì nhất, theo GS?</p>
<p align="justify">– Tự
do.</p>
<p align="justify"><span
 style="color: rgb(51, 102, 153); font-weight: bold;">&nbsp;
&nbsp;</span></p>
<p align="justify"><span
 style="color: rgb(51, 102, 153); font-weight: bold;">Chú
thích
của H.V.</span>: toàn bộ lời văn của
"Nguyễn Bá Ngọc" chính là
đoạn trả lời phỏng vấn của
Ngô Bảo Châu trên TTCT về trí
thức và phản biện xã hội, nhà
văn chỉ bỏ những câu hỏi của
TTCT và hai từ đưa đẩy trong một
câu, thay vào đó là mấy tiểu
đề in đậm trên đây, và
sắp xếp lại thứ tự các câu
nói.</p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<h2><big><b>Phụ
lục 3. Một vài bài viết liên
quan</b></big></h2>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<p align="justify">Trần
Kính Nghị&nbsp;: <u><a class="western"
 href="http://trankinhnghi.blogspot.com/2012/01/ai-la-tri-thuc.html">Thế
nào là trí thức&nbsp;?</a></u></p>
<p align="justify">Nguyễn
Quang Vinh&nbsp;(blog Cu Vinh): <u><a class="western"
 href="http://nguyencuvinh.wordpress.com/2012/01/24/g%E1%BB%ADi-vai-l%E1%BB%9Di-v%E1%BB%9Bi-chau-giao-s%C6%B0/">Gửi
vài lời với Châu giáo sư</a></u></p>
<p align="justify">Nguyễn
Vạn Phú&nbsp;: <u><a class="western"
 href="http://nguyenvanphu.blogspot.com/2012/01/tri-thuc-la-cai-chi-chi.html">Trí
thức là cái chi chi&nbsp;?</a></u></p>
<p align="justify">Blogger
Gấu Phạm&nbsp;: «&nbsp;<u><a class="western"
 href="http://5xublog.org/2012/01/24/g%E1%BA%A5u-lu%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-gs-chau/">Gấu
luận về Châu</a></u>&nbsp;»</p>
<p>
Nguyễn
Quang Lập (blog Quê Choa)&nbsp;: <u><a class="western"
 href="http://quechoa.info/2012/01/22/g%E1%BB%ADi-ngo-b%E1%BA%A3o-chau/">Gửi
Ngô Bảo Châu</a></u>
và <u><a class="western"
 href="http://quechoa.info/2012/01/25/th%C6%B0-gs-ngo-b%E1%BA%A3o-chau-g%E1%BB%ADi-b%E1%BB%8D-l%E1%BA%ADp/">Thư
gs Ngô Bảo Châu gửi Bọ&nbsp;Lập</a></u></p>
<p align="justify">Ngô
Bảo Châu&nbsp;: <u><a class="western"
 href="http://ngobaochau.wordpress.com/2012/01/24/noi-nh%E1%BB%AFng-gi-minh-nghi/#comment-266">Nói
những gì mình nghĩ</a></u>
</p>
<p>
Phạm
Toàn&nbsp;: <u><a class="western"
 href="http://anhbasam.wordpress.com/2012/01/25/664-luc-cua-nguoi-tri-thuc-trong-the-gioi-toan-tri/">Lực
của người trí thức trong thế giới
toàn&nbsp;trị</a></u></p>
<p align="justify"><br>
<br>
</p>
<p align="justify"> ___________</p>
<p align="justify"><a class="sdendnotesym"
 name="sdendnote1sym" href="#sdendnote1anc">1</a>
Phần kia trong bài phỏng vấn liên quan đến việc Ngô Bảo Châu về nước
tham gia lễ ra mắt
Viện Toán cao cấp. Người viết không chia sẻ lắm quan điểm của anh về
cái
“Viện Toán cao cấp” này, nhưng đó là một câu chuyện khác.</p>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/deBhYjOCy28" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Hoà Vân/Ngô Bảo Châu/Hoàng Hưng</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-01-27T16:52:24Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/ngo-bao-chau-va-du-luan</feedburner:origLink></item>

    <item rdf:about="http://www.diendan.org/viet-nam/ve-mot-bai-viet-cua-nha-van-pham-thi-hoai">
        <title>Về một bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài</title>
        <link>http://feedproxy.google.com/~r/diendan_fulltext/~3/UJP4SiERHIQ/ve-mot-bai-viet-cua-nha-van-pham-thi-hoai</link>
        <description>... và khái niệm "đối lập trung thành".</description>

<content:encoded xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"><![CDATA[<p align="justify"><br>
</p>
<h1 style="font-weight: bold; text-align: center;"
 class="documentFirstHeading"><big><big>Về một
bài viết của <br>
nhà văn Phạm Thị Hoài</big></big></h1>
<p align="justify">
&nbsp; </p>
<p align="justify"></p>
<h3 style="text-align: center;"><big>Lữ Phương</big></h3>
<p align="justify"><br>
</p>
<h3><big>
1.</big></h3>
<p align="justify">
Đó là
bài “Sự lạc quan vô tận”,
xuất hiện trên BBC ngày 17.1.2012 (1). Bà
Phạm Thị Hoài, đang ở Đức, tác giả bài này, viết về một
nhà hoạt động văn hoá, xã
hội nổi tiếng trong nước hiện nay
là ông Chu Hảo, và qua ông Chu Hảo,
bà Hoài nhận ra tính chất mẫu
mực của một lớp trí thức gọi là “đối lập trung thành”
mà bản chất vẫn gắn liền với
hệ thống chính trị tư tưởng
bấy lâu nay mệnh danh là “chủ
nghĩa xã hội” ở Việt Nam. Bà
Hoài cho rằng trong khi thực tế chỉ ra
rằng hệ thống này đã trở
nên bất lực và lỗi thời, thay
vì thoát ra ngoài để phủ nhận
từ nền móng, những nhà “đối
lập” nói trên vẫn ôm ấp
thứ chủ nghĩa xã hội ấy như
một lý tưởng, căn cứ vào đó
phản biện một số sai lầm trong thực
tế lãnh đạo của Đảng cộng
sản, với hy vọng cải tạo hệ thống
để cứu nó khỏi sự sụp đổ.</p>
<p align="justify">
Nhiều người
làm công việc này trước đây
đã bị chế độ thanh trừng
nhưng hiện nay có vẻ như những
người kế tục đang trở nên có
giá. Họ được Đảng để
cho công khai ăn nói thoải mái (kể
cả lên tiếng nơi những phương
tiện truyền thông bị xem là “thù
địch”) chỉ có điều là
ý kiến của họ thường không
được Đảng quan tâm trả lời
đàng hoàng. Bà Hoài vẫn tỏ
vẻ kính trọng họ, có ý cho
rằng vị trí của họ cao hơn nhiều
lần loại người cũng thoát khỏi
guồng máy như họ nhưng lại thiếu
hẳn nhân cách để lên mặt dè
bỉu họ. Những trí thức này cũng
nhận những “mạt
sát bạt mạng từ những người
hùng Việt kiều ẩn danh trên mạng”
nhưng bà Hoài cho rằng việc đó
có thể bỏ qua, có lẽ vì không
đáng để họ quan tâm. </p>
<p align="justify">
Tuy thế, một
thái độ “đối lập” trí
thức như vậy lại được
bà Hoài
cho là có tính chất nước đôi,
nghịch lý: “vừa
cổ vũ cho tự do tư tưởng, vừa
biện minh cho sự cần thiết của chiếc
gông tròng vào cổ trí thức
Việt Nam và đè nặng lên họ”,
chỉ vì sự lãnh đạo của
Đảng đối với trí thức (qua
phát ngôn của ông Chu Hảo) vẫn
còn được duy trì. Do vậy mà xét đến cùng thì điều đó
chỉ mang đến cho cuộc sống tinh thần
nhiều tệ hại: vẫn ảo tưởng
về khả năng lãnh đạo của
Đảng đối với trí thức do đó
cũng còn tin rằng Đảng vẫn còn
khả năng nghe theo những đề nghị
của trí thức để thay đổi.
Một cách khách quan bà Hoài cho
rằng những phản biện như vậy chỉ
mang ý nghĩa một cuộc giải phẫu thẩm mĩ cho một chế độ
toàn trị xấu xí, già nua để
“giúp nó tồn tại mĩ miều
hơn”. </p>
<p align="justify">
Nguyên nhân
của cung cách suy tưởng này được
bà Hoài quy về sự nhồi sọ của
hệ thống toàn trị của Đảng:
hệ thống này “đã biến đổi
thành công bộ nhiễm sắc thể của
các đảng viên, ‘sự lãnh
đạo của Đảng’ đã ăn
vào gen trong cơ thể họ và tự
động phát tiết, trong cả những
tình huống không phù hợp nhất”.
Nói cách khác, tuy có mục đích
phê phán đường lối của Đảng
nhưng những trí thức “đi theo
Đảng” đó mãi mãi vẫn
không thoát khỏi sợi dây trói
buộc về các công thức tư duy mòn
sáo của Đảng. Bà Hoài cho rằng
thái độ phù hợp hiện nay không
phải chỉ thoát ra khỏi bộ máy
để phản biện mà là rời bỏ
cả hệ thống để tìm đến
một thứ đối lập khác, có
ích và cần thiết hơn.</p>
&nbsp;&nbsp;
<h3><big>2.</big> </h3>
<p align="justify">
Khi sử dụng
khái niệm “đối lập trung thành”
để chỉ thị xu hướng phản
biện trên đây, chắc hẳn bà
Hoài đã có tham khảo và lấy
nguồn cảm hứng từ một tác giả
viết về đề tài này, cách
đây 6 năm (2006), đó là Zachary
Abuza với
bài “Loyal
Opposition: The Rise of Vietnamese Dissidents” (1),
trong bài viết này học giả người
Mỹ nói
trên đã nhắc đến khái niệm
“đối lập trung thành” để
nghiên cứu sự chuyển động chính
trị ở Việt Nam sau thời kỳ “đổi
mới”, trong đó nhiều khuôn mặt
trí thức tiêu biểu đã được
phân tích để chỉ ra những phần
tích cực lẫn giới hạn của họ.
Các thuộc tính khác nhau trong phân
tích nói trên cũng có thể tìm
thấy trong bài viết của bà Hoài.</p>
<p align="justify">
Tuy vậy vẫn
có điều khác là những mặt
tích cực và giới hạn trong công trình của Abuza nếu được trình
bày một cách khách quan, theo ngôn
ngữ của một văn bản nghiên cứu
thì trong bài của bà Hoài những
mặt giới hạn và tiêu cực lại
được chú trọng để phê
phán nhiều hơn, hơn nữa sự phê
phán ấy lại được làm nổi
bật và gây được ấn tượng
nhiều hơn vì được diễn đạt
bằng một thứ ngôn ngữ cường
điệu, cảm tính rất quen thuộc của
một tác giả từng nổi tiếng về
viết tiểu thuyết. Ở đây các
nguyên nhân khách quan, lịch sử tạo
nên hiện tượng cần nêu ra để
lý giải đã không được
nói đến mà lại được
quy giản thành những huyễn hoặc tâm
lý có tính chất chuyển giao thế
hệ của những con người cấu thành
hiện tượng. </p>
<p align="justify">
Cách lập
luận của tác giả vì vậy có
nhiều điều không thuận lý lắm.
Đáng chú ý hơn hết là cái
cách tác giả dựa vào những
phát biểu cụ thể của ông Chu Hảo
khái quát cho toàn bộ xu hướng
mệnh danh là “đối lập trung
thành” để giảng giải, bàn
luận. Trong khi đó thì thực tế
cho chúng ta biết nếu có ai đó
tin tưởng thành khẩn vào điều
mình trình bày (giống như cách
trình bày của ông Chu Hảo) thì
cũng có không ít người (trong đó
không loại trừ cả bản thân ông
Chu Hảo) chỉ coi kiểu diễn ngôn đó,
vừa như một thủ thuật để tự
bảo vệ, vừa là một cách thức
thích hợp để tác động vào
chính guồng máy mà họ đang phải
sống chung. Trong hoàn cảnh này không
ít tác giả đã coi việc đề
cao vai trò của Đảng như một thủ
tục để lồng vào đó nhiều
điều mà nếu bùi tai nghe theo, Đảng
sẽ không còn là cộng sản nữa!
Thử đọc Nguyễn Trung hoặc nghe Nguyễn
Văn An mà xem! </p>
<p align="justify">
Xét cho cùng,
thì tất cả đều chỉ là
cuộc đánh vật về những khái
niệm, và do bà Hoài quá tin vào
chữ nghĩa nên bà đã bị lừa
về mặt chữ nghĩa để khi sử
dụng khái niệm “đối lập
trung thành” bà đã đương
nhiên khẳng định sự tồn tại
của thực tại đó trong đời
sống chính trị hiện nay ở Việt
Nam. Như vậy là có nhiều điều
không giống với Abuza: nếu trong bài
viết của mình, tác giả này
chỉ coi “đối lập trung thành” như là khả năng có thể hình
thành trong tương lai từ những hoạt
động bất đồng chính kiến có
giới hạn hiện nay, thì qua sự biện
giải trong bài viết của bà Hoài,
“đối lập trung thành” đã
được khẳng định như một
tồn tại minh nhiên, hiện thực. Khẳng
định này thiếu sự chính danh
nghiêm nhặt, vì trong sự diễn đạt
của bà Hoài, việc xác nhận khái niệm nói trên chỉ được
coi như một tu từ ở đó sự
“trung thành” đã mang ý nghĩa
tiêu cực của một thái độ
chính trị cần phê phán. </p>
<p align="justify">
Thật sự
thì khái niệm “đối lập
trung thành” đã có nguồn gốc
từ nghị viện nước Anh quân chủ
vào thế kỷ 19: “đối lập”
ở đây là đối lập với
đảng đa số đang cầm quyền, còn
“trung thành” ở đây là
trung thành với vị Vua đang trị vì,
cho nên tên gọi đầy đủ của
khái niệm là “Her
(or
His)<i>
</i>Majesty's
Most Loyal Opposition” (còn được gọi
là “The Official Opposition”). Nội dung này
về sau đã được khái quát
hoá thành một khái niệm chính
trị có tính chất định chế
trong các nước theo thể chế dân
chủ đa đảng: các đảng thiếu
số có quyên tồn tại và được
luật pháp bảo vệ để tham gia nghị
trường với tư cách đối lập
với đảng đương quyền, qua sự
phản biện các chính sách đang
thực hiện, đưa ra đường lối
mới hy vọng thay thế đảng đương
quyền trong kỳ bầu cử sắp tới.
Trung thành bây giờ không phải trung
thành với bất cứ thực thể cụ
thể nào mà là với những nguyên
lý tạo nền cho một thể chế dân
chủ đích thực.<br>
&nbsp; <br>
</p>
<h3>
3. </h3>
<p align="justify">
Thực thể
gọi là “đối lập trung thành”
với nội dung nói trên hiển nhiên
không thể nào tồn tại được
trong chế độ gọi là “chủ
nghĩa xã hội hiện thực”. Nó
hoàn toàn không thể tồn tại vì
cái xã hội công dân tạo nền
cho các hoạt động của các lực
lượng “đối lập” mang cùng
tính chất đã không được
thừa nhận theo lý luận chuyên chính
gọi là “vô sản” của Đảng.
Tất cả mọi hoạt động xã hội
đều phải do Đảng nắm chặt
bằng Nhà nước cùng với hệ
thống chính trị đặt nền trên
đường lối chuyên chính đó. Cho rằng chủ trương này là do K. Marx đẻ ra
là không thoả đáng: trong xã hội cộng sản lý thuyết
do triết gia này đề xuất, nhà
nước sẽ dần dà bị xã hội
công dân nuốt chửng rồi sau đó
nhường bước cho sự ra đời một
nhân loại phổ biến chứ không thể
là ngược lại như trong chế độ
“chủ nghĩa xã hội hiện thực”:
sau khi triệt tiêu xã hội công dân
rồi nhà nước trở thành tuyệt
đối và vĩnh viễn. </p>
<p align="justify">
Cần lưu ý
là trong một chế độ “toàn
trị ” mang danh chủ nghĩa xã hội
đó, hiện tượng người ta
thường gọi là “bất đồng
chính kiến” vẫn tồn tại qua mọi
thăng trầm. Nhìn vào lịch sử các
chế độ cộng sản thực tế hiện
tượng này rất đễ dàng nhận
ra, dưới nhiều hình thức và danh
nghĩa, hầu hết đều diễn ra hết
sức bạo liệt . Dù vậy, để
duy tính cách mạng cho phê phán và
tranh đấu, người ta không thể nhân
danh một cái gì đó bên ngoài
thứ lý luận gọi là “vận
dụng học thuyết Marx-Lenin”, căn cứ
vào đó phê phán những chủ
trương bị xem là sai lầm trong sự
vận dụng của Đảng vào việc
“xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Và hiển nhiên sự phê phán ấy
đã không thể trở thành cương
lĩnh của một lực lượng có
tổ chức công khai được thừa
nhận là “đối lập trung thành”
trong một chế độ có tham vọng
kiểm soát con người từ đầu
cho đến chân. </p>
<p align="justify">
Cũng cần
lưu ý thêm là sự mạnh yếu,
rộng hẹp của hiện tượng bất
đồng chính kiến nói trên trong
chế độ ấy không phải lúc
nào cũng như nhau. Tất cả đều tuỳ theo tình hình chung, tuỳ theo tương
quan giữa xã hội và nhà nước
mà diễn ra dưới nhiều mức độ.
Nếu trước đây phong trào “Nhân
Văn-Giai phẩm”, “chủ nghĩa xét
lại”… xét về căn bản tỏ
ra khá “trung thành” với hệ
thống mà vẫn bị trấn áp tàn
tệ thì ngày nay, trong thời kỳ “đổi
mới”, nhiều phê phán đạt
đến mức “chạm trần” mà
vẫn tồn tại được dưới
những hình thức nào đó. Tại
sao? Chắc chắn không phải do Đảng
đã trở nên dân chủ hơn,
khoan dung hơn để không thèm “đếm
xỉa” các phản biện rất “phản
động” trên đây mà chỉ
vì trong thực tế đã đến lúc
Đảng không còn đủ sức để
lùa vào vòng kiểm soát của
mình những ai không “nghĩ trong điều
Đảng nghĩ” nữa. Nhìn vào
những gì diễn ra ở Việt Nam sau 1986,
nhất là sau sự tan rã của “phe
xã hội chủ nghĩa”, có thể
nhận ra điều đó dễ dàng! </p>
<p align="justify">
Đặt vào
quá trình đấu tranh dân chủ hoá
xã hội ở Việt Nam, hiện tượng
phản biện trên đây, dù mang trong
bản thân nhiều hạn chế và những
hạn chế ấy được chấp nhận
như điều kiện để tồn tại,
cách nói của bà Hoài, xem đó
là một “cuộc giải phẫu thẩm
mỹ giúp chế độ toàn trị
tồn tại mỹ miều hơn” là
không thoả đáng, nếu không nói
là hoàn toàn phản thực tế. Vì
thực tế cho chúng thấy phải hiểu
ngược lại mới đúng: ra đời
từ những nỗ lực cực kỳ gian khổ
để dân chủ hoá đời sống
xã hội, những nỗ lực trên đây,
cho đến nay đang có tác dụng làm
suy yếu chế độ toàn trị ngay
trong sân chơi của nó, làm cho chế
độ ấy mau chóng mất đi tính
chính danh ngay trên chính những nguyên
lý của nó. Nếu không khó giải
thích việc chế độ toàn trị
luôn tỏ ra rất khó chịu, bực bội
với hiện tượng này, thì cũng
rất dễ hiểu khi thấy trong khi không
dám đối thoại sòng phẳng với
những phản biện gai góc, những cái
lưỡi gỗ của chế độ đã
không biết làm gì để đối
phó, ngoài việc nhét tất cả
vào cái phạm trù gọi là “diễn
biến hoà bình” và “tự
diễn biến hoà bình” để quy
chụp và kết án là “cơ
hội”.</p>
&nbsp;&nbsp;
<h3><big>4.</big> </h3>
<p align="justify">
Khi xác định
vị trí tranh đấu của mình, những
người phản biện từ bên trong không
hề coi phương thức lên tiếng của
họ là duy nhất đúng, duy nhất có
ích. Đó chỉ là một chọn
lựa trong nhiều chọn lựa nhưng khi đã
đứng vào vị trí ấy rồi thì sự cân nhắc về tác dụng
của hành động và lời nói
phải trở thành điều cần thiết:
chẳng hạn không thể lúc nào
cũng ngang nhiên đòi “giải thể”
cái này cái nọ tức khắc cho hả
giận và cho sướng miệng, không
phải vì sợ bị bỏ tù mà
chỉ vì không thích hợp. Từ
những giới hạn buộc phải chấp
nhận một cách chính danh thì chỉ
nên gọi như người ta thường
gọi họ là những người phản
biện, hoặc ồn ào hơn một chút,
có thể gọi họ là những người
bất đồng chính kiến – những
người như vậy ngày càng nhiều
thêm, thái độ của họ ngày
càng mạnh mẽ, quyết liệt. Đây
không phải chỉ là kết quả của
một quá trình giải hoặc về tư
tưởng mà chính yếu đã bắt
nguồn từ cái thực tế chuyển
động của xã hội đang tác
động vào bản thân họ: là
sự thất bại hiển nhiên của chế
độ toàn trị mạo danh xã hội
chủ nghĩa giao thoa với cái xã hội
công dân đã bị chế độ
toàn trị ấy thủ tiêu cũng mạo
danh chủ nghĩa xã hội, nay đang phục
hồi do sự thất bại của thứ chủ
nghĩa xã hội bị mạo danh ấy. </p>
<p align="justify">
Tất cả
đã tác động đến bản
thân các đảng viên với tư
cách là những công dân và
những con người, làm cho cả một
lớp trí thức một thời “đi
theo Đảng” khi nhìn lại mọi thứ,
ngày càng nhận ra sự cách bức
trầm trọng giữa Đảng và xã
hội, cuối cùng đã chọn đứng
về phía xã hội để, từ tư
thế của mình, đòi hỏi Đảng
phải dân chủ hoá bản thân, tiến
hành những cải cách để thực
hiện những thay đổi có lợi cho xã
hội.</p>
<p align="justify">
Chừng nào
thì hành vi phản biện mạnh mẽ
nói trên có khả năng chuyển hoá thành một xu hướng chính trị có
tổ chức mệnh danh là “đối
lập trung thành” theo đúng nguyên
nghĩa của nó? Không thể biết được
nhưng chắc chắn đó là điều
thật đáng mong mỏi. Nhưng để
điều đó trở thành thực tế
thì bản thân chế độ toàn
trị phải có sự chuyển hoá thật
mạnh mẽ về chất, sự chuyển hoá
ấy cốt yếu phải được thúc
đẩy bởi sự lớn mạnh của cái
xã hội công dân hiện diện bên
ngoài sự tồn tại của Đảng: không có sự lớn mạnh của xã
hội công dân này thì mọi sự
chuyển biến trong Đảng, có tính
tới áp lực nội tại của thành
phần phản biện nói trên, vẫn chỉ
loay hoay trong những hứa hẹn, nếu không
mị dân để đối phó thì
cũng hoang tưởng, nửa vời. </p>
<p align="justify">
Xét về
logic của sự chuyển hoá hoà bình
có thể khẳng định rằng chỉ
có một xã hội công dân đã
trưởng thành về mọi mặt (kinh tế,
văn hoá lẫn chính trị) mới có
khả năng hạn chế các chính sách
chuyên chế của Đảng, từng bước
tác động vào Đảng, mang đến
cho những trí thức của Đảng nhiều
tính chất dân chủ hơn trong những
đề xuất cải cách, qua đó
dọn đường dần dà cho sự hoá
thân của Đảng, từ một đảng
toàn trị thành một đảng dân
chủ. Logic thì như vậy và mong ước
cũng là như vậy. Nhưng thực tế
hiếm khi đi theo logic của sự suy tưởng
lý tính, trong trường hợp này,
bạo lực có thể sẽ lại lên
ngôi một lần nữa, bạo lực cách
mạng và cả bạo lực phản cách
mạng. Mọi sự bàn luận về thực
thể gọi là “đối lập trung
thành” bây giờ sẽ mất hoàn
toàn ý nghĩa, không cần thiết.</p>
<h3 style="text-align: right;">&nbsp; </h3>
<h3 style="text-align: right;">Lữ Phương</h3>
&nbsp;
<p align="justify">_________</p>
<ol>
  <li>
    <p align="justify"> <u><a
 href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/01/120117_phamthihoai_vn_intelligentsia.shtml">http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/01/120117_phamthihoai_vn_intelligentsia.shtml</a></u>).
    </p>
  </li>
  <li>
    <p align="justify"><u><a
 href="http://asiaquarterly.com/2006/01/28/ii-35/">http://asiaquarterly.com/2006/01/28/ii-35/</a></u></p>
  </li>
</ol>
</body>
<img src="http://feeds.feedburner.com/~r/diendan_fulltext/~4/UJP4SiERHIQ" height="1" width="1"/>]]></content:encoded>

        <dc:publisher>No publisher</dc:publisher>
        <dc:creator>Lữ Phương</dc:creator>
        <dc:rights />
        <dc:date>2012-01-25T16:33:41Z</dc:date>
        <dc:type>Page</dc:type>
    <feedburner:origLink>http://www.diendan.org/viet-nam/ve-mot-bai-viet-cua-nha-van-pham-thi-hoai</feedburner:origLink></item>




</rdf:RDF>

