<?xml version="1.0" encoding="UTF-8" standalone="no"?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><rss xmlns:itunes="http://www.itunes.com/dtds/podcast-1.0.dtd" version="2.0"><channel><title>Những điều nhỏ bé</title><description>Là những điều hay lẽ phải trong đời thường. Chúc bạn luôn thành đạt và hạnh phúc trong cuộc sống.</description><managingEditor>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</managingEditor><pubDate>Wed, 28 Jan 2026 20:41:58 +0700</pubDate><generator>Blogger http://www.blogger.com</generator><openSearch:totalResults xmlns:openSearch="http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/">513</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex xmlns:openSearch="http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/">1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage xmlns:openSearch="http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/">25</openSearch:itemsPerPage><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/</link><language>en-us</language><itunes:explicit>no</itunes:explicit><itunes:subtitle>Là những điều hay lẽ phải trong đời thường. Chúc bạn luôn thành đạt và hạnh phúc trong cuộc sống.</itunes:subtitle><itunes:category text="Education"><itunes:category text="Training"/></itunes:category><itunes:owner><itunes:email>noreply@blogger.com</itunes:email></itunes:owner><item><title>Tại sao có tục kiêng không để cha mẹ đưa tang con?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/10/ti-sao-c-tc-king-khng-cha-m-tang-con.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Mon, 6 Oct 2008 08:09:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-3770884942840401586</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Tử biệt sinh ly, ai không thương xót, nhưng theo quy luật tự nhiên, cha mẹ già yếu từ trần, con báo hiếu cha, mẹ, đưa tang bố mẹ là chuyện thường tình. Con chết trước cha mẹ là nghịch cảnh, nhiều trường hợp chết non, gây nhiều nỗi đau thương cho bố mẹ. Giờ phút hạ huyệt là giờ phút xúc động đến cực điểm, có nhiều ông bố bà mẹ đã bị ngất lịm đi. Đã có nhiều trường hợp mẹ chết luôn bên huyệt chôn con. Hơn nữa, ngày xưa, phương tiện và thuốc thang cấp cứu khó khăn, không cho cha mẹ đưa tang con để vơi bớt nỗi đau buồn và để tránh nạn trùng tang là đúng. Chẳng những cha mẹ mà các ông già bà cả trong nội thân, sức khoẻ đã tàn cũng không được dự đưa tang, sợ vướng đến sức khoẻ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">17</thr:total></item><item><title>Cha mẹ có để tang con không?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/10/cha-m-c-tang-con-khng.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sun, 5 Oct 2008 07:08:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-2546808173540254347</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Tang phục là thể hiện tình nghĩa, có phân biệt thân sơ "Họ đương 3 tháng, láng giềng 3 ngày", thể hiện lòng thương xót giữa kẻ mất người còn. Vì thế, chẳng những thân thích mà người ngoài đến phúng viếng cũng nên đeo băng tang. Theo "Thọ mai gia lễ" thì chẳng những cha mẹ để tang con mà ông bà và cụ kỵ cũng để tang hàng cháu, hàng chắt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thọ mai gia lễ" quy định như vậy nhưng một số địa phương Bắc bộ quan niệm "Phụ bất bái tử" (cha không lạy con), Con chết trước cha mẹ là nghịch cảnh, là bất hiếu, con chưa kịp báo hiếu cha mẹ đã chốn nợ đời, chẳng những cha mẹ không để tang con mà khi khâm liệm con còn phải quấn trên đầu tử thi một vòng khăn trắng. Nếu là đàn bà mà tứ thân phụ mẫu còn cả thì phải quấn đến hai vòng, có nghĩa là ở dưới cõi âm cũng để tang báo hiếu sẵn cho cha mẹ đang ở trên dương trần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Năm hạng tang phục (Ngũ phục) là gì?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/10/nm-hng-tang-phc-ng-phc-l-g.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Fri, 3 Oct 2008 01:05:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-1170733393447279796</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Theo "Thọ mai gia lễ", có năm hạng tang phục tuỳ theo quan hệ huyết thống và nghĩa tình phân biệt thân sơ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;1. Đại tang: Trảm thôi và tề thôi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Quần áo sổ gấu gọi là trảm thôi: Con để tang cha.&lt;br /&gt;   * Quần áo không sổ gấu gọi là tề thôi: Con để tang mẹ, vợ để tang chồng khi cha chưa mất.&lt;br /&gt;   * Thời hạn: 3 năm, đời sau giảm bớt còn 2 năm 3 tháng (sau lễ giỗ đại tường 2 năm, thêm 3 tháng dư ai).&lt;br /&gt;   * áo xô, khăn xô có hai giải sau lưng (gọi là khăn ngang).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu cha mẹ đều đã mất thì hai giải bằng nhau, nếu còn mẹ hoặc còn cha thì hai giải dài ngắn lệch nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Con trai chống gậy: Tang cha gậy tre, tang mẹ gậy vông, mũ rơm quấn đầu, dây chuối, dây đai thắt lưng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời nay, nhiều nơi đã bãi bỏ những tang phục này. ở thành phố nhiều nhà dùng băng đen theo tang chế châu Âu, theo ý chúng tôi, tiện hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Con trai, con gái, con dâu đều để tang cha mẹ. (Kể cả đích mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, từ mẫu và dưỡng phụ).&lt;br /&gt;   * Vợ để tang chồng.&lt;br /&gt;   * Nếu con trưởng mất trước thì cháu đích tôn để tang ông bà nội cũng đại tang thay cha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;2. Cơ niên: Để tang một năm. Từ niên cơ trở xuống dùng khăn tròn, vải trắng, không gậy&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Cháu nội để tang ông bà nội.&lt;br /&gt;   * Con riêng của vợ để tang bố dượng nếu bố dượng có công nuôi và ở cùng, nếu không ở cùng thì không tang; trước có ở cùng sau thôi thì để tang 3 tháng.&lt;br /&gt;   * Con để tang mẹ đẻ ra mình nhưng bị bố rẫy (xuất mẫu), hoặc cha chết, mẹ lấy chồng khác (giá mẫu).&lt;br /&gt;   * Chồng để tang vợ cả có gậy, nếu cha mẹ còn sống thì không gậy.&lt;br /&gt;   * Cháu để tang bác trai bác gái, chú, thím và cô ruột.&lt;br /&gt;   * Anh chị em ruột để tang cho nhau (cùng cha khác mẹ cũng tang một năm, cùng mẹ khác cha thì tang 5 tháng).&lt;br /&gt;   * Cha mẹ để tang con trai, con gái và con dâu cả, kể cả con đi làm con nuôi nhà người.&lt;br /&gt;   * Chú, bác, thím cô ruột để tang cho cháu ( con anh em ruột).&lt;br /&gt;   * Ông bà nội để tang cho cháu trưởng (đích tôn).&lt;br /&gt;   * Đích mẫu, kế mẫu, từ mẫu tang các con chồng, thứ mẫu tang con mình và con chồng như nhau đều một năm. Tang con dâu cả cũng một năm.&lt;br /&gt;   * Con dâu để tang dì ghẻ của chồng (tức vợ lẽ cha chồng).&lt;br /&gt;   * Rể để tang cha mẹ vợ (vợ chết đã láy vợ khác cũng vậy).&lt;br /&gt;   * Nàng hầu để tang cha mẹ chồng, vợ cả của chồng, các con chồng cũng như con mình (các họ hàng bàng thân bên nhà chồng đều không tang).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;3. Đại công: để tang 9 tháng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Anh chị em con chú con bác ruột để tang cho nhau.&lt;br /&gt;   * Cha mẹ để tang con dâu thứ hoặc con gái đã lấy chồng.&lt;br /&gt;   * Chú, bác thím ruột để tang cháu (con gái đã xuất giá, con dâu của anh em ruột).&lt;br /&gt;   * Cháu dâu để tang ông bà của chồng, chú, bác, thím ruột, hoặc cô ruột của chồng.&lt;br /&gt;   * Mẹ để tang con dâu thứ và con gái riêng của chồng.&lt;br /&gt;   * Con gái đã xuất giá để tang bác trai, bác gái, chú thím, cô ruột.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;4. Tiểu công: Để tang 5 tháng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Chắt để tang cụ. (Hoàng tang: Chít khăn vàng)&lt;br /&gt;   * Cháu để tang anh chị em ruột của ông nội (ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô).&lt;br /&gt;   * Con để tang vợ lẽ, nàng hầu của cha ( nếu cha giao cho nuôi mình thì để tang 3 năm như mẹ đẻ).&lt;br /&gt;   * Cháu để tang đường bá thúc phụ mẫu và đường cô (anh chị em con chú bác ruột của cha).&lt;br /&gt;   * Anh chị em con chú, bác ruột để tang cho vợ của nhau.&lt;br /&gt;   * Anh chị em chung mẹ khác cha để tang cho nhau (vợ con của anh chị em ấy thì không tang).&lt;br /&gt;   * Chú bác ruột để tang cho cháu dâu (con dâu của anh em ruột).&lt;br /&gt;   * Ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô để tang cho cháu (tức là cháu nội của anh em ruột).&lt;br /&gt;   * Ông bà nội để tang cho vợ cháu đích tôn hoặc cháu gái xuất giá.&lt;br /&gt;   * Cháu ngoại để tang ông bà ngoại và cậu ruột, dì ruột (anh chị em ruột của mẹ, kể cả đối với anh chị em ruột của đích mẫu, thứ mẫu, kế mẫu).&lt;br /&gt;   * Cháu dâu để tang cô ruột của chồng.&lt;br /&gt;   * Chị dâu, em dâu để tang anh chị em ruột của chồng và con của những người đó (tức là cháu gọi bằng bác, bằng thím).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;5. Ty ma Phục: Tang 3 tháng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   * Chít để tang can (kỵ) nội (ngũ đại : Hồng tang chít khăn đỏ).&lt;br /&gt;   * Chắt để tang cụ nhà bác, nhà chú (tằng tổ bá thúc phụ mẫu và tằng tổ cô, tức là anh em ruột với cụ nội).&lt;br /&gt;   * Cháu để tang bà cô đã lấy chồng (chị em ruột với ông nội).&lt;br /&gt;   * Cháu để tang cô bá (chị em con chú bác ruột với bố).&lt;br /&gt;   * Con để tang bố dượng (nếu trước có ở cùng, sau mới về bên nội).&lt;br /&gt;   * Con để tang nàng hầu của cha.&lt;br /&gt;   * Con để tang bà vú (cho bú mớm).&lt;br /&gt;   * Cháu để tang tộc bá thúc phụ mẫu (anh em cháu chú, cháu bác với cha).&lt;br /&gt;   * Chồng để tang vợ lẽ nàng hầu.&lt;br /&gt;   * Anh chị em họ nội 5 đời để tang cho nhau.&lt;br /&gt;   * Bố mẹ vợ để tang con rể.&lt;br /&gt;   * Ông bà ngoại để tang cháu ngoại và cháu dâu ngoại.&lt;br /&gt;   * Ông của chồng để tang cháu dâu.&lt;br /&gt;   * Cụ để tang cho chắt nội.&lt;br /&gt;   * Cháu để tang vợ cậu, chồng cô, chồng dì có cùng ở một nhà.&lt;br /&gt;   * Anh chị em con cô ruột và bạn con dì ruột để tang cho nhau.&lt;br /&gt;   * Cậu ruột để tang vợ của cháu trai&lt;br /&gt;   * Cháu dâu để tang ông bà ngoại của chồng, cậu ruột, dì ruột chồng&lt;br /&gt;   * Cháu dâu để tang các ông bà anh chị em ruột với ông nội chồng.&lt;br /&gt;   * Chắt dâu để tang cụ nội của chồng.&lt;br /&gt;   * Cụ để tang chắt nội trai gái.&lt;br /&gt;   * Ông bà để tang các cháu gái của con nhà chú, nhà bác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tang bên cha mẹ nuôi :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  1. Kỵ bên cha nuôi thì 3 tháng, cụ bên cha nuôi thì 5 tháng, ông bà thì một năm.&lt;br /&gt;  2. Cha mẹ nuôi thì áo bằng gấu, hoặc sổ gấu 3 năm có cả gậy.&lt;br /&gt;  3. Từ ông bà trở lên nếu mình thừa trọng cũng sổ gấu 3 năm.&lt;br /&gt;  4. Ông bà sinh ra mẹ nuôi thì 5 tháng, còn thì đều không có.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tang họ nhà mình (Đã là con nuôi người khác, để tang bên họ của mình):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  1. Ông bà sinh ra cha thì 9 tháng.&lt;br /&gt;  2. Cha mẹ sinh ra mình thì 1 năm có gậy.&lt;br /&gt;  3. Bác trai bác gái, chú, thím và cô là anh chị em ruột với cha thì đều 9 tháng. Cô đã giá thì 5 tháng.&lt;br /&gt;  4. Anh chị em ruột thì 9 tháng, chị dâu, em dâu thì 3 tháng, chị em đã xuất giá thì 5 tháng.&lt;br /&gt;  5. Ông bà sinh ra mẹ thì 3 tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xét trong lễ nói rằng: Con gái đã xuất giá thì các tang có giáng, song đi lấy chồng, hoặc phải chồng rẫy bỏ, hoặc chồng chết, con lại chẳng có, lại  trở về nhà cũng như chưa lấy chồng, tang chẳng có giáng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu đương để tang cha mẹ được một năm mà chồng rẫy bỏ thì phải tang cha mẹ 3 năm, hoặc để tang cha mẹ được 1 năm đã trừ phục đoạn thì chẳng được để lại 3 năm, dù phải chồng dẫy trước, sau mới để tang cha mẹ chưa đủ 1 năm mà chồng mới gọi về thì chẳng nên về vội phải nên để trọn 3 năm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trường phục: có ba loại:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  1. Trưởng trường: Từ 16-19 tuổi&lt;br /&gt;  2. Trung trường: Từ 12-15 tuổi&lt;br /&gt;  3. Hạ trường: Từ 8-11 tuổi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Đều lấy thứ tự giáng một bậc).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ví dụ: Giai đã lấy vợ, gái đã lấy chồng, dẫu còn trẻ cũng không thể gọi là trường được, nhưng vốn mình phải tang 1 năm trưởng trường giáng xuống 9 tháng, trung trường giáng xuống 7 tháng, hạ trường giáng xuống 5 tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vốn tang 9 tháng, trưởng trường giáng 7 tháng, trung trường giáng 5 tháng, hạ trường giáng 3 tháng, các trường hợp khác đều như thế mà suy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">2</thr:total></item><item><title>Vì sao có tục mũ gai đai chuối và chống gậy?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/10/v-sao-c-tc-m-gai-ai-chui-v-chng-gy.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 2 Oct 2008 14:04:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-8530903178530733114</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Tục đội mũ rơm quấn thật to quanh đầu, thắt lưng bằng dây gai, dây chuối ngày nay đã lỗi thời, nhiều nơi đã bãi bỏ, còn tục chống gậy chỉ áp dụng đối với con trai tang cha (gậy tre) tang mẹ (gậy vông),vẫn còn ở nhiều địa phương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên do: Đời xưa, đường đi lại còn hẹp, có khi còn phải leo núi cao, người mất dược chôn cất ở nơi xa khu dân cư, trong rừng núi, có nơi chôn ở triền núi đá có nhiều hang động. Đã có trường hợp, người con vì quá thương xót cha mẹ, khóc lóc thảm thiết, đến nỗi không kể gì đến sinh mạng của mình, đập đầu vào vách đá, khi leo núi đi về vì thương cảm quá mất cả thăng bằng ngã lăn xuống vực. Để tráng tình trạng trùng tang thảm hại đó, người ta mới đặt ra lệ phải quấn quanh đầu những vật liệu mềm, xốp để nếu va vấp đỡ gây tổn thương và đặt ra lệ phải chống gậy để đi đứng an toàn hơn. Vật liệu dễ kiếm nhất, giàu nghèo ai cũng có thể tự liệu được và ở đâu cũng có thể kiếm được để làm chất đệm, đó là rơm, lá chuối, dây gai, dây đay. Xuất phát từ kinh nghiệm thực tế của một số người, dần dần trở thành phong tục phổ biến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì ngày thường đi lao động ở đồng ruộng, núi rừng hoặc đi đứng đều mặc quần áo gọn bó vào người, đến khi có tang tế phải mặc áo dài rộng, dễ vướng gai góc nên phải có dây đai, tục đó cũng xuất xứ từ việc tránh nạn trùng tang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Cư tang là gì ?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/c-tang-l-g.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sat, 20 Sep 2008 08:41:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-5093676189055182549</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Thời xưa, dẫu làm quan đến chức gì, theo phép nước, hễ cha mẹ mất đều phải về cư tang 3 năm trừ trường hợp đang bận việc quân nơi biên ải hay đi sứ nước ngoài. Lệ này không quy định đối với binh lính và nha lại. Nếu ai vì tham quyền cố vị, giấu diếm không tâu báo để về cư tang, bị đàn hặc vì tội bất hiếu, sẽ bị triều đình sử phạt biếm truất. Trong thời gian cư tang, lệnh vua không đến cửa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ba năm cư tang là ba năm chịu đựng gian khổ, nhẫn nhục, không dự mọi cuộc vui, không dự lễ cưới, lễ mừng, không uống rượu (ngoài chén rượu cúng cha mẹ), không nghe nhạc vui, không ngủ với vợ hoặc nàng hầu, trừ trường hợp chưa có con trai để nối dõi tông đường, ngoài ra ai sinh con trong thời kỳ này cũng bị coi là bất hiếu. Không được mặc gấm vóc, nhung lụa, không đội mũ đi hia, thường đi chân không, cùng lắm chỉ đi guốc mộc hoặc giày cỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dầu làm đến tể tướng trong triều, khi khách đến viếng cha mẹ mình, bất kể sang hay hèn cũng phải cung kính chào mời và lạy tạ (hai lạy hay ba vái dài). Khi ra đường, không sinh sự với bắt cứ người nào. ở trong nhà, đối với kể ăn người ở cũng không được to tiếng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ba năm sầu muộn, tự nghiêm khắc với chính mình, rộng lượng với kẻ dưới, cung kính với khách bạn, để tỏ lòng thành kính với cha mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời nay không còn lệ cư tang, nhất là các cán bộ chủ chốt càng không có điều kiện nghỉ việc thời gian dài, nhưng biết qua lệ cư tang của ông cha ta ngày xưa, hậu sinh có thể học được điều gì trong thái độ ứng xử?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Chúc thư là gì?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/chc-th-l-g.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 18 Sep 2008 08:38:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-8636604155038970433</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;"Chúc" là lời dặn dò, phó thác. "Chúc thư" hay "Di chúc" là lời dặn dò của người chủ gia đình, người lãnh đạo đất nước trước khi mất. Chúc thư, di chúc viết thành văn bản có giá trị hành chính, pháp lý. Nếu không biết chữ, hoặc yếu quá không viết được nữa thì nhờ người khác viết, đọc lại cho nghe rồi ký tên hoặc điểm chỉ vào dưới. Di chúc của nhà vua thì gọi là di chiếu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nội dung chính của chúc thư thường là việc chia gia tài. Nhà có bao nhiêu ruộng đất, nhà cửa, chia cho con trai con gái, ai được hưởng khoảnh nào, mấy mẫu, mấy sào ở đâu, còn lại bao nhiêu dành cho mẹ làm của dưỡng lão, giao người nào chăm nom. Nếu còn bao nhiêu nợ làng, nợ họ cũng giao phó cho con nào phải đòi, phải trả. Quy định giành bao nhiêu làm ruộng hương hỏa, giao cho con trưởng hoặc cháu đích tôn. Di chiếu của nhà vua giao cho ai là đại thần có mệnh phò thái tử lên ngôi. Nếu ngôi thái tử chưa định thì chuyền chỉ cho hoàng tử nào nối ngôi...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời nay, nam nữ bình quyền, nếu cha mất trước đã có mẹ nắm toàn bộ quyền hành. Thời trước, người mẹ, người vợ sau 3 năm tang chồng nếu muốn tái giá thì đi tay không, nếu ở lại nuôi con cũng không được nắm toàn quyền, còn phải lệ thuộc các ông chú, ông bác trong họ. Nếu còn có nợ thì phải trả hết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế nên, có những gia đình giàu có nhưng vô phúc, bạc đức: Cha mẹ nằm xuống anh em đùn đẩy nhau, chưa lo việc chôn cất, chỉ chăm chú tranh giành tài sản, để thiên hạ xỉ vả. Vì vậy, khi còn khoẻ, các cụ đã phải lo xa: Chia gia tài trước, định trách nhiệm sẵn, mua sắm bộ hậu sự (áo quan) có người còn dặn trước cả việc chôn cất, tang chế, cỗ bàn, đình đám..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Trích di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh :&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;"&lt;span style="font-style: italic;"&gt;...Suốt đời tôi hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân...&lt;/span&gt;"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Di chúc của Tam nguyên Yên Đổ:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;"Kém hai tuổi xuân đầy chín chục&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Số thầy sinh phải lúc dương cùng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Đức thày đã mỏng mòng mong&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Học chẳng có rằng hay chi cả&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Cưỡi đầu người kể đã ba phen&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tuổi là tuổi của gia tiên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;ấy thủa trước ông mày chẳng đỗ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Hoá bây giờ cho bố làm nên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Ơn vua chửa chút báo đền&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Cúi trông hổ đất, ngửng lên thẹn trời&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Sống không để tiếng đời ca thán&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Chết được về quê quán hương thôn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Mới hay trăm sự vưông tròn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Sống lâu đã trải chết chôn chờ gì?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Đồ khâm niệm chớ nề xấu tốt&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Kín chân tay đầu gót thời thôi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Cỗ đừng to lắm con ơi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Hễ ai chạy lại con mời người ăn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tế đừng có viết văn mà đọc&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Trướng đối đừng gấm vóc làm chi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Minh tinh con cũng bỏ đi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Mời quan đề chủ con thì không nên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Môn sinh chớ bỏ tiền đạt giấy&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Bạn của thầy cũng vậy mà thôi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Khách quen chớ viết thiếp mời&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Chẳng qua nợ để cho người sống&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Chết đi rồi còn ngóng vào đâu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Lại mang cái tiếng to đầu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Khi nay bày biện, khi sau chê bàn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Cờ biến của vua ban ngày trước&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Khi đưa thày con rước đầu tiên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Lại thuê một lũ phường kèn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Việc tống táng nhung nhăng qua quýt&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Cúng cho thầy một chút rượu hoa&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Đề vào mấy chữ trong bia,&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Rằng: "Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu"&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Ba cha tám mẹ là những ai?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/ba-cha-tm-m-l-nhng-ai.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Tue, 16 Sep 2008 08:36:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-5363363224612699552</guid><description>Theo "Thọ mai gia lễ":&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Ba cha là:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Thân phụ: Cha sinh ra mình.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Kế phụ: Sau khi cha chết, mẹ lấy chồng khác, chồng mới của mẹ là kế phụ hay, bố dượng.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Dưỡng phụ: Bố nuôi.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Tám mẹ là:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;Đích mẫu: Vợ cả của bố.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Kế mẫu: Khi còn nhỏ mẹ đã mất, cha lấy vợ khác để nuôi nấng mình.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Từ mẫu: Mẹ chết từ tấm bé, cha sai người vợ lẽ nuôi mình bú mớm.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Dưỡng mẫu: Mẹ nuôi, cha mẹ nghèo cho mình để người khác nuôi.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Xuất mẫu: Là mẹ sinh ra mình nhưng bị cha ruồng rẫy.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Giá mẫu: là mẹ sinh ra mình, nhưng khi cha mất thì đi lấy chồng khác.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Thứ mẫu: Là mẹ sinh ra mình nhưng là vợ lẽ của cha.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhũ mẫu: Mẹ vú, cho mình bú mớm từ khi còn tấm bé.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;Trên đây là định nghĩa theo "Thọ mai gia lễ", chưa nói đến những người đã lấy vợ lấy chồng thì cha mẹ vợ, cha mẹ chồng cũng như cha mẹ mình. Vậy thì, còn ba loại nhạc phụ và tám loại nhạc mẫu. Tất cả phải 6 cha,16 mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">1</thr:total></item><item><title>Thọ mai gia lễ là gia lễ nước ta hay Trung Quốc</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/th-mai-gia-l-l-gia-l-nc-ta-hay-trung.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sun, 14 Sep 2008 08:35:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-7140777491450899012</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;"Thọ mai gia lễ" là gia lễ nước ta, có dựa theo Chu Công gia lễ tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc nhưng không rập khuôn theo Tầu. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn phổ biến áp dụng, nhất là tang lễ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác giả của "Thọ mai gia lễ" là Hồ Sỹ Tân (1690-1760) hiệu Thọ Mai người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, đậu Tiến sĩ năm 1721 (năm thứ 2 triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "Thọ mai gia lễ" có trích dẫn một phần của Hồ Thượng thư gia lễ. Hồ Thượng thư tức Hồ Sỹ Dương (1621-1681) cũng người làng Hoàn Hậu, đậu tiến sĩ năm 1652 tức năm thứ 4 triều Khánh Đức, Thượng thư bộ Hình, tước Duệ Quận công.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Gia phả hoàn chỉnh có những mục gì?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/gia-ph-hon-chnh-c-nhng-mc-g.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sat, 13 Sep 2008 08:32:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-2321917856741176437</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương có ghi rõ tên người sao lục, biên soạn thuộc đời thứ mấy, năm nào, triều vua nào, căn cứ vào bản nào, tên người tục biên qua các đời cũng có cước chú rõ ràng. Đầu gia phả có lời tựa ghi được nguồn gốc xuất xứ của thủy tổ có cứ liệu thành văn hay truyền ngôn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mở đầu là thuỷ tổ, lần lượt đến tiên tổ các đời, nối dòng đến lớp con cháu mới sinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với tiền nhân có các mục sau đây:&lt;br /&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường theo tập quán địa phương? Thuộc đời thứ mấy?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Con trai thứ mấy của ông nào? Bà nào?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Ngày tháng năm sinh (có người còn ghi được cả giờ sinh).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Ngày, tháng, năm mất? Thọ bao nhiêu tuổi?&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Mộ táng tại đâu? (có người ghi được cả nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Vào tháng, năm nào?).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất: Thi đậu học vị gì? Khoa nào? Triều vua nào? Nhận chức vị gì? năm nào? Được ban khen và hưởng tước lộc gì? Sau khi mất được truy phong chức gì? Tước gì? (Đối với những vị hiển đạt thì mục này rất dài. Ví dụ trong Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả, chỉ riêng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, mục này đã trên mười trang)&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Vợ: Chánh thất, kế thất, thứ thất...&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Họ tên, con gái thứ mấy của ông nào, bà nào? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: Con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng...&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết khai thác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những nội dung ghi trên chỉ có tính chất gợi ý với các bậc huynh trưởng các họ, đang chăm lo công việc phổ biến và tục biên gia phả dành cho con cháu đời sau. Còn phần trên gia phả hoàn chỉnh hay sơ sài, các cụ còn giành lại cho ta được bao nhiêu biết bấy nhiêu, ai dám sáng tác thêm? Tuy nhiên, nếu tìm được quốc sử, hoặc trong gia phả, thần phả khác những tư liệu liên quan thì có thể cước chú kỹ, giúp đời sau thêm sáng tỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Gia phả là gia bảo có đúng không?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/gia-ph-l-gia-bo-c-ng-khng.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sat, 6 Sep 2008 04:42:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-2786132392729694365</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Đúng và rất đúng với những người có ý thức tôn kính tổ tiên và quý trọng tình cảm họ hàng gia tộc. Gia phả là lịch sử của một dòng họ, một gia đình lớn. Thiết tưởng không cần phải nói nhiều về ý nghĩa mà mỗi cuốn gia phả của từng dòng họ đều đã nói rõ trong từng lời tựa. Đành rằng cái ăn, cái mặc để nuôi sống gia đình và bản thân là việc hàng đầu. Nhưng có thấy nỗi day dứt của những người có tâm huyết muốn truyền cho con cháu biết đời cha mình do ai sinh ra, từ đâu đến, tổ tiên công đức ra sao, ngặt vì gia phả đã mất; có thấy được nỗi niềm của những người trú ngụ ở phương xa không được cha ông truyền cho biết gốc gác của mình từ đâu, họ hàng là ai, khi đó mới thấy đầy đủ ý nghĩa của hai chữ "Gia phả-Gia bảo". Giọt nước rất quý đối với người sống trên sa mạc, còn đối với người sống ven sông, dễ gì mỗi lần "Uống nước" lại phải "Nhớ nguồn".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời trước họ nào cũng có gia phả, có họ từng nhà còn có gia phả. Nếu vì thuỷ, hỏa, đạo tặc để mất vàng bạc- của cải gì thì mất, chứ không để mất gia phả. Ngặt vì gia phả ngày xưa viết bằng chữ Hán, hơn nữa từng chi từng nhà chỉ nối phần trực hệ của chi mình, nhà mình, thảng hoặc mới có một cuốn gia phả ghi đời tiếp nối của chi anh, chi em, đến đời hai đời ba là cùng, do đó nếu một chi mất gia phả thì chi khác không thể bổ cứu. Hiện nay, do mất gia phả nên nhiều họ tuy cùng ở với nhau trong một địa phương vẫn không biết nhau, không nhận được quan hệ họ hàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về một ý nghĩa khác, gia phả sở dĩ gọi là gia bảo vì đó là lịch sử của tổ tiên nhiều đời truyền lại, là điều tổ tiên muốn gửi gắm lại cho đời sau. Bất cứ họ nào, bất cứ con người nào trong họ, có tài năng lỗi lạc đến đâu, cá nhân cũng không thể viết được toàn bộ gia phả mà chỉ có kế thừa đời trước và truyền dẫn đời sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gia phả các họ là các nguồn bổ sung tư liệu rất quý, rất dồi dào cho quốc sử, nếu các nhà sử học biết khai thác cũng có khả năng từ gia bảo trở thành quốc bảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Hợp tự là gì? Tại sao phải hợp tự?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/hp-t-l-g-ti-sao-phi-hp-t.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 4 Sep 2008 03:41:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-6417827795608902267</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hợp tự có nghĩa là : rước các tiên linh các đời vào thờ chung trong cùng một nhà thờ của đại tôn hay của từng tiểu chi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo phong tục cổ truyền: Năm đời tống giỗ, hay "Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ). Thực chất chỉ có bốn đời, tức là làm giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3), cụ ông cụ bà (hay cố 4 đời) và kỵ (hay can 5 đời). Cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả thuỷ tổ, tiên tổ các đời vào chung một nhà thờ mỗi năm tế một lượt. Thần chủ con cúng cha mẹ, đề là Hiền khảo, Hiền tỷ, đến khi người con trưởng chết, cháu đích tôn cúng ông bà, đối thần chủ là Hiền tổ khảo, Hiền tổ tỷ, đến lượt cháu trưởng mất, chắt trưởng tiếp tục thờ cụ là Hiền Tằng tổ khảo (hoặc tỷ), chít (chiu) trưởng thờ kỵ là Hiền Cao tổ khảo (hoặc tỷ). Sau năm đời thì rước vào nhà thờ tổ rồi chôn thần chủ đó đi. Trong nhà thờ tổ chỉ để duy nhất có một ngôi thần chủ cao nhất (thuỷ tổ hoặc tiên tổ bậc cao nhất của nhà thờ chi đó) gọi là "Vĩnh thế thần chủ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gộp chung tất cả tiên tổ của nhiều đời lại để tế chung thay cho từng lễ giỗ, đó là hình thức hợp tự cổ truyền. Song trong phong tục đó còn có nhiều điều bất tiện: Chỉ con trưởng, cháu trưởng, chắt trưởng v.v...nối dòng qua nhiều đời mối được thờ ở nhà thờ chính. Vì vậy con , cháu, chắt những ông con thứ qua nhiều đời phải xây nhiều nhà thờ lớp con thứ, lớp cháu thứ, lớp chắt thứ v.v...Nếu cứ thế tiếp tục mãi, thì có nơi số nhà thờ còn nhiều hơn cả số nhà ở của người dương trần. Chính vì lẽ trên, nên hồi đầu thế kỷ 20 đến trước CM Tháng 8-1945 ở nhiều nơi đã có phong trào tiến hành hợp tự vào các nhà thờ họ: Dầu cửa trưởng hay cửa thứ, sau khi mất, hết vòng tang, đều được rước linh vị vào thờ ở nhà thờ chung của họ. Linh vị xếp theo thứ tự trên dưới. Đến ngày giỗ người nào, thì đưa linh vị người đó vào hàng giữa theo thứ bậc, cúng xong lại xếp vào vị trí cũ. Việc hợp tự như vậy: trước là hợp với tâm linh, con cái ở dưới chân cha mẹ, cháu chắt về với tổ tiên, tượng trưng sự đoàn tụ ở cõi âm, sau nữa thuận tiện cho việc chung sức, chung lòng xây dựng nhà thờ, mua sắm tế khí, quanh năm hương khói, gắn bó thêm mối tình ruột thịt trong nội thân. Song cũng có những gia đình, kinh tế dồi đào hơn, lại ở cách xa nhà thờ đi lại bất tiện, nên họ cúng riêng, tiện hơn, không hợp tự. Do đó, ngày nay nên vận động hợp tự, trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Bàn thờ vọng là gì? Cách lập bàn thờ vọng</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/09/bn-th-vng-l-g-cch-lp-bn-th-vng.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Tue, 2 Sep 2008 01:39:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-728423001214604690</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bàn thờ vọng ngày nay khá phổ biến, áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết. Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Vọng bái ", nghĩa là vái lạy từ xa. Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương, nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử. Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự. Các bàn thờ thiết lập như vậy chỉ có tính chất tạm thời, sau đó con cáo quan xin về cư tang ba năm (xem bài Lễ Cư tang). Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng v.v... dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy. Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức. Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ. những đền thờ đó gọi là vọng từ (thí dụ ở số nhà 35 phố Tôn Đức Thắng Hà Nội có "Sùng Sơn vọng từ" nghĩa là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được tập trung trong trường hợp sống xa quê. Những người con thứ, bất cứ giàu nghèo, sang hèn thế nào, nếu ở gần cánh cửa trưởng trên đất tổ phụ lưu lại, thì đến ngày giỗ, ngày tết, con thứ phải có phận sự hoặc góp lễ, hoặc đưa lễ đến nhà thờ hay nhà con truởng làm lễ, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, thì chú hoặc ông chú vẫn phải thờ cúng ông bà tại nhà cửa trưởng. Do đó không có lệ lập bàn thờ vọng đối cửa thứ ngay ở quê nhà. Nếu cửa trưởng khuyết hoặc xa quê, thì người con thứ 2 thế trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ ở nhà người anh cả ở xa quê lại là bàn thờ vọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phong tục rất hay và rất có ý nghĩa. Bởi lẽ chữ Hiếu đi đôi với chữ Đệ. Khi sống cũng như đã mất, ông bà cha mẹ bao giờ cũng mong muốn anh chị em sống hòa thuận, một nhà đầm ấm. Thỉnh vong hồn về cầu cúng lễ bái, mà anh chị em ở gần nhau không sum họp, mỗi người cúng một nơi, thì đó là mầm mống của sự bất hoà, vong hồn làm sao mà thanh thản được.&lt;br /&gt;Cách lập bàn thờ vọng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chưa phải là phong tục cổ truyền, chưa có nghi lễ nhất định, mà chỉ là kinh nghiệm truyền cho nhau khoảng đầu thế kỷ lại nay tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mà vận dụng: Khi bắt đầu lập bàn thờ vọng phải về quê chính báo cáo gia tiên tại bàn thờ chính. Sau đó xin phép chuyển một lư hương phụ hoặc mấy nén hương đang cháy giở mang đến bàn thờ vọng rồi thắp tiếp. Nếu có nhà riêng, tương đối rộng rãi khang trang, thì bàn thờ đặt hẳn một phòng riêng chuyên để thờ cúng cho tôn nghiêm, hoặc kết hợp đặt ở phòng khách, nhưng cao hơn chỗ tiếp khách. Nếu đặt bàn thờ gia thần riêng, thì phải đặt thấp hơn bàn thờ gia thần một ít. Đặt hướng nào? - Hướng về quê chính, để khi người gia trưởng thắp hương vái lạy thuận hướng vái lạy về quê. Thí dụ người quê miền Trung sống ở Hà Nội thì đặt bàn thờ vọng phía Nam căn phòng hay ngoài sân, ngoài hiên. Không nên đặt bàn thờ trong buồng ngủ, trừ trường hợp nhà chật hẹp quá thì phải chịu. Không nên đặt cạnh chỗ uế tạp, hoặc cạnh lối đi. Đối với những gia đình ở khu tập thể nhà tầng, nếu câu nệ quá thì không còn chỗ nào đặt được bàn thờ. Những người sống tập thể, chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/vai-tr-tc-trng-xa-v-nay-khc-nhau-nh-th.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sat, 30 Aug 2008 04:38:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-3048529293435487528</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ngày xưa việc họ là cứ vào tộc trưởng. Họ lớn có tộc trưởng họ lớn; các chi có trưởng chi . Tộc trưởng có quyền lợi, nghĩa vụ rõ ràng. Ruộng hương hoả và tự điền có nhiều thì lễ to, nhà thờ họ lớn, tế khí đầy đủ và ngược lại. Khi vào tế lễ, tộc trưởng đầu còn trẻ tuổi vẫn là chủ tế, các ông chú dẫu cao tuổi vẫn là bồi tế. Nếu nhỏ quá thì một ông chú kế trưởng thay thế, cũng như ông vua trẻ chưa thành niên có phụ chính đại thần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời nay ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn ruộng hương hoả, không còn chế độ thu tô như trước, quyền lợi của tộc trưởng hoặc người thay tộc trưởng, đối với tổ tiên và họ hàng cũng tuỳ thuộc vào nhận thức; tâm tư, trình độ hiểu biết, hoàn cảnh sinh sống của từng người, không có một chế độ quy định nào ràng buộc. Có nhiều họ, tộc trưởng ngụ cư hoặc không thoát ly công tác ở phương xa cũng không giao (hoặc không giao được) việc họ cho ai. Trong hoàn cảnh đó, việc hương khói tế tự tổ tiên và quan hệ họ hàng bị phế khoáng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thể theo nguyện vọng, tâm tư, tình cảm "Uống nước nhớ nguồn", ngày giỗ ngày tết con cháu muốn dâng lên Tổ tiên bát nước, nén hương. Để bổ cứu tình trạng trên nhiều họ đã có sáng kiến thành lập một hội đồng gồm những người có uy tín, nhiệt tình trong họ để chăm lo việc họ. Chưa có một văn bản hay có một tiền lệ nào qui định đó là ban nghi lễ. là hội đồng gia tộc hay hội đồng tộc biểu ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước mắt, họ nào mạnh hay yếu, thành đạt hay suy vi, tình cảm họ hàng gắn bó hay không, tác động tốt xấu tới phong trào chung, còn tuỳ thuộc vào nhiệt tình, khả năng tổ chức lãnh đạo của một số cá nhân, đóng vai trò chủ chốt, chứ chưa có một cơ chế nào bảo đảm sự bền vững lâu dài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời kỳ kháng chiến con cháu tản mác, nhiều họ bị phế khoáng không còn cơ sở vật chất để chăm lo từ đường hương hoả. Từ sau hoà bình, thống nhất đất nước, một số họ được khôi phục nhưng vì " Duy ý chí ", nên phong trào loé lên một thời gian ngắn rồi lụi dần. Không còn ruộng hương hoả của tổ tiên để lại thì con cháu đóng góp tiền gửi vào quỹ tích kiệm để lẫy lai hàng năm mà lo hương khói. Nhưng rồi do trượt giá, một vài yếu tố khách quan nữa tác động, hương khói cũng nguôi dần. Đó là nỗi lòng trăn trở nhất của những con cháu muốn kế tục sự nghiệp cha ông, muốn làm cho anh linh tổ tiên, cha ông, muốn cho dòng họ ngày càng thành đạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Ruộng hương hỏa có ý nghĩa gì?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/rung-hng-ha-c-ngha-g.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Fri, 29 Aug 2008 03:37:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-4481262952357503888</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;"Ruộng hương hoả " là ruộng dành riêng giao cho tộc trưởng lo việc phụng thờ hương khói cho cha ông, tổ tiên. Ruộng hương hoả lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ruộng hương hoả không được chia, không được bán. Luật phong kiến cấm bán ruộng hương hoả. Chừng nào cánh cửa trưởng không còn người nối dõi tông đường hoặc đi biệt xứ xa quê, họ khuyết tộc trưởng thì người con trưởng hoặc đích tôn thừa trọng của cánh hai lên thay, tiếp tục hưởng ruộng hương hoả và lo việc giỗ tết hương khói. Chừng nào toàn bộ con cháu trong họ đều phiêu cư bạt quán ( con gái không được tính đến ) thì người cuối cùng đang hưởng hương hoả nếu có khó khăn đặc biệt làm đơn xin bán, lý trưởng nào làm sai luật lệ trên sẽ bị quan xử phạt, nếu trong họ có người thưa kiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Vì có ruộng hương hỏa nên việc tế tự được duy trì bền vững, dù họ lớn hay bé, thành đạt hay bình thường, dù tộc trưởng giàu hay nghèo, sang hay hèn, già hay trẻ ( có khi mới chỉ là đứa bé con năm bảy tuổi ), việc tế tự vấn uy nghi đông đủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Quan hệ giữa họ hàng và làng xã như thế nào</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/quan-h-gia-h-hng-v-lng-x-nh-th-no.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 28 Aug 2008 13:34:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-2308617696576297058</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Phục hồi việc họ lợi hay hại?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phục hồi việc họ là một cách đúng đắn, vô tư, tức là phát huy được thuần phong mỹ tục. Nếu cán bộ cơ sở biết khéo léo vận dụng đường lối, loại trừ được 3 chiều hướng tiêu cực sau đây thì càng có nhiều dòng họ vững mạnh càng có lợi cho phong trào chung :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Ngăn ngừa một số phần tử lợi dụng tình cảm họ hàng thân thuộc để kéo bè, kéo cánh.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phục hồi việc họ, đồng thời nhân đó phục hồi luôn cả những thủ tục, mê tín dị đoan.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Dựa vào thế có người nhà, người trong họ có chức có quyền để bóp méo luật pháp, làm ăn sai trái.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, nếu tổ chức hội hè đình đám không đúng lúc, đúng chỗ gây lãng phí, nhiều thì giờ và tiền của, ảnh hưởng đến công việc, thời vụ sản xuất, thì nên khéo léo hướng dẫn hạn chế mặt tiêu cực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Họ hàng thành đạt thì làng xã phồn vinh&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước Cách Mạng Tháng Tám, bộ máy hương lý có quyền điều hành những công việc về hành chính, pháp lý, trật tự trị an, còn những việc xây dựng nông thôn, chấn hưng phong hoá như làm đường sá, đào giếng, sửa sang đình chùa, hội hè ... hội đồng hào mục muốn huy động công sức, tiền của của dân phải dựa vào các họ, nên mỗi xã, thôn có một Hội đồng tộc biểu bao gồm những người có vai vế trong các họ. Chỉ những vị đó mới có khả năng vận động con cháu trong các họ ra làng xã làm những việc công ích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phục hồi việc họ, nếu được hướng dẫn đúng đắn sẽ có lợi nhiều mặt đối với phong trào địa phương :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phục hồi luân lý, đạo đức kỷ cương xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Góp phần trong việc giáo dục tư tưởng cha mẹ hiền từ, con trung hiếu, cháu thảo hiền, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Vận dụng kinh nghiệm của các họ thời xưa, có đặt binh điền, học điền, tổ chức lễ họ, hội tương tế. Vận động đặt các giải thưởng cho con cháu trong họ học khỏi, lên lớp, lên cấp, hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nêu cao ý thức tôn trọng người già, thương yêu giúp đỡ người cơ nhỡ, ốm đau, tàn tật ...&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu khéo tổ chức, các họ còn có thể có tủ sách, câu lạc bộ văn hoá ...&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Tạo sao những năm gần đây có phong trao khôi phục việc họ</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/to-sao-nhng-nm-gn-y-c-phong-trao-khi.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sun, 24 Aug 2008 05:34:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-8326311780817774759</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Từ năm 1975 lại nay, nhất là những năm gần đây. Từ Bắc chí Nam đều có phong trào khôi phục việc họ, với nội dung: Diễn dịch, biên soạn, phổ biến gia phả, sửa sang tôn tạo tổ mộ, từ đường tổ chức tế tự, giỗ tổ hàng năm và gắn bó tình cảm gia tộc hơn trước. Đó là một phong trào tự phát, chưa có một văn bản chỉ thị nào của cơ quan trung ương địa phương, hay ngành văn hoá có hướng dẫn khuyễn khích. Vậy nhân tố nào chỉ đạo, thúc đẩy phong trào lan rộng nhanh như vậy ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là quy luật phát triến xã hội khách quan .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời kỳ kháng chiến. Mọi người dân, trên cương vị của mình đều phải dồn toàn bộ tâm sức vào sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc, mọi người khi đó còn phải lo những vấn đề bức xúc nhất : Ăn ở, sống chết ... và những việc không thể đình hoãn được. Sau khi hoà bình, cuộc sống vật chất đã tương đối ổn định thì nhu cầu về đời sống tinh thần văn hoá lại nổi lên. Việc đi lại, thăm viếng nhau trong gia đình họ hàng thân thuộc, việc củng cố, gắn bó mối quân hệ gia tộc, việc thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ từ ngàn xưa đẵ trở thành tâm linh của mọi người. Đây là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống văn hoá và tư tưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dưới bất kỳ xã hội nào, dù xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, tình cảm gia đình vẫn vậy. Tĩnh gia tộc là khái niệm mở rộng của tình gia đình, máu thoảng hơn nước lã. Đó là tình cảm tự nhiên mọi người đều thừa nhận .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì vậy. Khôi phục việc họ là việc làm hợp với tâm tư của số đông nhân dân, một người đề xướng được trăm người hưởng ứng. Đó cũng là thuần phong mỹ tục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Yến lão</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/yn-lo.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Fri, 22 Aug 2008 05:32:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-5993281675341876022</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;"Yến" là tiệc rượu. Nhiều làng có tục yến lão, hàng năm hay hai ba năm một lần, thết tiệc mừng thọ các quan lão. Có thể nói đây là một thịnh điển thời thái bình, không phải là một hủ tục đã gây nên nhiều tệ đoan như tục ngôi thứ hương ẩm. "Sống lâu lên lão làng", tự nhiên có vinh dự tuổi thọ, không phải tranh dành mới có, chẳng phải có tiền mà mua được, có quyền thế mà tạo nên được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi năm cứ đến dịp làng mở hội hoặc ngày đại lễ có định kỳ, các quan lão tụ hội ở chùa hay nơi công quán hay một đương cai, làng đem cờ quạt với phường bát âm đến rước ra đình. Những làng trù phú thường sắm đủ võng lọng rước lão, lão 100 tuổi đi võng điều che bốn lọng xanh, lão 90 tuổi đi võng điều hai lọng xanh, lão 80 tuổi vọng xanh (đòn cong) một lọng, lão 70 võng xanh (đòn ống) một lọng. Trai tráng cầm cờ khiêng võng đều nón dấu áo nẹp. Đám rước rất trọng thể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại đình làng, nơi giữa thiết lập bàn thờ tiên lão, các quan lão ngồi hai gian bên theo thứ bậc tuổi, có làng yến cả lão bà thì gian trái lão ông ngồi, gian bên phải lão bà ngồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuỳ theo lệ làng, có nơi lão 90 tuổi hoặc lớn hơn nữa ngồi một mình chiếu nhất, có nơi chưa đến 60 tuổi đã là bậc cao niên nhất, cũng ngồi một mình chiếu nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tế lão cũng đủ nghi thức như tế thần, ba tuần rượu với văn tế tiên lão, văn chúc thọ quan lão, có ban tư văn hành lễ, phường bát âm tấu nhạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc tế, quan lão ngồi trước những mâm cỗ đặt giữa chiếu, chỉ uống rượu suông không ăn, là thủ ý trang nhã, trịnh trọng đối với dân làng, ngồi chứng kiến cuộc lễ diễn hành và chăm chú nghe văn tế, văn chúc thọ. Những mâm cỗ kia sẽ được mang đến từng nhà biếu các cụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cỗ yến lão thường là rất thịnh hậu cả về phẩm lẫn lượng, có nơi mỗi cỗ hai bánh dày, hai bánh chưng với những món giò, nem và nhiều thứ bánh khác làm rất công phu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiếu nhất, một cụ ngồi thì được biếu cả một cỗ gọi là cỗ một, chiếu nhì, hai cụ ngồi là cỗ đôi thì được biếu mỗi cụ một nửa cỗ, những cỗ dưới là đồng hạng cứ bốn cụ một cỗ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ ngàn xưa, những khi có việc làng, không hề có bóng phụ nữ nơi đình trung. Ngày yến, sự hiện diện của các lão bà đem lại cho dân làng một cảm giác đặc biệt vui vể đầm ấm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỹ tục yến lão là do đạo hiếu mà ra, một đặc tính dân tộc, có ý nghĩa rất trọng hậu, trẻ vui đạo trẻ, già vui tuổi già, trái ngược hẳn với cái thảm cảnh ở mấy nước văn minh cường thịnh cứ đến tuổi già là bị liệt vào hạng người vô dụng, ăn hại xã hội, con cháu ít chăm nom, người đời lạnh nhạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc vãn niên, tóc bạc da mồi, với cuộc sống buồn tẻ nơi thôn dã năm tháng trôi, các cụ hẳn cũng cảm thấy sung sướng đã được cả làng tỏ tình quý trọng, quý trọng rất mực trong cuộc rước đón những buổi yến ẩm, con cháu các cụ thì được hãnh diện là gia đình có phúc mới được tuổi thọ, cho nên nhiều nhà, dù ngèo cũng ráng may sắm cho ông bà đi dự yến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụ thì mũ ni nhung đen, áo vóc đại hồng, cụ thì khăn nhiễu tam giang, giầy văn hài, cụ thì áo đoạn huyền quần lụa bạch, có những cụ nhà bần hàn, quanh năm quần nâu áo vải lúc này cũng quần chúc bâu, áo the thâm, áo láng chéo go, dép mới thay quai... Y phục tuỳ hoàn cảnh mỗi nhà, không có lệ định nào, chỉ trừ màu vàng của nhà vua, quan dân đều không được mặc&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước ngực, dưới vòng dây thao quàng cổ là túi gấm màu lam, màu huyền đựng trầu, thuốc, cối, chày...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đám rước quan lão, y phục màu sắc như vậy với võng lọng cờ quạt, vừa gợi cảm. Những nhà từ mấy đời không hề có ông cha được dự, không khỏi bùi ngùi tiếc thương người đã khuất, không khỏi thèm muốn ước mong cho gia đình đời nay và đời sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="display: block;" id="formatbar_Buttons"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">1</thr:total></item><item><title>Tục khao lão</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/tc-khao-lo.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 21 Aug 2008 15:31:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-284718228057775853</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Có rượu thì ông chống gậy ra.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;(Nguyễn Khuyến)&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Lên lão cũng phải khao. "Khao lão" không khó khăn như khao vị thứ đình trung. Lo đủ lệ là được, có mời  thì mời phe giáp hay thôn xóm khắc đến, vì lên lão là quyền đương nhiên không phải cậu cạnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những nhà giàu có thường nhân dịp bày tiệc mừng thọ tế lễ, ăn uống linh đình. Tế sống cha mẹ, có văn chúc thọ với ban tư văn hành lễ trợ tế. Cha mẹ ngồi phía trong, con trái, gái, dâu, rể, cháu chắt, phân thứ bậc trên dưới đứng hai bên, nam bên trái, nữ bên phải, làm lễ tế ba tuần rượu, có tấu nhạc trọng thể , vui vẻ. Tế sống cha mẹ mỗi lần hai lạy, khác tế thần, tế tổ mỗi lần bốn lạy. ở đất văn vật, bài văn tế chúc thọ thường là cả một công trình bút mực, có khi người trong vùng nô nức đến xem tế và nghe đọc văn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có đám mừng thọ mời bà con họ hàng làng tổng, tiệc tùng hát xướng hai ba bốn ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Phú quý sinh lễ nghĩa", có nhiều nhà làm lễ mừng thọ cha mẹ lên lão 70,80,90 tuổi...Không phải tục lệ bắt buộc, giàu có bày ra thết đãi mời mọi người đến chia vui với mình, đồng thời làm vui lòng cha mẹ, tưởng cũng là một tục hay, có thể khiến cho những kẻ nhẹ tình hiếu thảo, không lo phụng dưỡng cha mẹ cho được tuổi thọ như người, phải lấy làm suy nghĩ và hổ thẹn.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Đạo hiếu là gì? Hiếu theo quan niệm thời xưa khác thời nay như thế nào?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/o-hiu-l-g-hiu-theo-quan-nim-thi-xa-khc.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 21 Aug 2008 15:29:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-286906512584617135</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Các bạn biết chữ Hán thấy rõ: Chữ "Hiếu" là chữ viết tắt của hai chữ "Lão" ở trên (lượt bớt phần dưới) và chữ "Tử" ở dưới. "Hiếu" tức là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đọc bài "Đạo hiếu" của Nhất Thanh (Tr.331 cuốn "Đất lề quê thói"- NXB Đồng Tháp) cùng với một số bài nói về lễ Mừng lão,Yến lão, tôi rất nhất trí và không lặp lại, chỉ xin nói thêm vài lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đạo hiếu xuyên suốt trong mọi phong tục của  nhân dân ta, không thể không nói đến chữ hiếu khi viết về phong tục cổ truyền của ta. Lễ tế, lễ tang, lễ cưới, kể cả sinh đẻ, xây nhà dựng cửa, hội hè đình đám, việc nước, việc làng, thuần phong mỹ tục đã đành  mà trong số những phong tục đã lỗi thời, ngày nay bị xếp vào loại đồi  phong bại tục, ta cũng chắt lọc được một phần tinh hoa của đạo hiếu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Hiếu" là thiên kinh địa  nghĩa, là gốc của mọi đức tính. Ca dao tục ngữ đã nói nhiều, ngay trong bài học vỡ lòng, trong "Luân lý giáo khoa thư" các em đã hiểu: "Công cha như núi Thái  Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"... Những chân lý đó, ai không chấp nhận, song quan niệm về chữ "Hiếu" ngày nay cũng có phần khác thời xưa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi không dám lên mặt dạy đời, chỉ xin thuật lại một buổi tranh luận trong nội bộ gia đình tôi:&lt;br /&gt;Trước hết tôi hỏi" "Hiếu" là gì? Cháu nhanh nhảu trả lời: "Hiếu" là  hiếu với dân, Bác Hồ khuyên" "Trung với nước, hiếu với dân". Đài báo cũng nhắc luôn: " Hiếu với chân, tức là cán bộ phải chăm lo cho dân, đừng ăn hôi lộ, đừng hách dịch với dân".&lt;br /&gt;- "Việc hiếu" là gì?&lt;br /&gt;- "Việc hiếu " là việc ... là việc... là việc cán bộ chăm lo cho nhân dân mà không ăn của đút, không... Đến đây cháu lúng túng. Thằng con út tôi trả lời thay:&lt;br /&gt;- "Việc hiếu" là việc đưa đám  ma, vì hôm trước, đưa đám ma xong, ông hàng xóm đứng lên cảm ơn thân bằng  cố hữu đã giúp gia đình lo xong việc hiếu....&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến đây, được chú em tôi phụ hoạ thêm:&lt;br /&gt;- Cháu nói có lý đấy anh ạ! "Việc hiếu" là việc đối với người chết, cho  nên người ta thường nói "Hiếu", "Hỷ", tức là chỉ việc tang, việc cưới. Nhưng cháu ạ, việc hiếu phải ba năm chứ không phải đưa ma xong là xong đâu ! Đến  như tiến sĩ Lý Trần Quán, một người tận trung  tận hiếu  cuối triều Lê, trước khi chết còn viết đôi câu đối "Tam niên chi hiếu dĩ hoàn. Thập phần chi trung vị tận" (Chữ "Hiếu" 3 năm đã xong, chữ "Trung" mười phần chưa trọn).&lt;br /&gt;- Hiếu đối với người chết, còn đối với người sống thì sao? "Sự tử như sự sinh" kia mà?&lt;br /&gt;- ồ, anh muốn biết con anh có hiếu hay không, xin anh hãy ráng chờ sau khi anh chết sẽ rõ. Ca dao có câu "Khi sống thì chẳng cho ăn. Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi". Thời xưa còn thế nữa là bây giờ. Nhưng anh cũng đừng lo ruồi ăn hết phần, vì thanh niên ngày nay có biết đọc văn nữa đâu mà tế ruồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến đây lại chuyển sang mục tranh cãi giữa tôi và chú em về quan niệm chữ "Hiếu" thời xưa vàc thời nay.&lt;br /&gt;- Thời nay lớp trẻ chẳng biết "Chín chữ cù lao" là cái gì. Công ơn mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn tốn bao nhiêu tâm lực, đến nay chúng nó có lớn mà chẳng có khôn.&lt;br /&gt;- Tôi phàn nàn - Đã thế còn hỗn láo, bướng bỉnh...&lt;br /&gt;- Đó chẳng qua là cái món nợ đồng lần, mình  nuôi con rồi nuôi cháu cũng thế. Lớp trẻ bây giờ nhiều  người nói ngược: "Sinh ra ta, nuôi ta lớn lên, đó là trách nhiệm của các ông bô bà bô". Có đứa còn trách bố mẹ: "Sao người ta ăn sung mặc sướng, được chiều chuộng. Bố mình thì "Khắt khe", "Ky bo' mà còn kể ơn huệ!" - Chú em tôi kể thêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với những ông bố bà mẹ có những đứa con như vậy, quả thật là bất hạnh, song cũng phải khẳng định số người  đó rất ít,  vả lại khi đến tuổi trưởng thành, được tiếp thu sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội và qua khảo nghiệm thực tế của cuộc đời, chúng sẽ thay đổi tính tình. Bố mẹ bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ, nước mắt chảy xuôi là lẽ thường tình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bàn đến câu ca dao: "Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư", rồi "Trứng khôn hơn vịt"... được dịp, con cả tôi xen vào:&lt;br /&gt;- Con xin phép cha mẹ và chú, con cãi cha mẹ không phải trăm phần trăm con hư cả. Nếu cha mẹ nghĩ sai làm sai, con can ngăn thì đó có phải là bất hiếu đâu!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông chú gật gù tán thành:&lt;br /&gt;- Cháu nói có lý. Câu "Con cãi cha mẹ trăm phần con hư" chỉ đúng khi đứa con còn thơ ấu, chứ khi đã trưởng thành có nhiều cô cậu còn khôn hơn cha mẹ. "Con hơn là nhà có phúc" mà ! Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến vùn vụt, tư duy chính trị, kinh tế bây giờ cũng đổi mới mà  cánh già chúng ta thường hay thủ cựu, bảo thủ  cố chấp. Âu cũng là mâu thuẫn giữa hai thế hệ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Theo chú, câu tục ngữ "Có con tội sống, không có con tội chết" có đúng không?&lt;br /&gt;- Đúng thời xưa nhưng không đúng  thời nay. Thời xưa có câu "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nhất). Cha mẹ ông bà tuy đã qua đời nhưng không còn sống trong ta, nếu ta không có con thì sau khi ta chết, ta cũng làm tiêu tan nốt giòng máu của bao đời tổ tiên, ông cha lưu lại. Nhưng còn tội sống thì sao ? Có ít người cho rằng nuôi con chẳng qua chỉ mang thêm tội vạ. Đã vậy sao nhiều người ghét  con lại thương cháu. Có lẽ họ nghĩ rằng chon họ đã không nối được nghiệp cha ông thì hy vọng cháu mình sẽ nối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuốn "Một nghìn lẻ một đêm" một nhà thông thái đã trả lời đám đông: "Nỗi khổ nhất và dai dẳng nhất trên đời là có đứa con hư". Nhưng còn một mặt khác, mà là mặt tích cực và phổ biến "Con khôn nở mặt mẹ cha" "Một con một của", có ai từ. Gặp nhau người ta hỏi thăm nhau: "Mấy trai máy gái rồi ?", chứ có hỏi: "Mấy của rồi ?"đâu. Còn như câu "Trẻ cậy cha, già cậy con" ngày nay liện còn đúng không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân nhắc đến những gương hiếu kính thời xưa được nhà vua ban biển vàng như thời vua Lê Huyền Tông cách đây gần ba trăm năm (1663-1671), ban biển đỏ với  bốn chữ vàng "Hiếu hạnh khả phong" như thời vua Hàm Nghi cách đây hơn một trăm năm (1885-1888) chú em tôi thắc mắc có tính chất gợi ý: "Thời nay thiếu gì gương hiếu kinh sao từ trung ương đến địa phương chưa thấy có hình thức khen thưởng biểu dương gì ?. Trong quyển "Nhị thập tứ hiếu" có Lục Tích người quận Cửu Chân mới 6 tuổi đến nhà họ Viên ăn tiệc xong dấu quả quýt mang về cho mẹ Quận Cửu Chân là đất Thanh Hoá ngày nay. Lục Tích cũng được liệt trong số "Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu", sao trong sử sách ta, không thấy nói đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông chú vừa dứt lời, cậu con trai thứ của tôi xen ngay :&lt;br /&gt;- Tưởng ai nổi danh, chứ như Lục Tích giấy quýt về cho mẹ cũng đưa vào sử sách, thì ở nước ta giấy mực đâu mà thống kê cho hết, ở một vùng cũng đến hàng ngày hàng vận người. Ngay như cháu đây, lúc nhỏ cùng đi ăn giỗ với chú ở nhà thờ họ, hẳn chí còn nhớ, lúc đó cháu mới bốn, năm tuổi, cháu còn nhớ chú xé sẵn cho cháu một tài lá chuối trước khi ăn cỗ, thế rồi phần giò, phần nêm, chả, xôi, hoa quả của cháu, cháu đều gói cả lại mang về phần mẹ, phần em, mặc dầu cháu rất thèm, cháu hơn hẳn Lục Tích chứ chú!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe con nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi nhoẻn miệng cười gật đầu tán thưởng. Tôi liếc thấy vợ tôi còn rơm rớm nước mắt vì cảm động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cậu con thứ của tôi, bỗng quay lại phía chú, đột ngột hỏi:&lt;br /&gt;- Vua ban bằng 'Hiếu hạnh" gì gì đó có đúng đối tượng không chú ? Hay lại nghe dưới  tâu báo lên, chỉ phong cho bọn lắm tiền, khéo nịnh, để được ăn khao cho to ? Chú ạ, ngày xưa các cụ ngốc lắm" "Đức Đại thánh họ Ngu vua Thuấn" thì đúng là không khôn: hiếu với cha mẹ đã đành một nhẽ, chứ với mụ gì ghẻ cay nghiệt như kiểu mẹ con Cám, gặp phải cháu thì ăn đám chứ đừng hòng "Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt". Đời nhà ai, có người chôn con nuôi mẹ như Hán Quách Cự mà cũng được "Thơm nghìn muôn thu". Đáng lý ra triều đình phải ngiêm trị tội giết người, hơn nữa lại là tội giết hại trẻ con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối cùng chú em tôi quay sang hỏi tôi:&lt;br /&gt;- Theo ý anh, thế nào là "Có hiếu", thế nào là "Bất hiếu". Giữa hai đứa con, anh chọn đứa nào, một như cháu đây: Con nhà nghèo, mới 4, 5 tuổi đã biết giành phần ngon về biếu mẹ, một là đưa giàu sang, không đúng ngày giỗ cha cũng lấy cớ bịa ra ngày giỗ, cỗ bàn linh đình để khoản đãi, cầu cạnh những kẻ cao sang, lmà ra vẻ người con chí hiếu, trong khi đó thì hắt hủi người mẹ quê mùa, lam lũ nghèo hèn như trong chuyện "Báo hiếu cha" của Nguyễn Công Hoan. Thế nào, giữa "Lục Tích nhà ta" mặc dầu có lúc còn hỗn láo bướng bỉnh và nhân vật "Chủ hãng ô tô con cọp" của Nguyễn Công Hoan, anh chọn đứa nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dường như để tránh dung dưỡng cho những điều không phải, chú em tôi quay lại, nhỏ nhẹ bảo cháu:&lt;br /&gt;- Cháu ạ, cháu có thể tranh luận với cha mẹ nhưng phải lễ độ, từ tốn, phải biết lựa lời, chọn lúc, tuyệt đối không được có thái độ nóng nảy, cáu gắt, hỗn láo, nhất là khi có khách, khi ra đường, giữa  công chúng, hoặc trước mặt vợ con, đừng để ông bà trên bàn thờ quở mắng bố mẹ cháu rằng không biết dạy con; đừng để vợ con cháu, em út cháu khinh nhờn bố mẹ cháu, tất nhiên cũng  khinh nhờn cả cháu. Sau này cháu sẽ rõ: có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ nãy đến giờ nhà tôi chỉ ngồi nghe, bây giờ mới lên tiếng: "Nghe cha con, chú cháu nhà ông nói thì ai cũng  có lý "!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin mượn câu đó làm câu kết cho bài này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">17</thr:total></item><item><title>Vì sao có tục bán mở hàng ? Bán mở hàng thế nào cho đắt khách ?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/v-sao-c-tc-bn-m-hng-bn-m-hng-th-no-cho.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Thu, 14 Aug 2008 08:12:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-1308552962808282478</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trong phong tục ngày Tết, chúng tôi đã trình bày: đầu năm ai cũng muốn vận hội hanh thông, làm ăn suôi sẻ, làm quan có ngày khai ấn, kẻ sĩ có ngày khai bút, nhà nông có ngày khai canh, làm thợ có ngày khai công, người làm nghề buôn bán có ngày mở hàng. Theo tâm lý chung mọi việc khởi đầu đều khó khăn, mà "Đầu đi thì đuôi lọt!". Riêng trong nghề buôn bán lại càng bấp bênh, có ngày mua may bán đắt, có ngày ngồi suốt buổi chẳng ai ngó tới, có tháng lời lãi nhiều, lợi lộc lớn, có tháng thua lỗ mất cả chì lẫn chài, vì vậy không những chọn ngày mở hàng đầu năm, mà cả đầu tháng, đầu tuần, từng ngày còn phải để ý đến chuyện mở hàng: mở hàng vào lúc nào ? Bán cho ai "Nhẹ vía" để cả ngày bán đắt hàng?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thông thường muốn được đông khách đến mua thì thái độ người bán hàng phải niềm nở, vồn vã, ân cần, bán nới giá hơn bình thường để cầu được đông khách và giữ được chữ Tín đứng hàng đầu. Song có người lại tưởng nhầm bán mở hàng phải bán cho đắt, người mua mặc cả chê đắt không mua bỏ đi, rốt cuộc ngồi lì suốt buổi không ai hỏi đến, thậm chí còn có  thái độ và ma thuật bỉ ổi cho là tại người mở hàng nặng vía, chửi rủa ngầm và "Đốt vía" người mở hàng. Người bán hàng như vậy không biết rằng: chính mình là người nặng vía nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày trước người ta muốn đi chợ sớm để được mau mở hàng có giá rẻ hơn chút ít, nhưng ngày nay nhiều người ngại mở hàng vì sợ vướng phải hạng người không biết mình bán hàng nặng vía lại đòi "Đốt vía" người mua mở hàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến đây ta có thể kết luận được: Bán mở hàng nên bán đắt hơn hay rẻ hơn giá bình thường ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyện vui:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Mở hàng nhẹ vía " hay "Nợ như Chúa Chổm"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Nợ như Chúa Chổm". Đó là thành ngữ phổ biến để chỉ người lắm nợ. Nhưng tại sao Chúa Chổm lại lắm nợ như vậy ? Truyền thuyết kể rằng: "Chổm" là hàng cùng dân ở miền Thanh Hoá, chẳng có gia tài điền sản hay nghề ngổng gì, quanh năm chỉ có đánh dậm, mò cua, bắt ốc nuôi thân. "Chổm" tên thật là gì, quê quán ở đâu, bà con họ hàng thân thích có những ai ? Chẳng ai để ý đến. Một con người "Tứ như Chúa Chổm" được. Nguyên do: có mấy lần sáng sớm, Chổm vào một quán nhỏ ăn lót dạ, tự nhiên những hôm dó chủ quán bán rất đắt hàng. Vì vậy, một đồn mười, mười đồn trăm, các chủ quán ai gặp Chổm, cũng có nài Chổm vào ăn quà lấy may. Ai được Chổm hôm nào chiếu cố vào ăn thì hôm ấy đều bán được đắt hàng. Nhưng Chổm làm gì có nhiều tiền để trả, người ta vui lòng mời Chổm ăn, bao giờ có tiền trả cũng được, mà không có cũng thôi, do đó trong khắp vùng không ai mắc nợ nhiều bằng Chổm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi của vua Lê Cung Hoàng, dựng nên nhà Mạc. Đến nay 1532 Nguyễn Kim khởi nghĩa phò Lê chống Mạc, đi tìm hậu duệ tôn của vua Lê, tìm được Chổm, mặc dầu khố rách áo ôm, nhưng có khí tướng đế vương (người ta còn đồn đại rằng: Chổm đi đâu cũng có đám mây che trên đầu, trời đang nắng gắt cũng trở nên dâm mát...) Chổm được phò lên ngôi vua mở đầu thời Lê Trung Hưng đóng đô ở Thanh Hoá (tức Tây đô) để chống với nhà Mạc ở Hà Nội (tức Đông đô).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi lên làm vua, không có điều kiện gần gũi quần chúng như trước, và cũng không nhớ nợ ai bao nhiêu mà trang trải nợ nần nữa, Chúa Chổm (thực ra là Vua Chổm) đành phải hạ lệnh đúc thật nhiều tiền, rồi Chổm đi đến đâu rải tiền ra đến đấy, cho công chúng ai nhanh tay, mạnh bước thì nhặt lấy. Vì thế nên mới có thành ngữ "Nợ như Chúa Chổm".&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">2</thr:total></item><item><title>Mầu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/mu-sc-vi-truyn-thng-vn-ha-dn-tc.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Wed, 13 Aug 2008 08:11:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-4637237823541679008</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ở mỗi dân tộc việc vận dụng mầu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phươgn Tây, mầu đen là mầu tang tóc, còn ở Việt Nam và các nước phương Đông thì phổ biến màu tang là mầu trắng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mầu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ mầu vàng là của vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Mầu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Mầu nâu sòng là của cửa Thiền dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như mầu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Mầu xanh là của những người còn theo đòi Cửa Khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bài thơ La-sơn phu-tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;Quân kim bào hốt trung triều sĩ,&lt;br /&gt;Cố ngã lâm tuyền khâm thượng thanh....&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong triều, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). "áo vẫn xanh" tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ "Hát ả đào".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mầu đen, mầu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Mầu xanh nhập nội từ đất nước Trung hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở Việt Nam, từ xưa tới nay, mầu đỏ, màu vàng, màu hồng, dùng trong trướng đối chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, còn trong lễ tang chỉ có thể dùng mầu trắng, mầu xanh, mầu đen, mầu tím.... không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cùng dùng mầu đỏ, mầu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến, nên chẳng cần dùng mầu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xẩy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông ban 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu mầu đỏ thêu 4 chữ vàng "Tiên cảnh nhàn du", có khác gì chúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng Lai. Nguyên "Tiên cảnh nhàn du", (Nghĩa là thanh nhàm dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Tại sao gọi là tóc thề?</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/ti-sao-gi-l-tc-th.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Tue, 12 Aug 2008 08:10:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-5253165944931125485</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Các cô gái cô mái tóc thề trông thêm duyên dáng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóc thề vốn là một vài sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai. Có những bạn trai nghe nói các cô gái có mái tóc thề, tưởng là các cô đã có người yêu, nhưng thực tế nào các cô đã thề thốt cùng ai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên xưa, các đôi trai gái yêu nhau hoặc có những đôi đã nên vợ nên chồng, đang mặn nồng đằm thắm bỗng vì một lý do gì đó làm cho tình duyên dang dở, đôi lứa xa nhau. Họ quyết một lòng, dẫu cho sông cạn đá mòn, năm tháng chờ đợi vẫn một lòng thuỷ chung. Trước khi lưu luyến chia tay, họ cắt trao cho nhau một mớ tóc để ầm tin và luôn giữ trong mình như kỷ vật. Mớ tóc đó gọi là tóc thề. Chỗ tóc bị cắt đó dần mọc lại và dài dần, mái tóc mới mọc đó gọi là tóc thề. Trong chuyện Kiều có câu :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;Tóc thề đã chấm ngang vai&lt;br /&gt;Nào lời non nước, nào lời sắc son&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Có nghĩa là dăm ba năm sau, chỗ tóc bị cắt cụt đã mọc dài chấm ngang vai rồi vẫn chưa thấy bóng dáng người yêu. Nên nhớ, thời xưa con trai cũng để tóc dài, cũng búi tóc, và vì vậy cũng có tóc thề.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">3</thr:total></item><item><title>Xuất xứ của tục nhuộm răng và cách nhuộm răng</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/xut-x-ca-tc-nhum-rng-v-cch-nhum-rng.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Mon, 11 Aug 2008 08:08:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-7654594809751769016</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Tục nhuộm răng là tục cổ xưa của dân tộc Việt, có từ thời các vua Hùng với tục ăn trầu. Sứ thần của nước Văn Lang (giao chỉ) trả lời vua nhà Chu (Trung Quốc) vè tục ăn trầu "Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen...".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khiếu thẩm mỹ của con người cũng tuỳ thuộc theo đặc điểm dân tộc và tuỳ thuộc theo thời đại mà thay đổi. Đối với các dân tộc ở châu Phi hay ấn Độ thì da càng đen càng đẹp. Nước ta ngày nay, chẳng ai nhuộm răng đen nữa, nhưng ngày xưa "bõ công trang điểm má hồng răng đen". Đến như Phan Kế Bính là một nhà trí thức tiến bộ đầu thế kỷ, chủ trương cải tạo phong tục còn có nhận xét: "Đàn ông răng trắng thì chẳng sao, chớ đàn bà nhà tử tế bây giờ mà răng trắng thì coi khí ngộ một đôi chút. Nhưng lâu dần cũng phải quen mắt, có lẽ quen mắt rồi thì trắng lại đẹp hơn đen nhiều".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;    Năm quan mua lấy miệng cười&lt;br /&gt;   Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Tục nhuộm răng đã lỗi thời, nhưng xin giới thiệu cách nhuộm răng cổ truyền của dân tộc ta, để các bạn trẻ được biết: (có thể vận dụng trong ngành mỹ nghệ, kẻ vẽ, nhuộm các chế phẩm bằng xương bằng ngà voi và nhựa).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước hết dùng các cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh để kín 7 ngày, chờ tối đi ngủ phết thuốc ấy vào hai mảnh lá dừa hoặc mo cau rồi ấp vào hai hàm răng. Trong khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thi bôi thuốc răng đen. Thuốc răng đen làm bằng phen đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại, đoạn lấy cái sọ dừa để con dao mà đốt cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng cho không phải ra được nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Trích Phong tục VN của Phan Kế Bính, tr 351).&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">1</thr:total></item><item><title>Miếng trầu là đầu câu chuyện</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/ming-tru-l-u-cu-chuyn.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sun, 10 Aug 2008 08:05:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-7721880989351671064</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không ăn trầu cách mặt nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;    Tiện đây ăn một miếng trầu&lt;br /&gt;   Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;     "Đầu trò tiếp khách" là trầu, ngày xưa ai mà chẳng có, hoạ chăng riêng Tú Xương mới "Bác đến chơi nhà ta với ta"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Quí nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự cũng mời nhau ăn trầu nhưng "cau sáu ra thành mười".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Đặc biệt "trầu là đầu câu chuyện" giao duyên giữa đôi trai gái:&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;"Lân la điếu thuốc miếng trầu, đường ăn ở dễ chiều lòng bạn lứa".&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;     Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh&lt;br /&gt;   Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Mời trầu không ăn thì trách móc nhau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;     Đi đâu cho đổ mồ hôi&lt;br /&gt;   Chiếu trải không ngồi trầu để không ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Thưa rằng bác mẹ tôi răn&lt;br /&gt;   Làm thân con gái chớ ăn trầu người.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;   Khi đã quen hơi bén tiếng, trai gái cũng mượn miếng trầu để tỏ tình, nhất là các chàng trai nhờ miếng trầu mà tán tỉnh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;     Từ ngày ăn phải miếng trầu&lt;br /&gt;   Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Một thương, hai nhớ, ba sầu&lt;br /&gt;   Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;   "Có trầu, có vỏ, không vôi" thì môi không thể nào đỏ được, chẳng khác gì "có chăn, có chiếu không người năm chung".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;     Cho anh một miếng trầu vàng&lt;br /&gt;   Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm.&lt;br /&gt;    &lt;br /&gt;Yêu nhau chẳng lấy được nhau&lt;br /&gt;   Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;   Miếng trầu không đắt đỏ gì "ba đồng một mớ trầu cay" nhưng "miếng trầu nên dâu nhà người".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Ngày nay để răng trắng nhiều người không biết ăn trầu nữa, nhất là ở thành phố, nhưng theo tục lệ nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem cau trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng chẳng ai chối từ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Thời xưa, ăn trầu còn sợ bị bỏ "bùa mê", "bùa yêu" nên người ta có thói quen:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;     Ăn trầu thì mở trầu ra&lt;br /&gt;   Một là thuốc độc hai là mặn vôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;    Các cụ càng già  càng nghiện trầu, nhưng không còn răng nên "đi đâu chỉ những cối cùng chày" (Nguyễn Khuyến). Cối chày giã trầu làm bằng đồng, chỉ bỏ vừa miếng cau, miếng trầu, miếng vỏ nhưng trạm trổ rất công phu, ngày nay không còn thấy có trên thị trường nên các cụ quá phải nhở con cháu nhá hộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Vì trầu cau là "đầu trò tiếp khách" lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng... Nên têm trầu cũng đòi hỏi phải có mỹ thuật, nhất là lễ cưới có trầu têm cánh phượng có cau vỏ trổ hoa, "cau già dao sắc" thì ngon. Bày trầu trên đĩa, hạt cau phải sóng hàng, trầu vào giữa, đĩa trầu bày 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng hai tay. Tế gia tiên thì trầu têm, còn tế lễ thiên thần thì phải 3 là trầu phết một tí vôi trên ngọn lá và 3 quả cau để nguyên .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item><item><title>Đạo thầy trò</title><link>http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/08/o-thy-tr.html</link><author>noreply@blogger.com (Những điều nhỏ bé)</author><pubDate>Sat, 9 Aug 2008 08:04:00 +0700</pubDate><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4737340001484665848.post-995363442068360978</guid><description>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Quan hệ thầy trò nói riêng về mặt phong tục cũng cần có một tập sách rêng. Để trả lời cho những câu hỏi về đạo thầy trò, chúng tôi thiết nghĩ mấy dòng sơ lược thì chưa thể nào nói cho hết được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Dân tộc ta vốn tôn sư trọng đạo, dưới chính thể nào cũng vậy. Vai trò thầy giáo luôn luôn tiêu biểu cho tầng lớp trí thức, tiên tiến được toàn thể xã hội công nhận. Nghề giáo vốn là nghề cao quí nhất. Nền giáo dục thời phong kiến cũng như thời dân chủ đều thống nhất một phương châm "tiên học lễ hậu học văn" "nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội"... Nhân tài phục vụ xã hội, điều hành bộ máy Nhà nước đều được "ông thầy", tức là khuôn mẫu, đào tạo nên, "không thầy đố mày làm nên". Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đều thống nhất dựa vào chế độ thi cử, có học vị, cấp bậc rõ ràng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Vì tất cả những lẽ trên, có người đặt vấn đề: Vậy đặt thầy cao hơn cha có quá đáng không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng mình, thầy giáo là người truyền thụ kiến thức cho mình. Sở dĩ hiển đạt, thi thô được tài năng với đời đều nhờ thầy. Ngày xưa, từ nhỏ đến khi đi thi đậu cử nhân, tiên sĩ thường cũng chỉ học một thầy cùng lắm là vài ba thầy, chứ không như ngày nay mỗi năm một lớp rồi mỗi môn một thầy. Ngày xưa có nhiều trường hợp thầy trò cùng lều chóng đi thi nhưng học tài thi phận , trò đậu thầy hỏng. Có những ông thầy đào tạo được nhiều ông Nghè, ông Cống nhưng bản thân ông thầỳ lại chẳng đậu đạt gì, chẳng nhận quan tước gì, có người thi đậu cũng không ra làm quan mà chỉ tiếp tục dạy học. Có những thầy giáo đạo cao đức trọng được môn sinh nể trọng hơn cha. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu nhất được liệt thờ ở Văn Miếu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Ngày xưa, thầy đồ dạy đỗ được một số học sinh đậu đạt cử nhân, tiến sĩ thì tự nhiên vai vế trong xã hội được nâng lên rõ rệt, quan tỉnh quan huyện cũng phải kính nể, chẳng những đối với thầy giáo mà cả gia đình thầy. Quang Trung ba lần mời Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) ra làm quân sư, chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà, vì Nguyễn Thiếp là thầy giáo của nhiều triều thần Lê Trịnh đương thời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Ngành giáo dục tuy có chế độ thi hương, thi hội, thi đình rất nghiêm rất chặt, song rất ít giáo chức rất ít trường công, ở cấp huyện , cấp phủ chỉ có một vài huấn đạo giáo thụ ăn lương nhà nước, hầu hết là các lớp tư thục. Một nhà khá giả trong vùng nuôi thầy cho con ăn học , xóm làng chung quanh gửi ôn đến thụ giáo không phải nộp học phí, chỉ đến ngày mồng 5 tháng 5 ngày Tết... cha mẹ học trò mới đưa lễ tết đến tết thầy tuỳ tâm. Giàu có thì thúng gạo nếp, bộ quần áo...Nghèo thì một cơi trầu một be rượu cũng xong.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Môn sinh của một thầy thường tổ chức nhau lại gọi là Hội đồng môn, có trưởng tràng, giám tràng và một số cán tràng giúp việc trưởng tràng. Con thầy mặc dầu ít tuổi hơn cũng được gọi là thế huynh. Thầy nào có tiếng dạy giỏi, dạy nghiêm thì được nhiều sĩ tử đến theo học , Hội đồng môn vận động các gia đình môn sinh đóng góp tiền của tạo ruộng, tạo trâu bò rồi phân công cày cấy, đến mùa màng gặt tự gánh về gia đình nhà thầy để gia đình thầy chi dụng. Khi thầy mất lại dùng rụông đó lo tang ma cho thầy, cho vợ thầy và giỗ tết tế tự về sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Học trò để tang thầy cũng ba năm như tang cha mẹ, nhưng không mặc tang phục, gọi là tâm tang tức là để tang trong lòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cụ Thượng Niên về lễ tang vợ thầy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Nguyễn Khắc Niên (1889-1954) người Sơn Hoà, Hương Sơn, Hà Tĩnh đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng Giáp) khoa Đinh Mùi 1907 làm Thượng thư bộ Cải lương hương chính triều  Bảo Đại. Nguyễn Khắc Niên là học trò cụ Nguyễn Duy Dư người Sơn Tiến, một người nổi tiếng hay chữ ở huyện  Hương Sơn, đã được hội Tư văn hàng huyện tôn xưng là "Hương Sơn tứ hổ". Nguyễn Khăc Niên thụ giáo cụ Dư ở cách nhà mình trên 4 km. Đến kỳ thi Hương hai thầy trò cùng lều chõng đi thi, học trò đậu cử nhân, được vào Huế thi Hội đậu luôn Hoàng giáp, thầy chỉ đậu Tú tài. Theo chế độ thi cử thời trước: Cử nhân mới được dự thi Hội, còn  Tú tài thì phải 3 khoa Tú tài mới được thi. Ba năm mới có một khoa, thầy Tú chưa kịp chờ để thi lại khoa sau thì đã từ trần- 1909. Hơn 30 năm sau, bà Tú Dư mất, lúc đó Nguyễn Khăc Niên đã lên đến chức Thượng thu trong triều. Nghe tin vợ thầy học cũ mất, ông đánh xe từ Huế về Hà Tĩnh để phúng viếng. Nhà cách sông và đường quốc lộ, Tri huyện tiếp điện đã lệnh cho Tổng lý địa phương đem kiệu và võng lọng ra tận bờ sông đón rước cụ thượng về quê lễ vợ thầy. Nhà ông bà Tú trên đỉnh đồi Sơn Trại, người trai tráng leo lên cũng cảm thấy mệt, hơn nữa sỏi đá lởm chởm. Nhưng để tỏ lòng cung kính nhớ ơn thầy, cụ thương Niên đã xuống cáng, đi chân đất có hai người lính hầu dìu hai bên, lên tận nhà thầy gần đỉnh đồi . Tất nhiên cụ Thượng thư đã đi chân đất thì từ tuần phủ tri huyện đến tổng lý cũng phải tháo hia hài cắp nách mà leo lên. Người con trưởng cụ Tú và một số gia nân khăn áo chỉnh tề đã xếp hàng đứng ở cổng. Mặc dầu chỉ là dân thường ít hơn một vài tuổi, nhưng con trai cụ Tú cũng được Cụ Thượng Niên vái chào rất cung kính (vì được coi là thế huynh).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Học trò cũ mà thầy lại mất từ lâu, nay về lễ tang vợ thầy, đây là chuyện thực mắt thấy tai nghe, kể lại dẫu có lỗi thời, nhưng cũng hy vọng các bạn đọc chắt lọc được trong phong tục xưa chút hương vị ngọt ngào chăng ?&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;a href="http://nhungdieunhobe.blogspot.com/2008/04/trm-iu-phong-tc-vit-nam.html" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Trăm điều phong tục Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;</description><thr:total xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0">0</thr:total></item></channel></rss>