<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>pro&amp;contra</title>
	<atom:link href="http://www.procontra.asia/?feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://www.procontra.asia</link>
	<description>blog của phạm thị hoài</description>
	<lastBuildDate>Thu, 29 Jan 2026 20:06:29 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.0</generator>
	<item>
		<title>Đom đóm trong rừng nhiệt đới</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6578</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Jan 2026 20:06:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6578</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài “The difference between the almost right word and the right word is really a large matter &#8211; it&#8217;s the difference between the lightning bug and the lightning.” Mark Twain Tiếng Việt, như phần lớn người Việt chính hiệu, nhìn chung là bừa bộn. Ngay cả khi không có gì nhiều để thu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>The difference between the almost right word and the right word is really a large matter &#8211; it&#8217;s the difference between the lightning bug and the lightning.”</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Mark Twain</em></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiếng Việt, như phần lớn người Việt chính hiệu, nhìn chung là bừa bộn. Ngay cả khi không có gì nhiều để thu dọn vẫn luộm thuộm, như thể phải lung tung rối rắm mới phong phú. Nó chỉ tuân thủ một nguyên tắc: miễn hiểu được là được. Thực ra là một nguyên tắc không tồi. Rất cốt yếu, thực tiễn, tiết kiệm nguồn lực, và dành cho những người sống bằng nghề sử dụng nó như tôi một lợi thế khá bền vững trước sự càn quét tàn bạo của trí tuệ nhân tạo, một bộ não khổng lồ vơ vồ mọi kiến thức, vẽ vời cả nhận thức mà không cần ý thức, không cần hiểu gì nhưng cần một trật tự.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiếng Việt dĩ nhiên có một trật tự nào đó mà các chuyên gia ngôn ngữ đủ trường phái và vô số thế hệ cho đến nay đã gắng sức miêu tả. Cứ theo những quy tắc được họ đúc kết thì bạn sẽ chế ra được một thứ tiếng Việt hoặc nhợt nhạt như cớm nắng, thẳng đuỗn như vừa nhập quan, hoặc phức tạp tới mức chẳng ai còn dám đặt một câu giản dị như &#8220;<em>Tôi dạo này con cái đi hết</em>&#8221; hay &#8220;<em>Mày thợ non phụ cứng nước nôi gì</em>&#8220;. Những nỗ lực chuẩn hóa cái trật tự vô tổ chức, thậm chí vô chính phủ đó khiến tiếng Việt ở trường học, trong nghiên cứu xã hội nhân văn, trên truyền thông, trong khu vực hành chính công và đặc biệt trong dịch thuật bắt đầu nghe kẻng xếp hàng, đơ như diễn xuất trong phim Việt và sẵn sàng gia nhập gia đình ngôn ngữ thanh trùng toàn cầu: sạch sẽ, an toàn, vô hồn, không làm phiền máy dịch.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song hết kẻng là đâu lại vào đấy, tiếng Việt trở về nguyên hình. Như rừng nhiệt đới, không đầu mối, không lề lối, ngổn ngang. Thích vào hàng thì vào hàng, thích chen ngang thì chen ngang, thích hiện thì hiện, thích biến thì biến thẳng. Muốn mọc chỗ nào thì mọc, xuôi cũng được, ngược cũng xong. Chữ thì như giò lan, tìm được chỗ đắc địa là treo. Chữ thì làm dây leo, bất chấp luật rừng nào phản đối. Chữ thì nương thân chỗ tối. Chữ thì tua tủa đua ánh mặt trời. Tất cả như chỉ tuân theo bản năng sinh tồn tự động. Câu lại càng lộn xộn, cong queo, thẳng đuỗn, dài dằng dặc, cụt lủn, đều chẳng ra một nề nếp tối thiểu. Ngữ pháp chủ yếu để dọa. Phong ba bão táp gì đó. Chính tả để thách đố. Người Việt vấp tiếng Việt thường xuyên ngã; khách lạ chỉ làm cảnh, quanh quẩn nơi vạt rừng đã phát quang; các chúa sơn lâm chỉ gầm khẩu hiệu giữ gìn sự trong sáng thiêng liêng của thực thể hỗn độn ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đó là chưa kể những khác biệt đầy trầm tích lịch sử và ẩn ức chính trị giữa các vùng miền, tiếng Bắc tiếng Nam kẹp thêm các phiên bản miền Trung ở giữa. Tôi từng ngỡ phở Sài Gòn ngọt do thiếu muối vì nghe người Nam nấu nướng &#8220;<em>bỏ muối</em>&#8220;. Họ cũng viết tiếng Việt &#8220;<em>bỏ dấu</em>&#8220;. Song không phải vì bỏ rơi ít nhất một thanh điệu trên đường Nam tiến, khiến dấu ngã quên mình hi sinh cho dấu hỏi hoặc ngược lại, mà <em>bỏ dấu</em> của miền Nam chính là thêm dấu, tức có dấu, tức <em>không bỏ dấu</em> của miền Bắc, trong khi &#8220;<em>chết bỏ</em>&#8221; của Đàng Trong – <em>đánh lộn chết bỏ, ăn chết bỏ, chơi chết bỏ, làm chết bỏ, yêu chết bỏ</em> &#8211; có thể tương đương về nghĩa nhưng &#8220;<em>đã</em>&#8221; hơn hẳn về cảm xúc so với với &#8220;<em>chết thôi</em>&#8221; của Đàng Ngoài. <em>Chết thôi</em>, <em>chết bỏ</em>, hay <em>chết không bỏ</em> đều chẳng chết ai cả.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đó là chưa kể tiếng Việt hải ngoại. Mỗi thế hệ Việt kiều đem mảnh rừng ngôn ngữ của riêng mình đi trồng ngoài bờ cõi, vừa thờ phụng như bàn thờ Tổ quốc, vừa tất yếu sao nhãng trong cuộc mưu sinh nơi tha hương. Người Việt thuyền nhân ở (Tây) Đức chăm sóc một tiếng Việt khác người Việt di dân mới, đi &#8220;<em>đóng bát</em>&#8220;, tức đi đóng dấu cấp phép cư trú vào <em>passport</em>, ở (Đông) Đức. Khí hậu Paris, thổ nhưỡng Bolsa, thủy văn Úc, địa hình Berlin, các lớp cắt của chiến tranh, lịch sử, chính trị và thời cuộc…, khiến tiếng Việt hải ngoại ít nhiều như một bảo tàng di vật, lật đật giữa những tham vọng và mặc cảm đặc trưng của văn hóa ngoại vi, song trong cái khó cũng ló ra những cơ hội bất ngờ qua giao thoa với các ngôn ngữ khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đó là chưa kể vòng ôm ngạt thở của một ngôn ngữ bá đạo hùng mạnh, tiếng Tàu. Muốn yêu ghét thế nào, người Việt không thể gột di sản đồ sộ của tiếng Hán trong quá khứ và ảnh hưởng sau đó của tiếng Trung, cũng như <em>Truyện Kiều</em> thiên tài là đứa con lai tuyệt đẹp, hình hài và hồn cốt Việt, lớn lên bằng bầu sữa Việt, thụ hưởng sinh khí Việt, mang trọn số phận Việt. Đối lưu ngôn ngữ &#8211; một phần đáng kể có thể là đối lưu cưỡng bức – từ cuộc phối ngẫu màu mỡ ấy đặt tiếng Việt vào một hệ sinh thái hết sức phức tạp, đa dạng, đa nghĩa, đa tầng. Thậm chí đa chiều trong cú pháp, điều hiếm khi xảy ra trong cùng một ngôn ngữ. Trước thống nhất, miền Bắc là <em>Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</em>, miền Nam là <em>Việt Nam Cộng hòa</em>, nghiễm nhiên theo chiều &#8220;ngược&#8221; của tiếng Tàu. Rồi điềm nhiên chuyển &#8220;xuôi&#8221; thành <em>Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam</em> chứ không <em>Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa Cộng hòa</em>. Xuôi cũng được, ngược cũng xong. Miễn là hiểu. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">So với khu rừng nhiệt đới ấy, tiếng Đức, ngôn ngữ thứ hai mà tôi ít nhiều làm chủ, là một khuôn viên dường như ngăn nắp đến từng cọng cỏ. Mark Twain từng khuyên nên kính cẩn xếp tiếng Đức vào nhóm tử ngữ vì chỉ người đã chết mới đủ thời gian học hết các quy tắc và ngoại lệ của nó. Nếu có vinh dự làm quen với tiếng Việt, chắc ông phải ghi nhận rằng chỉ một dân tộc bất tử mới đủ vô lo để không cho ngôn ngữ của mình một quy tắc hay ngoại lệ bất biến. Miễn là hiểu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hiểu kiểu Việt ở cấp độ được ngưỡng mộ nhất trước hết là <em>hiểu ngầm</em> Là ngôn ngữ chúa tể của nghệ thuật <em>nói một hiểu mười</em>, tiếng Việt mặc định một xác suất hiểu ngầm và hiểu nhầm 90%. Trong đời viết tiếng Việt, tôi cũng mặc định cho mình một xác suất 9% từ ngữ chữ nghĩa câu cú văn vẻ chọn đúng, 1% chọn đích đáng, như những tia chớp; 90% còn lại may ra là đom đóm trong rừng nhiệt đới mà thôi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Bài đã đăng trên báo Trẻ số Xuân, tháng 1.2026)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khi em là lưỡi dao</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6563</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Jun 2024 12:54:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Franz Kafka]]></category>
		<category><![CDATA[Milena Jesenká]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6563</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài &#8220;Tiến sĩ Franz Kafka, một nhà văn Đức sống ở Praha, vừa qua đời hôm kia tại viện dưỡng liệu Kierling thuộc Klosterneuburg, ngoại ô Wien. Ít người biết đến ông, bởi ông độc vãng độc lai, một bậc thức giả khiếp sợ thế gian. Ông bị bệnh đường phổi đã nhiều [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">&#8220;Tiến sĩ Franz Kafka, một nhà văn Đức sống ở Praha, vừa qua đời hôm kia tại viện dưỡng liệu Kierling thuộc Klosterneuburg, ngoại ô Wien. Ít người biết đến ông, bởi ông độc vãng độc lai, một bậc thức giả khiếp sợ thế gian. Ông bị bệnh đường phổi đã nhiều năm và có đi điều trị, song lại chủ tâm duy trì và nâng đỡ bệnh bằng tâm trí. Khi trái tim và tâm hồn không còn kham nổi gánh nặng thì lá phổi nhận về phần mình một nửa để chia đều sức chịu tải, như ông từng viết trong một bức thư, và ông đã mang bệnh đúng như vậy. Nó cho ông một hệ giác quan tinh tế đến mức gần như siêu nhiên và một sự tinh luyện trí tuệ khước từ mọi thỏa hiệp đến mức đáng sợ. Với những ác quỷ vô hình, ông, một con người, đã trút lên căn bệnh toàn bộ gánh nặng của nỗi kinh hãi cuộc sống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông là người nhút nhát, e sợ, hiếu hòa và hiền lương, nhưng sách ông viết thì tàn nhẫn và đau đớn. Với ông, thế giới là chốn cư ngụ của một nhân quần giằng xé và hủy diệt con người vô phương kháng cự. Ông quá thấu thị, quá thông tuệ để có thể sống; quá yếu ớt để có thể chiến đấu, như thường thấy ở những con người đẹp đẽ, cao quý; họ không thể đương đầu với nỗi sợ trước những hiểu lầm, bất lương và dối trá trí thức, bởi họ biết trước rằng mình bất lực; và cách mà họ thất bại khiến kẻ chiến thắng phải hổ thẹn. Ông thấu hiểu con người, như chỉ một con người với bộ óc vô cùng mẫn cảm mới có thể thấu hiểu, một con người cô đơn, nhận ra kẻ khác trong một tia chớp mắt, như thể tiên tri. Ông nhận thức thế giới theo một cách sâu thẳm và khác thường, chính ông là một thế giới sâu thẳm và khác thường.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông đã viết những cuốn sách quan trọng bậc nhất của văn học Đức mới, chứa đựng sự vật lộn của cả thế hệ hiện nay trên thế giới, tuy không một lời dụng ý. Đó là những tác phẩm chân thực, trần trụi và đau đớn, ngay cả khi dùng biểu tượng vẫn không thể hiện thực hơn, đượm vẻ giễu cợt khô khốc cùng cái nhìn tinh tường của một con người đã thấu tỏ thế giới này tới mức không còn chịu nổi và chọn cái chết, để tránh phải nhượng bộ, phải trốn chạy vào các kiểu lầm lạc dù sang trọng đến đâu của lý trí hay tiềm thức. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiến sĩ Franz Kafka là tác giả của <em>Người đốt lò</em> (bản dịch tiếng Tiệp đăng trên tạp chí <em>Červen</em> của Neumann), chương mở đầu một tiểu thuyết tuyệt vời còn chưa xuất bản; truyện <em>Phán quyết</em>, về xung đột giữa hai thế hệ; truyện <em>Hóa thân</em>, tác phẩm mạnh mẽ nhất của văn học Đức hiện đại; truyện <em>Ở đảo trừng giới</em> và các đoản văn <em>Trầm tư</em> và <em>Thầy thuốc nông thôn</em>. Bản thảo tiểu thuyết cuối cùng của ông, <em>Vụ án</em>, chờ xuất bản từ nhiều năm, là loại sách mà đọc xong, ấn tượng về một thế giới tuyệt đối khép kín khiến không cần thêm một lời nào nữa. Mọi tác phẩm của ông đều diễn tả nỗi kinh hoàng của những điều không thể lý giải bí ẩn, của tội lỗi ngoài chủ định giữa người với người. Ông, nghệ sĩ và con người, là một lương tri nhạy cảm tới mức vẫn nghe ra một điều gì đó khi những ai khác, ù điếc, chắc mẩm đang an toàn.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">*</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đó là cáo phó đầu tiên, đăng ngày 6/6/1924 trên nhật báo <em>Národní Listy</em> tại Praha, với những từ khóa vẫn dẫn lối cho những ngả đường khó khăn đến với Kafka, 100 năm sau khi ông qua đời ngày 3/6/1924. Tác giả là Milena Jesenká, khi ấy chưa đầy 28 tuổi, bạn tình chủ yếu qua thư của Kafka vỏn vẹn sáu tháng, người tâm giao nhất song cũng vật vã phức tạp nhất trong sáu phụ nữ đã đi qua đời ông. Bà cũng là dịch giả đầu tiên của ông, bản tiếng Tiệp truyện <em>Người đốt lò</em> là bản dịch duy nhất được công bố khi ông còn sống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiến sĩ luật Franz Kafka, viên chức bảo hiểm viết văn trong giờ rảnh, người không muốn lưu lại bất kỳ một dấu vết văn chương nào, nay nằm trọn trong vòng tay ngưỡng mộ khóa chặt của nhân loại, thậm chí thành một minh tinh triệu <em>like</em> trên TikTok. Cả những người chưa từng đọc Kafka cũng biết trích dẫn ẩn dụ nổi tiếng của ông, rằng một cuốn sách phải như chiếc rìu bổ vỡ biển băng đông cứng trong ta. Những người có thể chưa từng yêu cũng nên biết một ẩn dụ Kafka khác: Trong bức thư gửi Milena Jesenká ngày 14/9/1920, ông viết:</p>



<p class="wp-block-paragraph">&#8220;Có lẽ cũng không thực là tình yêu nếu tôi nói, với tôi, em là quý giá nhất; Là tình yêu, khi em là lưỡi dao, để tôi đào xới trong tôi.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">(<em>Auch ist das vielleicht nicht eigentlich Liebe, wenn ich sage, du bist mir das Liebste; Liebe ist, dass du mir das Messer bist, mit dem ich in mir wühle</em>.)</p>



<p class="wp-block-paragraph">© pro&amp;contra 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lạc vào trăng</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6559</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 31 Oct 2023 10:17:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Dịch thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Killers of the Flower Moon]]></category>
		<category><![CDATA[Walter Benjamin]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6559</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Chỉ gồm ba từ khóa, ba danh từ biểu thị những nội dung cụ thể và rõ ràng trong mọi ngôn ngữ: killer, flower, moon – sát thủ, hoa, trăng &#8211; song nhan đề bộ phim mới của Martin Scorsese cũng đang chiếu ở Việt Nam, Killers of the Flower Moon một [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Chỉ gồm ba từ khóa, ba danh từ biểu thị những nội dung cụ thể và rõ ràng trong mọi ngôn ngữ: <em>killer</em>, <em>flower</em>, <em>moon</em> – sát thủ, hoa, trăng &#8211; song nhan đề bộ phim mới của Martin Scorsese cũng đang chiếu ở Việt Nam, <em>Killers of the Flower Moon</em> một lần nữa xác nhận <a href="https://www.textlog.de/benjamin/baudelaire/tableaux-parisiens/aufgabe-des-uebersetzers">ví dụ nổi tiếng của Walter Benjamin</a> về sự bất khả dịch: đều là bánh mì, nhưng <em>pain</em> với người Pháp không giống như <em>Brot</em> với người Đức.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phiên bản tiếng Việt của <em>Killers of the Flower Moon </em>là <em>Vầng trăng máu</em>, hỏng cả về chữ lẫn nghĩa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phần chữ hỏng vì trăng máu hay trăng huyết không liên quan đến máu me giết chóc, tội ác ghê rợn; đó chỉ là tên gọi phổ biến cho hiện tượng mặt trăng chuyển màu đỏ sẫm trong nguyệt thực toàn phần. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phần nghĩa càng hỏng. Ẩn dụ nền tảng cho câu chuyện đau thương của bộ tộc Osage xuất hiện ngay ở đầu cuốn sách cùng tên của nhà báo David Grann, cung cấp bối cảnh cho bộ phim nói trên: Tháng Tư, muôn loài hoa nhỏ nở rộ như một thiên hà công-phét-ti rắc lên vùng đất của thổ dân Osage. Song tháng Năm, chúng bắt đầu bị những thực vật mọc cao hơn trườn lên, đè đầu, cướp nguồn sống là nước và ánh sáng. Chúng gãy cổ, rụng lá và chẳng bao lâu sau bị chôn vùi dưới lòng đất. Vì thế thổ dân Osage cũng gọi tháng Năm, tháng chuyển mùa, vốn là tháng hay mùa trăng của hoa (<em>Flower Moon</em>), là tháng hay mùa trăng diệt hoa (<em>flower-killing moon</em>). Anna Brown, chị gái của Mollie Burkhart, nhân vật chính trong phim, cũng bị giết vào tháng Năm, cũng bị đè đầu, cướp nguồn sống và chôn vùi như những nạn nhân Osage khác, và sát thủ là những người da trắng. Ẩn dụ này không liên quan đến một vầng trăng nào đó, bất kể máu hay không máu. Trăng ở đây là mùa trăng, là thời, là tháng, như chữ “nguyệt” trong tiếng Việt. <em>Killers of the Flower Moon</em> là những kẻ diệt mùa hoa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song không phải chỉ tiếng Việt mới lúng túng. Phần lớn các ngôn ngữ châu Âu giữ nguyên nhan đề tiếng Anh, không dịch. Tiếng Hung một mình một cõi, chọn cách dịch nghĩa:  <em>Megfojtott virágok</em> (Những bông hoa bị bóp nghẹt). Tiếng Nhật cũng giữ nguyên tiếng Anh, chỉ phiên âm kiểu Nhật: <strong>キラーズ・オブ・ザ・フラワームー</strong>ン. Tiếng Hàn có hai phiên bản, phiên âm của <em>Killers of the Flower Moon: </em>킬러스 오브 더 플라워 문, và phiên âm của <em>Flower Killing Moon</em>: 플라워 킬링 문.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Rất may là tiếng Việt không theo tiếng Trung để dịch 花月殺手 (Hoa nguyệt sát thủ) thành <em>Sát thủ trăng hoa</em>. Và không theo ChatGPT. Nó hùng hồn dịch <em>Killers of the Flower Moon</em> là <em>Kẻ sát nhân của hoa mặt trăng</em> hoặc <em>Kẻ sát nhân của mặt trăng hoa</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">10/2023<strong></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phạm Đình Trọng &#8211; Linh Nghiệm của cuộc đời (phần 3)</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6545</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đình Trọng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Apr 2023 10:51:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Linh Nghiệm]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Huy Quang]]></category>
		<category><![CDATA[Vua Lốp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6545</guid>

					<description><![CDATA[6.&#160;Lặng lẽ bên nhau Trần Huy Quang và tôi có nhiều cái cùng khá ngẫu nhiên. Cùng là lính trẻ hăm hở đến với văn chương. Cùng thấy báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam như cung đình văn chương xa vời, cao siêu quá. Cùng dành tình cảm cho tập tạp chí [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>6.&nbsp;Lặng lẽ bên nhau</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trần Huy Quang và tôi có nhiều cái <em>cùng</em> khá ngẫu nhiên. Cùng là lính trẻ hăm hở đến với văn chương. Cùng thấy báo <em>Văn Nghệ</em> của Hội Nhà văn Việt Nam như cung đình văn chương xa vời, cao siêu quá. Cùng dành tình cảm cho tập tạp chí của lính, tạp chí <em>Văn Nghệ Quân Đội</em> từ tên gọi đã vô cùng gần gũi, thân thiết với chúng tôi và truyện ngắn đầu tiên của Quang và tôi cùng được đăng năm 1967 ở tập tạp chí được phát về đến đại đội, được lính chuyền tay nhau.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngoài những tập truyện ngắn do các nhà xuất bản tuyển chọn, đôi lần tôi và Quang cùng có truyện được chọn, cùng có tên trong một tập truyện như tập <em>Lời nguyền thời con gái</em>, NXB Quân đội Nhân dân, phát hành năm 1988 với số lượng mười ngàn cuốn, Quang có truyện ngắn <em>Lời nguyền thời con gái</em>, tôi có truyện ngắn <em>Đi tìm một tín hiệu</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang và tôi còn có hai cái <em>cùn</em>g đáng nhớ. Cùng có giải thưởng trong cuộc thi bút kí năm 1986 – 1987. Quang được giải nhất với Câu chuyện về ông Vua Lốp. Tôi nhận giải nhì với <em>Điểm cao trước mặt</em> về những người lính giữ đất hương hoả của cha ông ở biên giới phía Bắc trong cuộc Chiến tranh Biên giới mười năm 1979 – 1989.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hôm nhận giải thưởng ở hội trường Đài Tiếng nói Việt Nam, nhà 58 phố Quán Sứ, Hà Nội, giữa ồn ào đông vui, rất đông các nhà báo ríu rít gặp nhau, tôi và Quang lặng lẽ ngồi bên nhau ở hàng ghế cuối. Thân thiết, quí mến nhau nhưng cùng không ham nhậu nhẹt, cùng ngại đến chỗ đông người, tôi và Quang ít khi có dịp gặp nhau nhưng khi gặp nhau, chỉ cần nhìn thấy nhau và lặng lẽ bên nhau là đủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhà thơ Trần Nhật Lam, trưởng Ban Văn Nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam đọc tên mười hai người trúng giải thưởng và mời lên nhận giải. Chỉ bảy người có mặt. Tôi lại đứng bên Quang và Quang đứng cạnh Thao Trường, tác giả <em>Gặp lại anh hùng Núp</em>, cũng được giải nhất. Sau này khi viết <em>Mảnh đất lắm người nhiều ma</em>, tiểu thuyết giành giải nhất của giải thưởng hàng năm Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, nhà văn lính Thao Trường lấy lại tên khai sinh là Nguyễn Khắc Trường.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mỗi người trúng giải được nhận một phong bì nhỏ và mỏng. Trong phong bì có tờ giấy mỏng xám vàng, loại giấy <em>pelure</em> của nhà máy giấy nội Lửa Việt và món tiền giải thưởng. Chữ đánh máy trên tờ giấy mỏng xám vàng, ngôn từ và nội dung chỉ là văn thư hành chính nhà nước, một giấy mời chứ không phải tấm bằng công nhận một giải thưởng văn chương và người nhận giải thưởng văn chương được gọi là đồng chí chứ không phải nhà văn, nhà báo:</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ban Tổ chức cuộc thi bút kí. Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam… Hà Nội ngày 23 tháng 6 năm 1987. Kính gửi đồng chí… Ban Tổ chức cuộc thi bút kí do tuần báo <em>Văn Nghệ</em> và Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức từ 1-1-1986 đến 30-4-1987 xin trân trọng thông báo:</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bút kí…&nbsp; của đồng chí đã được Hội đồng Chung khảo quyết định: Tặng giải:… Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào hồi 9 giờ ngày 1-7-1987 tại Đài Tiếng nói Việt Nam, số 58 phố Quán Sứ, Hà Nội. Kính mời đồng chí tới dự.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiếp theo những câu chữ đúng khuôn mẫu văn thư hành chính là dấu son của báo <em>Văn Nghệ</em> và chữ kí của Tổng Biên tập báo <em>Văn Nghệ</em>, nhà văn Đào Vũ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiền giải thưởng cũng rất đạm bạc. Cuộc thi văn chương cấp quốc gia, giải nhất năm trăm ngàn đồng. Giải nhì ba trăm ngàn đồng… Lúc đó ở thị trường một chỉ vàng có giá ba trăm năm mươi ngàn đồng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngày nay sau buổi lễ như vậy, ban tổ chức đều mời người tham dự đi nhà hàng nhưng lúc đó sau hồi vỗ tay trao nhận giải thưởng, ban tổ chức có lời cảm ơn và kết thúc. Phóng viên các báo đến đưa tin lại ríu rít rủ nhau ra bia hơi vỉa hè Cổ Tân. Quang kéo tôi về nhà 56 Bà Triệu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Về Ban Xã hội báo <em>Độc Lập</em>, Quang được báo phân cho nửa gian nhà trên căn gác hai, nhà 56 phố Bà Triệu. Nửa gian kia là của nhà thơ Vân Long ở Ban Văn nghệ của báo. Từ 56 Bà Triệu sang cơ quan báo 59 Lý Thường Kiệt chỉ một đoạn ngắn. Hàng ngày Quang lững thững đi bộ đoạn đường ngắn đó. Đến 58 Quán Sứ cũng chỉ thêm mấy bước chân, Quang cũng đi bộ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang pha trà Thái, mang kẹo cu đơ là đặc sản của mảnh đất Nghệ Tĩnh quê Quang ra mời tôi, còn Quang ngồi ngửa mặt thả khói thuốc lá lên trần nhà. Quang không nghiện thuốc lá nhưng đôi khi vẫn thả nghĩ ngợi theo khói thuốc vào mông lung. Không ham của ngọt, tôi nhấm nháp vị trà Thái và đọc thơ Trần Lê Văn trên trang <em>Văn Nghệ</em> tờ báo nơi Quang làm việc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang và tôi cùng đồng tác giả trong tập sách Kim Đồng. Những truyện đồng thoại, cổ tích tôi viết và đã đăng ở chuyên mục &#8220;Mẹ kể con nghe“ trên báo <em>Phụ Nữ Việt Nam</em> theo đặt hàng của nhà báo Bằng Thương, tôi tập hợp thành tập truyện đồng thoại <em>Sự tích những hòn đảo</em> gửi cho NXB Kim Đồng. Chỉ ít ngày sau một phụ nữ trắng trẻo, mảnh mai đạp xe đến gặp tôi ở cơ quan tôi làm việc. Chị là biên tập viên NXB Kim Đồng, tên Lê Thị Dắt.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chị Dắt nói rằng trình bản thảo <em>Sự tích những hòn đảo</em>, Tổng Biên tập cho ý kiến là bản thảo tốt, mở ra thế giới tâm hồn cho tuổi thơ. Những truyện thần thoại về biển lí giải rất thú vị về những hòn đảo ngoài Biển Đông là một phần máu thịt của đất Mẹ Việt Nam, gieo mầm lòng yêu nước vào tâm hồn tuổi thơ. Nhưng sách hơi mỏng. Tổng Biên tập mách rằng nhà văn Trần Huy Quang cũng có những truyện đồng thoại về núi rừng, về con người. Có thêm truyện đồng thoại thần tiên của Trần Huy Quang tập sách sẽ có hai phần hữu cơ, đầy đủ rừng và biển của đất nước Việt Nam. Tôi liền nhận với chị Dắt việc tập hợp thêm bản thảo của Quang.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang mau mắn đưa cho cho tôi bảy truyện đồng thoại và cổ tích. Tháng Sáu năm 1990, tập truyện cho tuổi thơ <em>Núi chạy</em> của tôi và Quang được NXB Kim Đồng phát hành tám ngàn cuốn. Tôi có hai truyện, mỗi truyện hơn hai ngàn chữ về biển đảo: <em>Đảo chim trắng</em> và <em>Sự tích những hòn đảo</em> <em>ở Biển Đông</em>. Quang có năm truyện, mỗi truyện trên dưới một ngàn chữ về rừng, núi, con người và sự vật: <em>Núi chạy, Sự tích ngày và đêm, Người và Trời, Hổ và mèo là hai anh em, Thanh bảo kiếm</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những truyện đồng thoại thần tiên của Trần Huy Quang và tôi lặng lẽ bên nhau trong tập sách mỏng dành cho tuổi thơ thần tiên như chúng tôi lặng lẽ bên nhau trong thế giới văn chương thần tiên và trong cuộc đời ngắn ngủi.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>7.&nbsp;Không kịp rồi</strong><strong></strong></p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tran-Huy-Quang-va-Pham-Dinh-Trong-tai-Sai-Gon-2015-1024x768.jpg" alt="" class="wp-image-6531" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tran-Huy-Quang-va-Pham-Dinh-Trong-tai-Sai-Gon-2015-1024x768.jpg 1024w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tran-Huy-Quang-va-Pham-Dinh-Trong-tai-Sai-Gon-2015-300x225.jpg 300w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tran-Huy-Quang-va-Pham-Dinh-Trong-tai-Sai-Gon-2015-768x576.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tran-Huy-Quang-va-Pham-Dinh-Trong-tai-Sai-Gon-2015-1536x1152.jpg 1536w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tran-Huy-Quang-va-Pham-Dinh-Trong-tai-Sai-Gon-2015-2048x1536.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Trần Huy Quang và Phạm Đình Trọng tại Sài Gòn, 2015</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối năm 2015 Quang vào Sài Gòn, phôn báo cho tôi biết đang ở chỗ hoạ sĩ Nguyễn Hồng Hưng, quận Mười. Tôi liền phóng xe máy đến đón Quang về nhà tôi. Ngồi với Quang bên chiếc bàn đặt laptop làm việc của tôi trên lầu 25 toà nhà H.A. Goldhouse, tôi đã lập tài khoản facebook cho Quang khi biết Quang chưa có trang báo mạng cá nhân của mình. Tôi chỉ cho Quang việc làm chủ trang facebook và Quang đang thực hiện những thao tác post bài, like, comment, share và làm quen với những từ ngữ status, messenger… thì Nguyễn Hồng Hưng mặt vuông, tóc ngắn, mặc bộ đồ nâu dân dã như một tá điền đến đón Quang đi. Ít tuổi hơn Quang và tôi, Hồng Hưng gọi chúng tôi là huynh. Mộc mạc, dung dị mà tài hoa, Hồng Hưng đã vẽ cho Quang mấy bức chân dung màu tuyệt đẹp. Nét đẹp của thần thái. Nét đẹp của ánh sáng trí tuệ và tài năng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông hoạ sĩ dân Hà Nội nhưng luôn mộc mạc quần nâu, áo vải quê mùa Nguyễn Hồng Hưng đưa ông bạn Trần Huy Quang của tôi đi nhưng ngay tối hôm đó vào FB, tôi nhận được tin nhắn của Quang hẹn sáng mai đến nhà Hồng Hưng đón Quang. Vậy là từ nay tôi và Quang có thêm phương tiện tin nhắn FB để đến với nhau.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xin trích mấy mẩu tin nhắn vui vẻ thời kì đầu Quang có FB và tin nhắn quặn đau cuối cùng của Quang.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngày 10 tháng Bảy, 2016, Quang nhắn: Đọc mấy đoạn hồi kí <em>Lời ai điếu</em> của Lê Phú Khải trên mạng, Q rất muốn có cả tập để đọc một mạch. T gần gũi với Khải kiếm cho Q tập hồi kí của Khải.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cần đọc liền mạch hồi kí của nhà báo, nhà văn Lê Phú Khải, Quang hỏi tôi vì có lần tôi đã dẫn Khải đến ngồi với Quang trên gác nhà 56 Bà Triệu, Hà Nội. Chuyện trò với tôi, Quang thường xưng “mình” nhưng nhắn tin điện thoại, nhắn tin FB, Quang đều xưng tên, Quang và Trọng, hoặc Q và T.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi nhắn lại cho Quang: Nơi xuất bản hồi kí của Khải ở bên Mỹ chưa gửi sách cho Khải. Chỉ có sách in lậu ở Việt Nam từ bản thảo chưa biên tập, nhiều lỗi chính tả và lỗi đánh máy. Sách xuất bản ở Mỹ hơn 700 trang. Sách lậu, in nguyên văn bản thảo nhưng co chữ nhỏ, chỉ hơn 400 trang, chữ nhỏ dày đặc, khó đọc. Anh đọc được sách in lậu thì đợi có người ra Hà Nội, tôi sẽ gửi sách cho anh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang nhắn lại ngay: Ăn xin không dám đòi xôi gấc. Thậm chí cho Q đọc trên email cũng được. T gửi cho Q tập sách in ở VN quá tốt rồi. Đa tạ Trọng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có khởi đầu thì có kết thúc. Không ngờ trang FB Trần Huy Quang lại kết thúc quá sớm, quá đột ngột và quá buồn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngày 3 tháng Mười Hai, năm 2022, tôi nhắn tin xin Quang số điện thoại của một bạn văn. Đọc tin nhắn trả lời của Quang, tôi lặng người khi thấy sau số điện thoại Quang cung cấp cho tôi là dòng chữ: Q bị u phổi rồi, đang điều trị ở bệnh viện. He he đến lúc giã từ vũ khí rồi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">U phổi là bệnh nguy nan nhưng Quang mới bị, phát hiện sớm và sống tích cực, không ngã lòng thì còn chữa trị được. Tôi nhắn tin động viên Quang. Quang nhắn lại: Cảm ơn Trọng. Thọ rồi có tiếc gì đâu. Vẫn vui vẻ. Đáng lí đi du lịch chuyến cho sướng nhưng hiện phải chữa sao nuốt không vào.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang bảo vẫn vui vẻ nhưng lại nhắn cho tôi như một lời lưu luyến từ biệt: Quí mến Trọng lắm. Ít gặp nhưng Trọng là người Q âm thầm kính trọng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dốc lòng ra nói lời tốt đẹp cho nhau là lời li biệt đấy, là Quang buông xuôi rồi. Tôi liền nhớ đến thang thuốc đưa nhà thơ Phan Lữ vượt qua cái chết khi thầy thuốc đã buông xuôi. Có lần từ khá lâu rồi, Phan Lữ kể rằng ở tuổi gần bảy mươi, ông bị ung thư bàng quang. Bệnh viện chữa trị cho ông đã chịu thua, trả ông về nhà chờ chết. Nhờ có người mách cho ông thang thuốc Nam đơn giản mà ông hết bệnh. Nhờ vậy tôi đã được dự lễ mừng thượng thọ tuổi bảy mươi, rồi tuổi tám mươi của ông. Đến nay ở tuổi gần chín mươi, ông vẫn sống khoẻ, vẫn tung tăng Sài Gòn, Quảng Nam, Hà Nội. Tôi lại nhắn tin FB liên lạc với Phan Lữ và nhà thơ đã ghi cho tôi đơn thuốc giúp ông vượt qua bệnh hiểm ung thư. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngày 12 tháng Mười Hai năm 2022 tôi nhắn tin cho Quang: Nhà thơ Phan Lữ cháu Phan Khôi, sinh năm 1937. Năm 2003, ông bị ung thư bàng quang. Bệnh viện đã trả ông về nhà chờ chết. Ông không chết mà sống khoẻ đến nay, nhờ có người mách cho bài thuốc Nam chỉ có hai vị: Bạch hoa xà thiệt thảo 100 g và bán liên chỉ 50 g mua ở cửa hàng thuốc Bắc. Sắc hai lần trong siêu đất. Mỗi lần một lít nước sắc còn nửa lít. Hoà chung nước thuốc hai lần sắc, uống dần trong ngày. Ông Phan Lữ uống thuốc hơn hai tháng, hết bệnh. Ông bảo rằng thực tế cho thấy những người bị ung thư tiền liệt tuyến, đại tràng, gan, phổi, dạ dày đã được chữa lành bằng thang thuốc này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bốn ngày sau, ngày 16 tháng Mười Hai, 2022, tôi nhận được tin nhắn từ nickname Trần Huy Quang nhưng người nhắn tin không phải là Quang và chỉ vẻn vẹn có mấy chữ ngắn ngủi: Bố cháu không kịp uống thuốc rồi! Đúng hôm đó, các báo đồng loạt đưa tin nhà văn Trần Huy Quang qua đời hồi 17 giờ 40 chiều 15.12.2022 ở Hà Nội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bố cháu không kịp uống thuốc rồi và tôi không kịp được gặp Quang thêm một lần nào nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Xem <a href="https://www.procontra.asia/?p=6535">phần 1</a>, <a href="https://www.procontra.asia/?p=6543">phần 2</a>, <a href="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/03.04.2023-Pham-Dinh-Trong-Linh-Nghiem-cua-cuoc-doi.pdf">toàn bài trong bản PDF</a>)</p>



<p class="wp-block-paragraph">© Phạm Đình Trọng và Pro&amp;Contra</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phạm Đình Trọng &#8211; Linh Nghiệm của cuộc đời (phần 2)</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6543</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đình Trọng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Apr 2023 09:33:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Báo Văn Nghệ]]></category>
		<category><![CDATA[Linh Nghiệm]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Huy Quang]]></category>
		<category><![CDATA[Vua Lốp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6543</guid>

					<description><![CDATA[5.&#160;Mảnh vườn sưa ở làng biển Kẻ Mơ Cuối năm khi vòm sấu cổ thụ trong bức tường cạnh cổng toà nhà 17 phố Lý Nam Đế, Hà Nội xào xạc hơi may thì vòm sấu ấy cũng xào xạc trong lòng tôi, gọi tôi về với nỗi nhớ hơi may Hà Nội. Hơn chục [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>5.&nbsp;Mảnh vườn sưa ở làng biển Kẻ Mơ </strong><strong></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối năm khi vòm sấu cổ thụ trong bức tường cạnh cổng toà nhà 17 phố Lý Nam Đế, Hà Nội xào xạc hơi may thì vòm sấu ấy cũng xào xạc trong lòng tôi, gọi tôi về với nỗi nhớ hơi may Hà Nội. Hơn chục năm nay, cuối năm nào từ cái nắng chang chang của Sài Gòn đang giữa mùa khô tôi cũng tìm về Hà Nội đang xao xác hơi may. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi đã có nhiều năm bầu bạn gần gũi với vòm sấu Hà Nội và vòm sấu Hà Nội đã lặng lẽ toả bóng vào hồn tôi. Là lính bảo đảm thông tin chỉ huy cho Bộ Tổng Tư lệnh, tôi đã ở hơn ba năm trong toà nhà Pháp xây từ đầu thế kỉ 20 trong thành cổ Cột cờ Hà Nội. Đường trong thành cổ ra cổng Cửa Đông, một bên hàng xà cừ lực lưỡng có tuổi đời cả trăm năm, một bên có hàng sấu non. Đi trên đường, tán lá sấu ngay trong tầm tay tôi với lên. Ngay trước cổng Cửa Nam thành cổ là hàng sấu trên hè phố Trần Phú, nơi chúng tôi vẫn đi về dưới tán sấu khi ra vào cổng Cửa Nam. Làm báo binh chủng thông tin, tôi đã cùng cơ quan chính trị binh chủng sơ tán đến nhiều nơi trên mảnh đất rợp bóng sấu, bóng xà cừ, bóng cơm nguội, bóng sưa… Những năm tháng sống ở phố Phan Huy Chú, phố Lý Thường Kiệt, ở Kim Mã, ở Hào Nam đã qua lâu nhưng đến nay vòm sấu phố Phan Huy Chú, phố Lý Thường Kiệt vẫn lao xao trong tâm tưởng tôi. Năm 1976, được Tổng cục Chính trị tập trung về lớp nhà văn quân đội ngay sau cuộc chiến tranh Nam Bắc, từ đoàn an dưỡng 235 ở Bình Xuyên, Vĩnh Phú dành cho thương bệnh binh chiến tranh từ mặt trận Tây Nguyên ra, tôi lại trở về Hà Nội. Năm đầu, hơn hai mươi nhà văn lính từ các mặt trận về Hà Nội phải ở trong dân. Tôi cùng Chu Lai từ Đông Nam Bộ ra ở nhà cụ Ban làng Khương Hạ, xã Khương Đình, ngoại thành. Bờ ao cạnh nhà tôi ở cũng có vòm xanh dày dặn và bền bỉ của sấu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Và vòm sấu gắn bó, thân thiết với tôi nhất là vòm sấu bên trong tường bao và cạnh cổng toà nhà 17 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, nơi tôi ở lâu nhất. Đã thuộc, đã nhớ những hàng sấu trên hè phố Hà Nội và cả những cây sấu trong vườn, bên bờ ao ngoại thành, tôi có thể bảo đảm chắc chắn rằng cây sấu thân thiết với tôi nhất nhưng người Hà Nội ít biết đến nhất vì cây ở sau bức tường, sau cổng toà nhà Điện ảnh Quân đội, 17 Lý Nam Đế, là cây sấu vâm váp, sức vóc, gốc đồ sộ, vòm lá sum suê nhất Hà Nội, cây sấu toả bóng bền bỉ nhất trong hồn tôi. Năm nào vòm sấu ấy cũng gọi tôi về với hơi may Hà Nội, với thăm thẳm hồn Hà Nội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Về Hà Nội tôi đều ở khách sạn nhỏ, khuất nẻo, xa trung tâm nhưng gần bến xe buýt và người đầu tiên tôi liên lạc là Trần Huy Quang. Khi tôi lặng lẽ đến Quang, đôi khi gọi điện thoại. Nhắc đến điện thoại, tôi lại phải có thêm đôi dòng. Vì những bài viết thẳng thắn của tôi về hiện thực đất nước và hiện thực trong lòng người đăng trên những trang mạng lề dân, tôi trở thành một trong những nỗi bận tâm giám sát của cơ quan cảnh sát văn hoá. Số điện thoại thường dùng của tôi không còn là sở hữu của riêng tôi và sóng điện thoại tôi phát đi đã chỉ cho nơi giám sát biết sự di chuyển và mối quan hệ xã hội của tôi, gây ra những phiền toái, rắc rối cho tôi nên mỗi cuộc hành trình tôi đều phải thay máy, thay số điện thoại nhưng tôi cũng hạn chế cao nhất việc liên lạc điện thoại. Biết tôi ra Hà Nội, Quang đều lặng lẽ chạy xe máy đến tôi. Lặng lẽ vì biết tôi có tên trong <em>black list</em> của an ninh, bị giám sát trong các mối quan hệ xã hội, Quang không hẹn hò gì, cứ lặng lẽ đến.</p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="768" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Hoang-Quoc-Hai-Pham-Dinh-Trong-Nguyen-Thi-Hong-Tran-Huy-Quang-1024x768.jpg" alt="" class="wp-image-6532" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Hoang-Quoc-Hai-Pham-Dinh-Trong-Nguyen-Thi-Hong-Tran-Huy-Quang-1024x768.jpg 1024w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Hoang-Quoc-Hai-Pham-Dinh-Trong-Nguyen-Thi-Hong-Tran-Huy-Quang-300x225.jpg 300w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Hoang-Quoc-Hai-Pham-Dinh-Trong-Nguyen-Thi-Hong-Tran-Huy-Quang-768x576.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Hoang-Quoc-Hai-Pham-Dinh-Trong-Nguyen-Thi-Hong-Tran-Huy-Quang-1536x1152.jpg 1536w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Hoang-Quoc-Hai-Pham-Dinh-Trong-Nguyen-Thi-Hong-Tran-Huy-Quang-2048x1536.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Từ trái: Hoàng Quốc Hải, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Hồng, Trần Huy Quang</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Có lần Quang chở tôi đến nhà cặp đôi trí tuệ và tài năng, vợ chồng nhà văn Hoàng Quốc Hải và nhà thơ Nguyễn Thị Hồng ở phố Pháo Đài Láng. Những pho tiểu thuyết lịch sử ngàn trang của Hoàng Quốc Hải là những trang sách quí về một triều đại đầy biến động và một thời đại hiển hách, huy hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam. Những vần thơ đằm thắm yêu thương của Nguyễn Thị Hồng “<em>Cuộc đời thì ngắn mà tình ta dài / Làm sao sống được khi mình lẻ loi</em>” là những vần thơ đẹp về tâm hồn rộng lớn yêu thương làm nên sức bền của con người Việt Nam. Đồng cảm với những bài viết của tôi trên mạng xã hội lề dân, anh Hải dành cho tôi sự quan tâm và tình cảm quí mến, ân cần, thân thiết, còn chị Hồng chăm chút cho tôi và Quang được ăn bữa cơm đậm đà hương vị kinh kì Hà Nội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có lần Quang đến chở tôi trên xe máy tà tà lượn vòng quanh Hồ Tây, “bước đi một bước, giây giây lại dừng”, ngắm nhìn sương khói bảng lảng mặt hồ và chụp mấy tấm ảnh. Quang và tôi đã chụp ảnh dưới tán phượng vĩ từ trên cao la đà soi bóng xuống mặt hồ ở Đường Thanh Niên. Chụp ảnh bên gốc cau vua cao vút ven hồ phố Nguyễn Đình Thi. Xế trưa tạt vào nhà hàng nhỏ ở phố Yên Hoa bên hồ, thong thả ăn trưa và lắng lại trong không gian huyền thoại phủ Tây Hồ. Vài năm sau này ở tuổi gần tám mươi, Quang thay xe máy bằng xe buýt. Đi xe buýt đến tôi nhưng lần nào Quang cũng bảo tôi ở Hà Nội cần đi đâu đến lấy xe máy của Quang mà đi. Mạng xe buýt Hà Nội trải rộng khắp, đi lại khá thuận tiện và an toàn, tôi chưa cần đến xe máy của Quang. &nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tháng Mười Hai năm 2018 về Hà Nội, tôi phôn cho Quang thì Quang bảo đang ở quê Kẻ Mơ, Quỳnh Lưu. Quang giục tôi về Kẻ Mơ với Quang. Quang nhắn tin chỉ đường cho tôi: Ra bến xe Nước Ngầm. Lên tầng hai. Tìm bàn bán vé xe Khoa Hoa. Mua vé đi chuyến 1 giờ 30 chiều. Xe chạy về tận cổng nhà Quang luôn. Không tìm thấy bàn bán vé xe Khoa Hoa thì điện thoại cho số 0969811475 sẽ có người mang vé xe đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo chỉ dẫn của Quang, chập tối 22.12.2018, đèn điện đã sáng đường làng Kẻ Mơ, tôi bước xuống ô tô Khoa Hoa thấy Quang đứng trước cổng chờ tôi. Vào nhà nhận ra ngay mùi thơm cá biển. Trên bàn nhỏ, đĩa cá biển rán, tô canh chua cá biển đang bốc hơi, toả ra hương vị hấp dẫn, ấm cúng. Từ hôm ấy, bữa cơm nào của chúng tôi cùng với mùi thơm rượu quê là vị thơm ngon, đậm đà của cá biển do chị gái Quang mang đến. Người chị mà ngày Quang lên đường nhập ngũ, chị khóc, nắm tay Quang và dặn: Cậu ra trận đừng chết nhá, phải sống mà về với chị. Nay chị ngồi trước cửa nhà bên đường làng, bán cá biển.</p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="768" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Duoi-bong-nhan-dau-nha-Tran-Huy-Quang-tai-lang-Ke-Mo-Quynh-Luu-Nghe-An-1024x768.jpg" alt="" class="wp-image-6534" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Duoi-bong-nhan-dau-nha-Tran-Huy-Quang-tai-lang-Ke-Mo-Quynh-Luu-Nghe-An-1024x768.jpg 1024w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Duoi-bong-nhan-dau-nha-Tran-Huy-Quang-tai-lang-Ke-Mo-Quynh-Luu-Nghe-An-300x225.jpg 300w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Duoi-bong-nhan-dau-nha-Tran-Huy-Quang-tai-lang-Ke-Mo-Quynh-Luu-Nghe-An-768x576.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Duoi-bong-nhan-dau-nha-Tran-Huy-Quang-tai-lang-Ke-Mo-Quynh-Luu-Nghe-An-1536x1152.jpg 1536w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Duoi-bong-nhan-dau-nha-Tran-Huy-Quang-tai-lang-Ke-Mo-Quynh-Luu-Nghe-An-2048x1536.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Dưới bóng nhãn đầu nhà Trần Huy Quang tại làng Kẻ Mơ, Quỳnh Lưu, Nghệ An</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Khu đất gần ngàn mét vuông cạnh đường làng, tường xây bao quanh và hai cổng sắt. Một cổng mở ra đường làng thường xuyên khép kín. Một cổng mở ra lối ngõ láng xi măng dẫn ra đường làng luôn mở rộng và Quang thường dẫn tôi đi về qua cổng này. Toà nhà lớn trên nền cao, cửa luôn đóng im lìm gìn giữ một không gian thăm thẳm và tĩnh lặng của quá khứ, nơi thờ phụng tổ tiên. Trước nhà lớn, qua mảnh sân nhỏ là giếng nước và mảnh vườn hẹp. Cây lộc vừng bên cây ổi. Căn nhà nhỏ vuông góc với ngôi nhà lớn, cửa mở ra mảnh sân ngôi nhà lớn, lưng nhà quay ra cổng bên đường làng. Trong nhà chỉ có một chiếc giường đôi. Bàn làm việc bên cửa sổ nhìn ra cây nhãn ngoài đầu nhà. Bàn ăn và kệ bếp núc. Những ngày ở với Quang, tôi ngủ trên giường còn Quang ngủ trên tấm nệm dày ngả ra giữa nền nhà. Ngoài đầu căn nhà nhỏ, bên cửa sổ có bộ bàn ghế xi măng dưới bóng cây nhãn nhìn ra mảnh vườn trồng hơn hai chục cây sưa đã cao hơn hai mét.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đang tiết đông chí, rét đậm nhưng ngọn gió từ biển Quỳnh Lưu hào hển thổi vào không tê tái, giá buốt như ngọn gió bấc ở vùng núi đá Cao Bằng, Bắc Cạn. Dù vậy, Quang vẫn lót hai miếng nệm trên ghế xi măng. Sáng nào chúng tôi cũng ngồi bên chiếc bàn xi măng dưới tán nhãn với hai li cà phê nóng nhìn ra phía mảnh vườn trồng sưa đón mặt trời lên từ biển. Buổi sáng đầu tiên, ngoài biển mặt trời bị vùi trong sương mù, màu xanh tán lá sưa cũng chìm nổi trong màn sương bảng lảng. Những buổi sáng còn lại của tôi ở Kẻ Mơ đều có nắng rực rỡ. Lá sưa rung rinh vẫy nắng. Nắng lọc qua tán nhãn, lung linh trên tóc, trên vai chúng tôi. Một buổi sáng lung linh nắng ấm tôi hỏi Quang về truyện ngắn <em>Linh nghiệm</em> gây tai hoạ cho Quang nhưng cũng dựng lên sừng sững tầm vóc tư tướng và tư thế nhà văn của Trần Huy Quang.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang bảo: Hồi mình mới vào lính đóng quân ở Hà Tĩnh phải ở nhờ nhà dân. Mình ở nhà thầy giáo làng. Gầm giường mình ngủ, chất đống những cây mía dóng dài mập mạp chỉ nhìn đã thấy ngọt lự. Trưa mùa hè bọn mình đi tập về, thấy quần áo lính lấm lem đất cát và ướt đẫm mồ hôi, thầy giáo ân cần bảo: Các chú lấy mía ăn cho đỡ mệt. Thầy kể về nguồn gốc đống mía để bọn mình yên tâm cứ ăn vô tư. Thầy cắm mấy ngọn mía trên vạt đất hoang chỉ để có mía cho hai đứa trẻ con thầy ăn. Không ngờ mía hợp đất, tốt quá, chật cây lớn, từ gốc mía cả chùm mầm mập mạp lại thúc lên. Từ một khóm mía lan ra cả vạt mía xanh um. Hai đứa trẻ con thầy ăn mía mãi đã chán, thầy có dóc mía, tiện đốt sẵn chúng cũng ít đụng đến. Mía ăn không hết, để lâu đường mía lên men chua loét phải bỏ đi. Đang sức ăn, sức xốc vác, cơm lính chưa đủ no. Trưa, chiều có thêm tấm mía không phải chỉ mát lòng mà còn chắc dạ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng rồi gầm giường bỗng trống trơn, chẳng còn cây mía nào. Mình hỏi, thầy giáo bảo: Hợp tác xã thu hồi đất. Đất làng giờ thành đất hợp tác xã, đất tập thể, dân không được đụng đến. Lại hỏi: Hợp tác thu đất làm gì? Chẳng làm gì cả. Đất lại bỏ hoang thôi. Không cho dân trồng trọt, thu hoạch trên đất đó vì làm như vậy là dân lại nuôi mầm mống tư hữu, trở thành tư sản, không còn chủ nghĩa xã hội nữa!</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lần đầu tiên mình thấy sự vô lí của chủ nghĩa xã hội từ việc ông giáo làng không được trồng mía trên mảnh đất hoang. Sau này đọc sách mình lại gặp được một nhận định rằng triết học Mác coi con người là chủ thể xã hội nhưng lại coi hạnh phúc của con người là đấu tranh. Con người phải lao vào đấu tranh tiêu diệt con người khác biệt giai cấp để xây dựng chủ nghĩa xã hội không còn giai cấp tư hữu mới là hạnh phúc. Con người không tư hữu chỉ ở thời bầy đàn nguyên thuỷ. Qua thời bầy đàn nguyên thuỷ đã hàng ngàn năm, con người đã tách ra thành những cá thể tư hữu. Làm gì còn xã hội không có tư hữu nữa. Xã hội không có tư hữu chỉ là xã hội mông muội, là ảo tưởng, là hư vô. Đẩy con người vào bạo lực đấu tranh đẫm máu để đi đến xã hội hư vô, chủ nghĩa xã hội biến con người thành công cụ và biến hiện thực thành hư vô. Mình rất ấn tượng với từ hư vô nhưng hơi tiếc là không ghi lại đoạn văn nên không nhớ nhận định rất đúng chủ nghĩa xã hội hư vô đã biến con người thành công cụ ở sách nào. Nhưng suy cho cùng cần gì phải nhớ ở sách nào. Sách ghi lại sự phát hiện ra chân lí của cuộc sống. Đã là chân lí thì tồn tại mãi mãi trong trang sách cuộc đời và mình đã đọc được điều đó không phải chỉ ở trang sách giấy trắng mà còn ở cả trang sách cuộc đời.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Như chạm vào nỗi niềm dồn nén, nhấp li cà phê đã nguội, Quang lại bị mạch chìm suy tư cuốn đi: Chủ nghĩa xã hội đúng là hư vô. Mảnh đất cho màu xanh, cho trái ngọt là hiện thực. Mảnh đất hoang là hư vô. Người biết lao động sáng tạo là hiện thực. Kẻ ngu dốt chỉ ăn bám vào sự lao động sáng tạo của người khác là hư vô. Mình lại nhớ đến con người trung thực, tài năng Vua Lốp Nguyễn Văn Chẩn bị gạt ra khỏi vị trí lao động sáng tạo, không được làm ra những chiếc lốp bền và rẻ mang thương hiệu Nguyễn Văn Chẩn để cho những kẻ ngu dốt tham lam và giả dối làm giả sản phẩm Nguyễn Văn Chẩn tung ra chiếm lĩnh thị trường, thu lợi bất chính. Đấu tranh tiêu diệt tư hữu chính đáng để tạo ra tư hữu bất chính, đó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội vừa bất chính, vừa hư vô đã tạo ra đầy rẫy nạn nhân Nguyễn Văn Chẩn. Lĩnh vực nào cũng có những nạn nhân Nguyễn Văn Chẩn còn bi thảm hơn nhiều Nguyễn Văn Chẩn Vua Lốp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang lặng đi khá lâu rồi chợt thốt lên: Mình và Trọng đều là lính đi qua cuộc chiến tranh khủng khiếp mà đến giờ nghĩ lại vẫn không hiểu vì sao mình còn sống trở về. Dù may mắn sống sót nhưng cũng thật bất hạnh khi bọn mình phải ném quãng đời quí giá nhất chiến đấu, hi sinh cho xã hội biến hiện thực thành hư vô, xã hội đồ giả, đồ đểu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xã hội bị một lí tưởng hư vô dẫn dắt làm cho tài nguyên giầu có của đất nước, tài năng sáng tạo vô tận của người dân cũng trở thành hư vô cứ ám ảnh Quang. Quang bảo trong nỗi ám ảnh đó dần hình thành lên bóng dáng nhân vật, hình thành đường dây dẫn dắt của truyện ngắn <em>Linh nghiệm</em> và Quang viết rất nhanh, chỉ một đêm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhớ đến <em>Linh nghiệm</em>, nhớ đến những dòng dựng nhân vật chính trong <em>Linh nghiệm</em> không thể không nhận ra nhân vật có thật trong cuộc đời mà tên tuổi, hình ảnh và cuộc đời được nhắc tới hàng ngày trong đời sống xã hội, được thần thánh hoá thành giáo chủ linh thiêng trong đời sống của một tôn giáo:</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Hinh là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân, không nghèo nhưng cũng chẳng giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố, quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy học ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước. Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết làm bằng hữu. Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ bằng nguyên bản, nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại. Đạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.</em><em></em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn. Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái nhìn mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiện hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh.</em>” (<em>Linh nghiệm</em>)</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bằng ngôn ngữ suồng sã của tiểu thuyết hiện đại chứ không phải ngôn ngữ thành kính suy tôn, tụng ca của sử thi, của anh hùng ca mà hàng ngày vẫn tưng bừng rộn rã trên hệ thống truyền thông, người viết <em>Linh nghiệm</em> lạnh lùng cúi xuống nhìn nhân vật chứ không phải con mắt đắm đuối ngước lên thần thánh hoá nhân vật như những truyện, những thơ anh hùng ca của văn chương Việt Nam từ khi văn nghệ sĩ là chiến sĩ của đảng trên mặt văn hoá nghệ thuật.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đọc <em>Linh nghiệm</em> kể chuyện Hinh, tôi cứ liên tưởng tới <em>Số Đỏ</em> kể chuyện Xuân Tóc Đỏ. Vũ Trọng Phụng bỗ bã, thân tình, bỡn cợt với Xuân Tóc Đỏ thì Trần Huy Quang cũng mỉm cười, vỗ vai, suồng sã với Hinh. Hinh mê sảng đi “tìm cái này” mà không biết cái này là cái gì cũng như Xuân Tóc Đỏ đầy hứng khởi đọc vè rao bán thuốc dạo mà không biết là thuốc dỏm hay thuốc thật. Xuân Tóc Đỏ vật vờ bụi đời, lang thang vỉa hè, tứ cố vô thân mà gặp vận may thành niềm tự hào dân tộc, thành danh dự quốc gia. Hinh thì chán học “chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại”. Học hành lởm khởm, dở dang, dù làm thơ chữ Hán cũng chỉ bằng vốn Nho học nửa vời, đọc Mông tét ki ơ bằng nguyên bản cũng chỉ với vốn chữ Tây học mót. Thân cô thế khó mà vô tình có được đám đông đi theo, vô tình có được thiên hạ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ hình ảnh đám đông đi theo Hinh tìm kiếm niềm hi vọng mơ hồ không thể không nghĩ đến một đám đông khác đông hơn gấp triệu lần bị dẫn dắt theo đuổi lí tưởng cũng mơ hồ, hư vô như cái không có thật Hinh đang miệt mài tìm kiếm: “<em>Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước thất vọng ra về trước, người đến sau thất vọng ra về sau. &#8216;Tìm cái này&#8217; là cái gì thì không ai biết, nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn lắm, để họ trở thành một dòng nước</em>.” (<em>Linh nghiệm</em>).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đám đông theo Hinh trong <em>Linh nghiệm</em> là đám đông tự nguyện, khi tỉnh ra còn được tự quyết định số phận, dừng lại và tách ra. Còn đám đông trong đời thật bị tuyên truyền lừa dối và bạo lực áp đặt dẫn dắt đi theo lí tưởng mơ hồ thì bị trói chặt số phận, trói chặt cả cuộc đời vào cái hư vô! Người đọc càng cay đắng, đau xót nhận ra rằng đám đông trong <em>Linh nghiệm</em> chỉ uổng phí mất mát một đoạn đời, một thế hệ. Còn đám đông trong đời thật thì ê chề, đau đớn uổng phí cả cuộc đời, tủi nhục, mất mát nhiều thế hệ!</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dạo ấy Quang chưa biết đến máy vi tính để thẳng lưng ngồi gõ bàn phím. Phải cắm mặt vào trang giấy mà lia bút bi. Một đêm viết xong <em>Linh nghiệm</em> rồi cứ để trong tập bản thảo và quên đi. Mấy tháng sau, một chiều khoảng gần cuối tháng Sáu, năm 1992 mở cặp lưu bản thảo, chợt thấy, Quang liền mang đến trưởng ban văn xuôi Ngô Ngọc Bội, một người xuề xoà, mát tính. Không hi vọng được chấp nhận nhưng Quang trình <em>Linh nghiệm</em> ra để thăm dò, lắng nghe ý kiến, thái độ trong nội bộ báo. Ngồi sau chiếc bàn bề bộn bản thảo, Ngô Ngọc Bội cầm <em>Linh nghiệm</em> lướt nhìn qua rồi ngước nhìn Quang và bảo: Truyện của ông là ông đã đọc kĩ rồi, tôi khỏi đọc. Ông đưa trực tiếp cho Thỉnh duyệt sớm, kịp đi vào số tuần sau.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang vào phòng Tổng Biên tập, thấy Thỉnh đang thu giấy tờ nhét vào cặp sắp rời khỏi phòng. Cũng như trưởng ban văn xuôi, Hữu Thỉnh chỉ thoáng nhìn tên Quang trên bản thảo rồi nhìn thẳng vào mặt Quang còn chăm chú, nồng nàn và thắm thiết hơn cái nhìn của Ngô Ngọc Bội. Ngô Ngọc Bội nhìn Quang là cái nhìn thường tình với người đối thoại. Thỉnh nhìn Quang là cái nhìn vuốt ve, trìu mến của diễn viên đang nhập vai diễn cần biểu lộ tình cảm. Cái nhìn ấy như tiếng cửa miệng “tuyệt vời” mà Thỉnh vẫn thường vồ vập reo lên trong những cuộc gặp gỡ. Thỉnh kí vào bản thảo và bảo Quang đưa cho Hoàng Minh Châu, Phó Tổng Biên tập đang trực lãnh đạo báo đọc duyệt. Có chữ kí của Thỉnh thì cũng rất nhanh có chữ kí duyệt của Hoàng Minh Châu. Quang không ngờ <em>Linh nghiệm</em> được dễ dàng chấp nhận và đi qua cửa ải biên tập nhẹ nhàng, nhanh chóng như vậy để xuất hiện trên báo <em>Văn Nghệ</em> số 27 ngày 4 tháng bảy, năm 1992.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong khi từ Tổng Bí thư đảng cộng sản cầm quyền đến Hội đồng Lí luận và Ban Tuyên giáo Trung ương đều lên gân kiên trì học thuyết Mác Lê, kiên trì chủ nghĩa xã hội, trong khi cả bộ máy truyền thông khổng lồ đang ầm ầm chạy hết công suất thần thánh hoá con người, rước chủ nghĩa Mác Lê, rước chủ nghĩa xã hội về để cả nước rì rầm tụng niệm, cả nước sì sụp thờ cúng con người được thần thánh hoá thì <em>Linh nghiệm</em> xuất hiện trên tờ báo của Hội Nhà văn đã trở thành một vụ nổ núi lửa, một trận động đất chính trị kinh hoàng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lúc ấy dư luận xã hội đang ồn ào về tập thơ <em>Chân dung nhà văn</em> của Xuân Sách và Giám đốc NXB Văn học, nhà thơ Lữ Huy Nguyên, duyệt cho xuất bản tập thơ đang bị hành. Vụ <em>Linh nghiệm</em> nổ ra làm chìm nghỉm vụ <em>Chân dung nhà văn</em> và Lữ Huy Nguyên nhẹ nhàng thoát nạn, đủ biết vụ <em>Linh nghiệm</em> nghiêm trọng như thế nào.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng tiếng la hốt hoảng đầu tiên về núi lửa <em>Linh nghiệm</em> không phải cất lên từ các cung đình văn chương, báo chí, không cất lên từ các giáo sư, tiến sĩ trong bụng đầy thuật ngữ sáo rỗng về lí luận phê bình văn học và trong tư duy lổn nhổn thuật ngữ khô xác chính trị Mác Lê, luôn nghiêm trọng với trách nhiệm gác cổng toà nhà văn học xã hội chủ nghĩa, cũng không cất lên từ toà nhà thâm nghiêm của cơ quan cảnh sát văn hoá đầy quyền uy và bí hiểm mà cất lên từ viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi làm công việc giữ gìn trên nhung đỏ, trong tủ kính hòn đá mang về từ hang Pắc Bó, Cao Bằng, nơi lưu giữ câu chuyện thần thoại về một viên gạch sản xuất ở nước Pháp từ đầu thế kỉ 20, viên gạch nung nóng bọc giấy báo ở nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17, Paris.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Núi lửa <em>Linh nghiệm</em> phun trào ở toà nhà số 17 phố Trần Quốc Toản, Hà Nội nhưng sức nóng lại ngùn ngụt bốc lên ở Nghệ An. Rầm rộ những công văn của các cơ quan đảng, chính quyền và tổ chức chính trị từ huyện tới tỉnh Nghệ An tới tấp gửi về các cơ quan trung ương đòi xử lí thích đáng tác giả và báo <em>Văn Nghệ</em> đã hỗn láo xỉ nhục người dân Xô-Viết Nghệ Tĩnh, đã xúc phạm nặng nề mảnh đất quê hương cách mạng Nghệ An. Nếu trung ương không xử thì Nghệ An sẽ có cách xử nghiêm khắc, thoả đáng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Qua tiếng la hốt hoảng của viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, qua những công văn đằng đằng sát khí của các cơ quan quyền lực và tổ chức chính trị Nghệ An cũng thấy được núi lửa <em>Linh nghiệm</em> đã đe doạ nhà nước xã hội chủ nghĩa, đã làm mất thiêng vị thánh của tôn giáo Mác Lê như thế nào. Nhưng cũng may thời thế đã khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giống như vụ Nhân Văn &#8211; Giai Phẩm năm 1956, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán và hàng loạt nhà tư tưởng, nhà văn hoá Việt Nam bị treo bút, Trần Huy Quang cũng bị treo bút. Trần Dần, Lê Đạt… bị treo bút trong âm thầm, cô đơn, buồn thảm, kéo dài gần nửa thế kỉ. Trần Huy Quang bị treo bút trong lặng lẽ nhưng không cô đơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một buổi sáng tôi đang ngồi với Quang bên li cà phê dưới tán nhãn đầu nhà Quang ở Kẻ Mơ thì một thầy giáo dạy văn trường Đại học Vinh đi ô tô đến đón Quang. Hôm đó tôi được ăn theo Quang trong chuyến đi chơi thành phố Vinh. Thầy giáo đó đưa Quang dạo quanh thành phố Vinh rồi ra ngoại thành, đến nhà hàng bên bờ sông Lam vắng lặng, yên tĩnh. Ở đây có thêm mấy nhà văn, nhà báo Nghệ An đến với Quang. Giữa sự quan tâm, vui mừng, hồ hởi dành cho Quang của những người làm công việc chữ nghĩa ở mảnh đất học Nghệ An, Quang vẫn lặng lẽ. Khi viết bài này, ngắm lại những tấm ảnh chụp Quang hôm đó, tôi mới nhận ra nỗi buồn sâu kín trong đôi mắt, trên gương mặt Quang.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ truyện ngắn đầu tiên của Quang được công bố ở tạp chí <em>Văn Nghệ Quân Đội</em> năm 1967 đến khi Quang dừng viết năm 2022, hơn nửa thế kỉ cầm bút Quang đã có hơn hai mươi đầu sách được xuất bản. Trong khi người người tấp nập vét tiền túi ra nộp cho nhà xuất bản để có vài tập thơ ngâm vịnh, vài tập truyện nhạt nhẽo trình cho Hội Nhà văn khi nộp đơn xin vào hội thì hơn hai mươi tập sách của Quang đều được xuất bản theo kế hoạch và tiền đầu tư của nhà xuất bản, không có tập sách nào Quang phải bỏ tiền ra in. Nhưng những tập truyện ngắn <em>Chiếc áo màu lửa</em>, <em>Sự trắc trở đã qua</em>…, những tập kí sự <em>Người làm chứng</em>, <em>Thánh ca Truông Bồn</em>…, những tiểu thuyết <em>Nước mắt đỏ</em>, <em>Ngọn khói</em>, <em>Khúc hoàn lương</em>, <em>Cô gái Đồng Lộc</em>… cũng giống như <em>Dấu chân người lính</em> của Nguyễn Minh Châu, <em>Rừng U Minh</em> của Nguyễn Văn Bổng, <em>Đường trong mây</em>, <em>Họ sống và chiến đấu</em> của Nguyễn Khải…, cũng chỉ là những giọng ca khoẻ khoắn, hùng hồn trong dàn đồng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Những tập sách chỉ thể hiện tài năng của những chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận văn hoá văn nghệ của đảng chuyên chính vô sản mà thôi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chính Nguyễn Khải, nhà văn nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt hai, năm 2000 cũng nhìn nhận những tác phẩm được giải của ông cũng chỉ là “<em>Văn của một thời. Thời hết thì văn phải chết. Tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân</em>” (Nguyễn Khải, <em>Đi tìm cái tôi đã mất</em>). Những tập anh hùng ca đồ sộ, cổ vũ, tụng ca con người lao vào bão táp cách mạng vô sản và chiến tranh giai cấp vì chủ nghĩa xã hội hư vô sẽ thành giấy lộn khi chủ nghĩa xã hội hư vô ở Việt Nam không còn tồn tại như từ năm 1991 đã vĩnh viễn không còn tồn tại Liên Bang Xô-Viết, thành trì của chủ nghĩa xã hội thế giới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang buồn về điều đó ư?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang đâu chỉ có những tập sách “văn của một thời”. Mọi sự việc, mọi biến động sẽ qua đi nhưng những tư tưởng giúp con người nhận thức về mình và thế giới thì sẽ còn mãi. Truyện ngắn <em>Linh nghiệm</em> của Quang thức tỉnh con người đang u mê đi tìm cái hư vô, thức tỉnh con người bị tước đoạt những giá trị làm người trở về hiện thực, giành lấy những giá trị đích thực của cuộc đời thì sẽ còn mãi trong văn học sử Việt Nam và trong trang sử đất nước Việt Nam gian nan đi tới giá trị đích thực của xã hội loài người, xã hội dân chủ, văn minh. <em>Linh nghiệm</em> là tư tưởng, là tư cách nhà văn của Trần Huy Quang sẽ còn mãi với thời gian. Cả ngàn người vẫn vênh váo xưng tụng là nhà văn Việt Nam hôm nay, mấy ai có được tư cách nhà văn như vậy!</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chỉ có điều sau này khi đưa tin Quang mất, các báo chỉ nhắc đến, chỉ tán tụng, đánh giá cao những tập sách một thời của Quang mà không báo nào có một chữ, một dòng nhắc đến <em>Linh nghiệm</em>, không báo nào chỉ ra vóc dáng nhà văn Trần Huy Quang lừng lững trong <em>Linh nghiệm</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Xem <a href="https://www.procontra.asia/?p=6535">phần 1</a>, <a href="https://www.procontra.asia/?p=6545">phần 3</a>, <a href="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/03.04.2023-Pham-Dinh-Trong-Linh-Nghiem-cua-cuoc-doi.pdf">toàn bài trong bản PDF</a>)</p>



<p class="wp-block-paragraph">© Phạm Đình Trọng và Pro&amp;Contra</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phạm Đình Trọng &#8211; Linh Nghiệm của cuộc đời (phần 1)</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6535</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đình Trọng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Apr 2023 09:05:58 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Linh Nghiệm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhân văn-Giai phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Huy Quang]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6535</guid>

					<description><![CDATA[1. Một mình một cuộc cách mạng&#160; &#160;Sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm những năm 1955 – 1956 không phải chỉ là những bài viết đòi tự do dân chủ trên báo Nhân Văn, trên tạp chí Giai Phẩm do nhà văn hoá Nguyễn Hữu Đang tổ chức thực hiện, không chỉ là tiếng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>1. Một mình một cuộc cách mạng&nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm những năm 1955 – 1956 không phải chỉ là những bài viết đòi tự do dân chủ trên báo <em>Nhân Văn</em>, trên tạp chí <em>Giai Phẩm</em> do nhà văn hoá Nguyễn Hữu Đang tổ chức thực hiện, không chỉ là tiếng nói của những nhà văn, nhạc sĩ mặc áo lính Trần Dần, Tử Phác… từ rừng Việt Bắc về phố Lý Nam Đế, Hà Nội đòi những người làm công việc sáng tạo khoa học, nghệ thuật phải được tự do sáng tạo, thoát li khỏi con người công cụ cúc cung sáng tác theo nhiệm vụ chính trị. Nhân Văn – Giai Phẩm còn là những phát hiện của nhà triết học, nhà tư tưởng tầm vóc thế giới Trần Đức Thảo về những sai trái, tội lỗi, phản con người, phản khoa học của học thuyết Karl Marx, của chủ nghĩa cộng sản, là tiếng nói của những trí thức Dương Đức Hiền, Nguyễn Mạnh Tường… chỉ ra những hạn chế có tính bản chất, có tính lịch sử của đảng cộng sản, đảng của giai cấp cần lao và khẳng định đưa đất nước phát triển giầu mạnh không thể thiếu vai trò dẫn dắt của đội ngũ trí thức đích thực. Nhân Văn – Giai Phẩm là tiếng nói đầu tiên của người dân Việt Nam trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự độc quyền nhà nước, phủ nhận chuyên chính vô sản của đảng cộng sản.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hơn ba mươi năm sau, truyện ngắn <em>Linh nghiệm</em> của Trần Huy Quang đăng trên báo <em>Văn Nghệ</em>, Hội Nhà văn Việt Nam, đúng ngày độc lập của nước Mỹ tự do, dân chủ, ngày 4.7.1992 là tiếng nói thứ hai chỉ ra chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng, không có thật, chủ nghĩa cộng sản chỉ là điều hoang tưởng để nói rằng đảng cộng sản kiên trì chủ nghĩa Marx, kiên trì lí tưởng cộng sản chỉ là kiên trì cái hoang tưởng, không có thật. Tiếng nói Nhân Văn &#8211; Giai Phẩm nghiêm trang và thẳng thắn là tiếng nói của lí trí khoa học. <em>Linh nghiệm</em> nhẹ nhàng, vui vẻ, bỡn cợt là tiếng nói của nghệ thuật.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Học thuyết chính trị, lí tưởng xã hội của đảng chính trị cầm quyền xác định hướng đi, xác định đích đến của một nhà nước, là bản chất, cốt lõi của một thể chế. Biến động xã hội làm thay đổi học thuyết chính trị, chuyển đổi lí tưởng xã hội là cuộc cách mạng. Nhân Văn – Giai Phẩm đòi thay đổi đường lối của đảng cầm quyền, đòi xoá bỏ sự độc quyền nhà nước của đảng cộng sản đương quyền, đó thực sự là cuộc cách mạng. Nhân Văn – Giai Phẩm không chỉ là một phong trào như từ trước đến nay vẫn nhìn nhận mà thực sự là cuộc cách mạng bất thành của đội ngũ trí thức, nghệ sĩ ưu tú nhất của trí tuệ và tâm hồn Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Với tư cách nhà văn, bằng truyện ngắn <em>Linh nghiệm</em> chỉ hơn hai ngàn từ, hơn một trang báo khổ nhỏ 26 X 42 cm, một mình Trần Huy Quang dõng dạc lên tiếng chỉ ra lí tưởng cộng sản và chủ nghĩa xã hội chỉ là trò lẩm cẩm, là thứ ảo tưởng của kẻ lang thang, lạc loài, tứ cố vô thân.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Với <em>Linh Nghiệm</em>, một mình Trần Huy Quang cũng làm một cuộc cách mạng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dù bất thành, cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học bị dìm trong máu nhưng Nguyễn Thái Học mãi mãi lẫm liệt trong lịch sử Việt Nam. Nhân Văn – Giai Phẩm và <em>Linh nghiệm</em> cũng mãi mãi là trang vàng son trong lịch sử văn học Việt Nam. Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần… và Trần Huy Quang &#8211; <em>Linh nghiệm</em> mãi mãi lừng lững khí phách Nguyễn Thái Học trong văn hoá Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những nghị quyết, những quyết định, những bài viết hèn hạ và độc ác vu khống Nhân Văn &#8211; Giai Phẩm, vu khống <em>Linh nghiệm</em> lại như chiếc máy chém, chém đầu Nguyễn Thái Học còn mãi trong bảo tàng lịch sử là bằng chứng ô nhục của tội ác chống lại con người, chống lại chân lí, chống lại sự trung thực, chống lại ánh sáng trí tuệ để duy trì sự giả dối và tăm tối.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2.&nbsp;Lao xao vòm lá sưa</strong><strong></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhân Văn – Giai Phẩm bị đàn áp. Những người đầu vụ bị cách li với xã hội theo hai cách. Người bị tống lên vách núi đá khắc nghiệt ở độ cao trên một ngàn mét, vào địa ngục trần gian, giam cầm trong hầm đá Cổng Trời, Hà Giang như Nguyễn Hữu Đang. Người bị treo bút và cầm tù vô thời hạn tại nhà, bị khủng bố, xách nhiễu tinh thần, bị bao vây, phong toả đời sống vật chất, phải sống lay lắt, đói khổ, cô đơn như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Dần… Những người dính dáng gần xa, chỉ là dây mơ rễ má với Nhân Văn – Giai Phẩm cũng bị những cú đòn âm thầm làm cho tan tác, mỗi người trôi dạt về một xó xỉnh tỉnh lẻ. Người bị loại ra khỏi biên chế cơ quan. Người bị loại ra khỏi vị trí đang đảm nhiệm, không được đảm nhận những vị trí có chức danh hành chính. Chỉ được làm những việc sự vụ, lao công. Thân thể chưa bị giam cầm nhưng tên tuổi thì bị giam cầm, bị cách li với xã hội, không được xuất hiện trong đời sống văn hoá.</p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="685" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Le-Phu-Khai-Pham-Dinh-Trong-Tran-Huy-Quang-Nguyen-Xuan-Khanh-Duong-Tuong-tai-Hoi-thao-sach-giao-khoa-cua-Nhom-Canh-Buom-do-Pham-Toan-chu-truong-1024x685.jpg" alt="" class="wp-image-6533" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Le-Phu-Khai-Pham-Dinh-Trong-Tran-Huy-Quang-Nguyen-Xuan-Khanh-Duong-Tuong-tai-Hoi-thao-sach-giao-khoa-cua-Nhom-Canh-Buom-do-Pham-Toan-chu-truong-1024x685.jpg 1024w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Le-Phu-Khai-Pham-Dinh-Trong-Tran-Huy-Quang-Nguyen-Xuan-Khanh-Duong-Tuong-tai-Hoi-thao-sach-giao-khoa-cua-Nhom-Canh-Buom-do-Pham-Toan-chu-truong-300x201.jpg 300w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Le-Phu-Khai-Pham-Dinh-Trong-Tran-Huy-Quang-Nguyen-Xuan-Khanh-Duong-Tuong-tai-Hoi-thao-sach-giao-khoa-cua-Nhom-Canh-Buom-do-Pham-Toan-chu-truong-768x514.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Le-Phu-Khai-Pham-Dinh-Trong-Tran-Huy-Quang-Nguyen-Xuan-Khanh-Duong-Tuong-tai-Hoi-thao-sach-giao-khoa-cua-Nhom-Canh-Buom-do-Pham-Toan-chu-truong-1536x1028.jpg 1536w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/Tu-trai-Le-Phu-Khai-Pham-Dinh-Trong-Tran-Huy-Quang-Nguyen-Xuan-Khanh-Duong-Tuong-tai-Hoi-thao-sach-giao-khoa-cua-Nhom-Canh-Buom-do-Pham-Toan-chu-truong-2048x1371.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Từ trái: Lê Phú Khải, Phạm Đình Trọng, Trần Huy Quang, Nguyễn Xuân Khánh, Dương Tường tại Hội thảo sách giáo khoa của Nhóm Cánh Buồm do Phạm Toàn chủ trương</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Dù dính dáng đến Nhân Văn – Giai Phẩm hay không nhưng hoạn nạn Nhân Văn – Giai Phẩm đã gắn kết những nhà văn, nhà thơ cùng vào đời từ cuộc kháng chiến chống Pháp còn bên ngoài nhà tù đến với nhau như những người cùng một nỗi đau, cùng một mất mát, cùng một nỗi bơ vơ, ngơ ngác, hình thành những nhóm bạn văn thân thiết. Nhóm Trần Dần – Lê Đạt &#8211; Trần Đĩnh &#8211; Nguyễn Khải… Nhóm Nguyễn Xuân Khánh – Bùi Ngọc Tấn – Dương Tường &#8211; Phạm Toàn &#8211; Mạc Lân &#8211; Hứa Văn Định… Nhóm Trần Lê Văn – Vũ Bão – Lê Bầu – Ngô Quân Miện… Rồi từ mọi nẻo, những hồn nhân văn lại tụ về chốn ngàn năm văn vật kinh kì và bằng tài năng quí hiếm vốn có, những nhà văn, nhà thơ hậu Nhân Văn – Giai Phẩm lại tìm được vị trí trong xã hội để đóng góp và thể hiện mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Những năm tám mươi thế kỉ hai mươi nhà thơ Ngô Quân Miện là Tổng Biên tập báo <em>Độc Lập</em>, tờ báo của Đảng Dân chủ ra đời năm 1944 trong làn sóng những phong trào vận động cứu nước, một tiếng nói văn hoá và trí tuệ của những trí thức lớn: Dương Đức Hiền, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Đình Hoè, Đỗ Đức Dục, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Minh Chính, Đặng Thai Mai, Ca Văn Thỉnh, Trần Bửu Kiếm, Tôn Quang Phiệt… Còn nhà văn Vũ Bão là Phó Tổng Biên tập kiêm Trưởng Ban Biên tập báo <em>Điện Ảnh Việt Nam</em>, tờ báo của Bộ Văn hoá – Thông tin.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi may mắn có cái duyên được gặp và có quan hệ thân thiết với Vũ Bão từ thời ông còn lênh đênh trôi dạt, không biên chế, không đồng lương bởi tai nạn Nhân Văn&nbsp; – Giai Phẩm. Tiểu thuyết đầu tay <em>Sắp cưới</em> của ông viết về Cải cách Ruộng đất bị đội quân theo đường lối văn nghệ Diên An, dưới lá cờ lệnh trong tay Tố Hữu chỉ điểm đánh hội đồng. Đang trong biên chế tờ báo của tỉnh uỷ Hà Nam, dù là ngòi bút chủ lực của báo, Vũ Bão cũng bị buộc phải rời khỏi báo, về Ty Nông nghiệp, rồi Ty Thông tin. Nơi nào cũng chỉ làm anh đầu sai, Vũ Bão liền bỏ thân phận đầu sai của viên chức tỉnh lẻ, về Hà Nội tự kiếm sống. Nặng nợ với văn chương, Vũ Bão xin Tô Hoài, Tổng Thư kí Hội Văn nghệ Hà Nội cho sinh hoạt trong hội và xin cấp giấy giới thiệu đến quân đội để được cho đi thực tế ở mặt trận phía Nam. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Người phờ phạc trên chiếc xe đạp rệu rã, Vũ Bão cầm giấy giới thiệu có chữ kí của Tô Hoài tìm đến 47 phố Lý Thường Kiệt, nơi Ban Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Thông tin sơ tán. Làm việc tại đó, tôi đã dẫn Vũ Bão đến trung đoàn quân bưu 78 đang sơ tán ở trường Chu Văn An để Vũ Bão được biên chế vào đội hình lính gùi hàng quân bưu vào mặt trận Quảng Trị, Thừa Thiên. Những trang viết của Vũ Bão về những người lính phơi phới niềm tin ở mặt trận Đường 9, Khe Sanh, về người dân Pa Kô ở Khe Tre, Hướng Hoá sườn Đông Trường Sơn hăng hái đi tải thương, gùi đạn trong cuộc chiến tranh do đảng cộng sản phát động được hệ thống tuyên truyền nhà nước sử dụng tức thì đã đưa tên tuổi Vũ Bão từ trong lãng quên trở lại trên trang sách, trở lại mặt báo chính thống và đưa Vũ Bão trở lại hàng chức sắc, trở lại biên chế công chức nhà nước, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, rồi Phó Tổng Biên tập báo <em>Điện Ảnh Việt Nam</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi Vũ Bão được Bộ Văn hoá &#8211; Thông tin giao việc dựng lên tờ báo <em>Điện Ảnh</em> thì tôi đang làm biên kịch ở Xưởng phim Quân đội. Từ nhà 65 phố Trần Hưng Đạo, trụ sở báo <em>Điện Ảnh Việt Nam</em>, Vũ Bão thường xuyên trên chiếc xe đạp tàng lóc cóc đến tôi ở xưởng phim, nhà 17 phố Lý Nam Đế. Không phải chỉ là Phó Tổng Biên tập kiêm Trưởng Ban Biên tập tờ báo <em>Điện Ảnh Việt Nam </em>chuẩn bị ra đời đến với người viết về điện ảnh để đặt bài mà Vũ Bão đến với tôi còn như đến với kí ức, đến với một thời chỉ có gừng cay muối mặn không thể quên của cuộc đời.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ đó Vũ Bão thường kéo tôi đi với ông rong ruổi khắp nẻo đường Hà Nội. Đến Hãng Phim truyện đầu phố Thuỵ Khuê xem bộ phim mới. Đến Hãng Phim Tài liệu gần cuối đường Hoàng Hoa Thám dự buổi duyệt phim. Đến gặp các nhân vật điện ảnh. Vũ Bão còn dẫn tôi đến những người bạn đồng cảm thân thiết trong hoạn nạn của ông.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để chiếc xe đạp ở chỗ tôi rồi Vũ Bão dẫn tôi đi bộ vài trăm mét đến nhà văn Lê Bầu ở 105 phố Phùng Hưng. Gian nhà hơn mười mét vuông ngăn đôi. Nửa của nhà thơ “<em>Lúa tháng năm kén tằm vàng óng / Hạt khô giòn đem đóng thuế nông</em>…” Huyền Tâm. Nửa của Lê Bầu, người được sang Trung Quốc học chữ Hán từ cuối kháng chiến chống Pháp nay là nhà văn thay hồn chữ Hán của Quỳnh Dao, của Giả Bình Ao bằng hồn chữ Việt. Nhà chật chỉ có chiếc giường đơn kê sát tường trong cùng. Có chiếc bàn nhỏ làm việc mà không có chỗ đặt ghế, phải ngồi mép giường gõ máy chữ Olympia đặt trên bàn. Khoảng nhà còn lại là chỗ của cái bếp dầu, cái xô nước, vài cái bát, cái nồi và manh chiếu tiếp khách trải trên nền nhà vừa kín diện tích chưa đến chín mét vuông. Nhiều tối khuya, Vũ Bão và tôi đã ngồi với Lê Bầu trên manh chiếu cơ hàn, nghèo khổ đó.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Buổi tối la cà đến Lê Bầu. Nhiều lần trong giờ làm việc, từ 65 Trần Hưng Đạo, Vũ Bão lại dẫn tôi đi bộ cũng chỉ vài trăm mét sang 59 Lý Thường Kiệt, vào phòng Tổng Biên tập báo <em>Độc Lập</em> Ngô Quân Miện. Phòng rộng rãi, sáng sủa. Nhìn qua cửa sổ hướng Nam thấy vòm lá sưa lao xao gió.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một lần Ngô Quân Miện đang tiếp chúng tôi thì Trần Huy Quang vào gặp. Qua lời giới thiệu của Ngô Quân Miện cũng thấy được tình cảm của tổng biên tập dành cho phóng viên Trần Huy Quang. Tôi gặp Quang lần đầu trong không gian và giữa những con người như vậy. Có phải không gian ấy, những con người ấy đã gợi mở tư duy cho Trần Huy Quang để sau này Quang có <em>Câu chuyện về ông Vua Lốp</em> và có <em>Linh nghiệm</em>?</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>&nbsp;3.&nbsp;Bút kí giải nhất văn chương</strong><strong></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Lính pháo binh ở mảnh đất mưa bom bão đạn Quân khu Bốn. Học Khoa Sử nổi tiếng với những người thầy uyên bác, sắc sảo, đầy cá tính sáng tạo như Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê… tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội danh giá nhất trong các trường đại học ngày đó. Phóng viên báo <em>Độc Lập</em> với bút danh Nhật Linh. Nhà báo Nhật Linh Trần Huy Quang giữ nguyên cốt cách xông xáo của người lính chiến và nhìn nhận hiện thực bằng con mắt lịch sử.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chiến tranh là xung đột lợi ích nhà nước, là giành giật không gian thống trị của hai thế lực nhà nước. Chiến tranh là nút thắt của sự sống. Người lính phải xông vào nút thắt chết chóc để mở ra cuộc sống bình yên. Cuộc sống đời thường là xung đột lợi ích con người, là giành giật lợi ích của những cá thể. Xung đột lợi ích là nút thắt cản trở dòng chảy cuộc sống. Nhà báo phải nhận ra những xung đột lợi ích, chỉ ra nút thắt của dòng chảy cuộc sống. Có gỡ được nút thắt, dòng chảy cuộc sống mới trôi chảy, hài hoà và tiến triển mạnh mẽ, không bị trì trệ, tụt lại phía sau.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Với bài viết về ông vua lốp xe đạp Nguyễn Văn Chẩn, Nhật Linh Trần Huy Quang đã chỉ ra một nút thắt tưởng như nhỏ bé trong đời sống kinh tế nhưng lại là nút thắt nghiệt ngã trong lòng người và nút thắt định mệnh của một thể chế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mỹ tuyên bố cho máy bay đánh phá Bắc Việt, đưa Bắc Việt về thời đồ đá. Thực tế, miền Bắc Việt Nam không về thời đồ đá mà còn tệ hơn: về thời đồ đểu. Cả miền Bắc chỉ có một cái chợ chính thống chi phối đời sống xã hội là chợ mậu dịch quốc doanh. Mọi nhu cầu cuộc sống của người dân đều do mậu dịch quốc doanh cung cấp. Nhưng chỉ có cái chợ quốc doanh Tông Đản, gần Nhà Hát lớn Hà Nội, chợ của quan cấp cao, mới luôn đầy đủ hàng hoá cao cấp từ chiếc tủ lạnh Saratov của Liên Xô đến bao thuốc là Đại Tiền Môn của Trung Quốc, giá thực vô cùng cao mà bán cho quan cấp cao rẻ như cho không.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Còn chợ quốc doanh bán hàng thiết yếu cho cuộc sống người dân sau chiến tranh Nam Bắc kết thúc cả chục năm, hàng hoá vẫn trống rỗng. Người dân thiếu thốn từ cái kim sợi chỉ. Mặt hàng tầm tầm, không đòi hỏi kĩ thuật cao mà cuộc sống cần, chợ quốc doanh không cung cấp được thì chợ tự phát cung cấp. Hàng thật không có thì có hàng giả, hàng đểu. Hàng đểu tràn ngập từ chợ vỉa hè tấp nập phố phường Hà Nội đến chợ quê vùng sâu vùng xa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Suốt nửa sau thế kỉ hai mươi, người dân cả miền Bắc rồi người dân cả nước di chuyển trên chiếc xe đạp. Xe đạp đi làm, đi học. Xe đạp nối những người thân trong một gia đình tung toé đi kiếm sống khắp mọi ngả đường đất nước. Ô tô rất hiếm. Hàng hoá cần vận chuyển thì chất lên xe ba gác, lên xích lô, lên xe đạp thồ. Chiếc lốp xe đạp của đời sống xã hội như cơm ăn của con người. Lốp xe đạp của nhà máy cao su Sao Vàng chỉ có thể cung cấp nhỏ giọt cho viên chức nhà nước. Cả năm trời mới có đợt phân phối lốp xe đạp. Hơn chục người nín thở bốc thăm mới có một người may mắn thở phào nhẹ nhõm, sung sướng bốc được phiếu mua lốp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chợ quốc doanh không có lốp thật của nhà máy cao su Sao Vàng thì chợ vỉa hè có ngay lốp mang nhãn hiệu Sao Vàng nhưng là lốp giả, lốp đểu của những lò làm lốp thủ công lẩn khuất trong ngõ sâu, núp sau một công việc hợp pháp của những người thừa lòng tham, thừa mưu mẹo gian dối, chụp giật mà không có lương tâm và tầm vóc của một doanh nghiệp chân chính.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông Nguyễn Văn Chẩn không đi theo con đường gian dối, chụp giật, kinh doanh núp bóng nhãn hiệu Sao Vàng mà ông đàng hoàng tạo ra nhãn hiệu lốp Nguyễn Thái Học và tạo ra danh tiếng Vua Lốp. Xẻ chiếc lốp Sao Vàng ra xem thành phần cấu tạo. Đi gom nhặt lốp ô tô cũ vất đầy những bãi hoang. Bóc tách vải bố lốp ô tô cũ làm vải bố lốp xe đạp. Đến bãi thải nhà máy cao su Sao Vàng, lúc đầu thoải mái gom nhặt cao su thải, sau kí hợp đồng mua cao su loại bỏ của nhà máy với giá rác thải. Mày mò tạo ra dây chuyền công nghệ nấu cao su, ép lốp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ vải bố lốp ô tô cũ, từ cao su Sao Vàng thải, tổ sản xuất Quyết Thắng do ông Nguyễn Văn Chẩn đứng tên đăng kí kinh doanh tạo ra những chiếc lốp xe đạp, xe thồ, xe xích lô, trên lốp in rõ hàng chữ tên cơ sở sản xuất Quyết Thắng, nơi sản xuất phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội, lập tức được thị trường ưa chuộng. Nhất là những người chạy xe thồ, đạp xích lô thì mê tít vì lốp Nguyễn Thái Học rẻ hơn hẳn lốp Sao Vàng, lại có sẵn ở mọi cửa hàng bán đồ xe đạp phố Huế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Người mua không cần nhớ, không cần biết tên cơ sở sản xuất vì cái tên Quyết Thắng đang thịnh hành, xuất hiện khắp nơi. Đến hộp tăm tre cũng có hàng chữ &#8220;Tổ sản xuất tăm tre Quyết Thắng&#8221;. Cái tên Quyết Thắng chẳng xác định được điều gì, còn nơi sản xuất ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội chỉ có một, là sự xác định rõ ràng. Nơi làm ra chiếc lốp xe đạp được tin dùng, mang lại sự yên tâm vì dễ dàng mua được, không cần chờ phân phối nhỏ giọt, vì chất lượng tốt trở thành tên gọi trên thị trường: Lốp xe Nguyễn Thái Học.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chiếc xe đạp như một phần cơ thể của người dân Việt Nam thời đói khổ, thiếu thốn. Thời đó dân gian định nghĩa về cơ thể con người là: Con người gồm đầu, mình, chân tay và xe đạp. Trong chiếc xe đạp thì lốp xe lăn trên đường, bị mặt đường cào, thúc, mài mòn, nhanh bục nát nhất. Lốp bục, không có xe chạy, con người thành tàn tật. Lốp xe càng được sự quan tâm hàng đầu, là nỗi lo thường trực của người kiếm sống trên hai bánh xe, người đạp xích lô, người chạy xe thồ. Lốp xe đạp Nguyễn Văn Chẩn đã lấp được khoảng trống của một mặt hàng thiết yếu, đáp ứng được một nhu cầu cấp bách của cuộc sống, tạo được sự lành mạnh cho một thị trường đang hỗn loạn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng thị trường có hỗn loạn thì những người làm ăn bất chính mới có đất sống. Thế là tới tấp đơn tố cáo gửi đến các cơ quan nhà nước vu khống người sản xuất kinh doanh chân chính Nguyễn Văn Chẩn. Các cơ quan pháp luật lập tức sốt sắng vào cuộc và người trung thực làm ra chiếc lốp xe đạp tốt và rẻ đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội liền bị truy tố tội danh rất nặng nề nhưng cũng rất mơ hồ, mù mờ, tội đầu cơ kinh tế, tội tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt. Ông Chẩn bị bắt giam. Nhà xưởng, công cụ, vật tư sản xuất và toàn bộ tài sản có giá trị của gia đình bị tịch thu. Ròng rã năm này sang năm khác khiếu nại với đầy đủ chứng từ, số liệu sổ sách chứng minh sự làm ăn chính đáng, minh bạch, hơn hai năm sau ông Nguyễn Văn Chẩn mới có quyết định đình chỉ điều tra nhưng tư liệu sản xuất và tài sản gia đình của ông bị tịch thu thì đã tan biến, không còn gì để hoàn lại cho ông.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dân gian đúc kết: Có chí làm quan, có gan làm giầu. Đồng vốn đã trống rỗng. Niềm tin cũng đã trống rỗng. Cái gan gây dựng cơ đồ, làm giầu cho gia đình, đóng góp cho xã hội cũng không còn. Không thể sản xuất trở lại. Những chiếc lốp xe đạp bền và rẻ được ưa chuộng sản xuất ở phố Nguyễn Thái Học có đăng kí, có đóng thuế vắng bóng trên thị trường thì những lò làm lốp chui, lốp đểu không làm giả lốp cao su Sao Vàng nữa mà đổ xô làm giả lốp cao su của vua lốp Nguyễn Văn Chẩn. Những chiếc lốp đểu của những lò sản xuất ma không đăng kí kinh doanh, không đóng thuế ở những xó xỉnh không thể xác định nhưng trên lốp đều có hàng chữ nổi sản xuất ở phố Nguyễn Thái Học lại náo loạn thị trường. Mặt hàng lốp xe đạp lại bịt bùng hàng giả, hàng đểu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi phải lược lại đường dây sự việc kí sự hơn ba ngàn từ của <em>Câu chuyện về ông Vua Lốp</em> để thấy cốt cách người lính xông xáo, len lỏi vào ngóc ngách cuộc sống, phát hiện xung đột lợi ích, phát hiện nút thắt dòng chảy cuộc đời của nhà báo Trần Huy Quang. Điều lớn hơn nữa là sự việc con người lao động sáng tạo và trung thực Nguyễn Văn Chẩn bị vô hiệu, giá trị thật bị loại bỏ để giá trị giả lên ngôi như một tia chớp trong nhận thức hiện thực cuộc sống, như một cú hích trong vận động tư tưởng của Trần Huy Quang mà sau này bài viết sẽ còn nhắc đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Không được thể hiện mình, không thể tồn tại chính danh, phải lui về mai một trong dân gian không chỉ là một thân phận Nguyễn Văn Chẩn mà là thân phận của nhiều con người, nhiều cuộc đời có tấm lòng trung thực, có tài năng đóng góp cho xã hội mà phải sống trong thời đồ đểu là mạch ngầm mà người đọc có cảm thụ tinh tế, có trái tim nhạy cảm với cuộc sống, có tâm hồn rộng mở với cuộc đời sẽ nhận ra. Còn <em>Câu chuyện về ông Vua Lốp </em>chỉ kể một buổi người viết la cà ở phố Huế chuyên bán phụ tùng xe đạp nhận thấy từ cửa hàng lớn, bảng hiệu to trong gian nhà rộng mặt phố đến mẹt hàng di động, trôi dạt ở vỉa hè đều bày bán lốp xe đạp, xe xích lô trên lốp đều có hàng chữ nổi sản xuất tại phố Nguyễn Thái Học rõ nét và được nghe người bán hàng tán tụng về ông Vua Lốp Nguyễn Văn Chẩn làm ra chiếc lốp xe đạp đang tràn ngập thị trường. Người viết liền tìm đến phố Nguyễn Thái Học gặp ông Chẩn thì ông không còn là Vua Lốp mà là lương y, lần hồi kiếm sống qua ngày bằng nghề bốc thuốc Nam và nghe ông kể về đoạn đời Vua Lốp thành công lừng lẫy của ông mà bị mất cơ đồ, phải bỏ sự nghiệp kinh doanh thành đạt về làm ông lang vườn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chỉ kể sự việc như đã diễn ra, nhờ vậy kí sự <em>Câu chuyện về ông Vua Lốp </em>của Nhật Linh Trần Huy Quang đã giành giải nhất trong cuộc thi bút kí do báo <em>Văn Nghệ</em>, Hội Nhà văn Việt Nam cùng Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức ở thời kì đất nước khốn khó, cuộc sống bế tắc, người dân khốn cùng nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>4.&nbsp;Đi về giữa nỗi buồn thăm thẳm và niềm vui nhỏ bé </strong><strong></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trần Huy Quang kể với tôi rằng tổ tiên anh phải bỏ kinh đô Thăng Long chạy trốn vào Nghệ An khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, tuyệt diệt sạch sành sanh giới quí tộc, quan lại nhà Trần. Tôi lại chợt nhớ nhà văn, đại tá Triệu Huấn, tên khai sinh là Phạm Triệu Huấn cũng kể rằng khi vụ án Lệ Chi Viên xảy ra thì người đàn bà họ Phạm tổ tiên của ông đang mang trong người giọt máu dòng họ Ức Trai Nguyễn Trãi ở Nhị Khê phải lẩn trốn cuộc thảm sát ba dòng họ. Gốc gác họ Nguyễn làng Nhị Khê nhưng lại mang họ Phạm của Triệu Huấn có từ đó. Từ Trần Huy Quang, từ Triệu Huấn, tôi nhận ra rằng những cốt cách trí lự, tài năng hơn người dường như đều phải có cội nguồn sâu xa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quang cũng kể với tôi là trước năm 1945 Quang ở Hà Nội với bố. Từ bãi biển Quỳnh Lưu, bố Quang tìm về nơi nhà Trần dựng nghiệp và ông đang buôn bán khấm khá ở kẻ chợ Hà Nội thì ầm ầm bão táp Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra. Quyền lực nhà nước theo tiến trình lịch sử phải từ giai cấp quí tộc phong kiến suy tàn chuyển giao cho giai cấp ở đẳng cấp tiến bộ hơn, đó là giai cấp tư sản, đưa xã hội từ nền sản xuất nông nghiệp trì trệ vào nền sản xuất công nghiệp phát triển. Bảo Đại, nhà vua của quí tộc phong kiến đang lụi tàn lập chính phủ Trần Trọng Kim của giai cấp tư sản, trí thức đang thức dậy, vươn vai lớn mạnh là hợp tiến trình lịch sử và chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ chính danh, đáp ứng được đòi hỏi của thời đại. Đảng của giai cấp vô sản, của dân nghèo cùng khổ làm cách mạng cướp chính quyền của trí thức và nghiệp chủ là cuộc cách mạng ngược tiến trình lịch sử.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sống trên mảnh đất đã diễn ra cuộc bạo loạn Xô-Viết Nghệ Tĩnh tháng Chín năm 1930, doanh nhân dòng dõi nhà Trần nhận ra rằng chính đảng đã làm cuộc thảm sát tắm máu trí, phú, địa, hào ở Nghệ An, Hà Tĩnh năm 1930 nay nắm quyền thống trị cả nước thì thời làm giầu của ông không còn nữa. Không còn nữa cả giới chủ doanh nghiệp đang kinh doanh dựng nghiệp, đang gắng gỏi đua tranh với chủ doanh nghiệp người Pháp, người Hoa, người Ấn, mở ra sự phát triển mạnh mẽ cho đất nước, đưa xã hội Việt Nam tối tăm, trì trệ, bùn lầy nước đọng của nền kinh tế nông nghiệp cổ xưa hăm hở bước vào ánh sáng của nền kinh tế công nghiệp và thương nghiệp năng động. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhắc đến ông bố có chí làm giầu mà không gặp thời rồi Quang nhìn vào xa xăm, nói giọng xa vắng như tự nói với mình: Cách mạng Tháng Tám 1945 thực sự là cuộc cướp ngôi bất chính. Vẫn như tự sự, Quang quay sang nhìn tôi và diễn giải lịch sử: Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần chỉ diệt quí tộc, tinh hoa một dòng họ Trần. Cách mạng Tháng Tám tiêu diệt cả tầng lớp tinh hoa của tất cả các dòng họ Việt Nam, tiêu diệt cả ý chí làm giầu chấn hưng đất nước và tiêu diệt cả tài năng lao động sáng tạo bẩm sinh của con người Việt Nam. Tôi lại nhận ra thêm một điều: Học trò thầy Trần Quốc Vượng, cử nhân Khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông bạn Trần Huy Quang của tôi, đã nhìn lịch sử đất nước qua chính số phận gia đình mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi người Hà Nội đục thông những tường nhà san sát nhau, mở ra con đường xuyên qua những vòm tường nham nhở trong lòng những dãy nhà phố cho tự vệ chiến đấu di chuyển, khuân cả tràng kỉ, sập gụ gỗ quí ra đường phố, dựng chiến luỹ chặn bước tiến của quân Pháp, ôm bom ba càng đánh xe tăng Pháp và giành giật từng căn nhà với lính Pháp. Khi Hà Nội mịt mù khói lửa và rát rạt những đường đạn giết chết sự sống. Khi người dân Hà Nội dắt díu nhau, sấp ngửa rời ba mươi sáu phố phường tránh lửa đạn chiến tranh, bố Quang cũng rời kẻ chợ Hà Nội về làng quê Kẻ Mơ, Quỳnh Minh, Quỳnh Lưu, Nghệ An, nơi ông có căn nhà và mảnh vườn nhìn ra biển Quỳnh Lưu, buôn bán nhỏ nuôi vợ con qua ngày.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tháng Mười Hai năm 2018, tôi đã về ở với Quang gần một tuần ở căn nhà có mảnh vườn nhỏ trồng sưa bên bãi biển Quỳnh Minh, Quỳnh Lưu, Nghệ An.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lại phải kể khúc nhôi đôi điều về con đường đưa Quang đi về giữa hai chốn gắn bó của cuộc đời mình. Đi về từ gian phòng trên gác hai nhà 56 phố Bà Triệu, Hà Nội, đến ngôi nhà bên bãi biển làng Kẻ Mơ, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Đi về giữa hiện tại và quá khứ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Suốt hai cuộc chiến tranh từ 1946 đến 1975, nhà văn Nguyên Ngọc xông xáo ở mặt trận Khu Năm ác liệt, để lại dấu chân người lính Nguyên Ngọc từ núi rừng Ngọc Linh, Kontum đến làng ven biển Sa Huỳnh, Tam Quan, Bình Định. Ngày là người lính cầm súng đánh giặc. Đêm trong căn hầm sát đồn bốt giặc, người lính Nguyên Ngọc lại trở về sứ mệnh nhà văn, cầm bút viết <em>Rừng Xà Nu</em>, viết <em>Đường chúng ta đi</em>, những truyện ngắn và tuỳ bút mang hơi thở cuộc kháng chiến, mang hào khí dựng nước và giữ nước. Năm 1987, nhà văn lính Nguyên Ngọc nhỏ bé, gày guộc, nước da còn xanh như lá rừng, xạm màu đá núi bởi sốt rét được Ban Thư kí, Hội Nhà văn Việt Nam giao trách nhiệm làm Tổng Biên tập tuần báo <em>Văn Nghệ</em> thay nhà văn Đào Vũ cao lớn, bảnh bao, trắng trẻo, hồng hào vì chỉ quanh quẩn ở Hà Nội.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thời chiến tranh, người lính xông vào nút thắt chết chóc để mở ra dòng chảy cuộc sống bình yên. Tổng Biên tập báo <em>Văn Nghệ</em>, nhà văn mang cốt cách người lính Nguyên Ngọc cũng đòi hỏi người làm báo <em>Văn Nghệ</em> phải có con mắt sắc sảo nhìn ra nút thắt cản trở dòng chảy cuộc sống. Con mắt sắc sảo của người làm báo cũng phải như đường đạn thẳng căng của người lính quất vào kẻ thù. Ông không chấp nhận những nhà báo chỉ là công chức hành chính, sáng đến ngồi trong căn phòng lặng ngắt, hít thở không khí ngưng đọng rồi hờ hững, vô cảm nhìn vào trang giấy trước mặt như một người máy. Hết giờ làm việc chiều, la đà men bia ở vỉa hè, men rượu trong nhà hàng mới là lúc trở về con người thực nhưng chỉ là con người sinh vật, không hề có bóng dáng của con người xã hội. Nhà báo như vậy chỉ có nếp nghĩ mòn cũ, cảm xúc vay mượn, gọi dạ bảo vâng. Ông cần những người làm báo có phẩm chất người lính, có ý thức về bổn phận công dân. Hai nhà văn xông xáo và sắc sảo phát hiện nút thắt cuộc sống, Trần Huy Quang ở báo <em>Độc Lập</em> và Hoàng Minh Tường ở báo <em>Người Giáo Viên Nhân Dân</em> được Nguyên Ngọc đón về báo <em>Văn Nghệ</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lập tức báo <em>Văn Nghệ</em> lột xác. Cuộc sống vật vã của đất nước, cuộc sống gian nan của người dân tràn vào trang báo. Người dân thấy bóng dáng của mình, thấy những vấn đề gấp gáp đang đặt ra với đất nước ở những phóng sự chân thực: <em>Người biết làm giầu</em>, <em>Lời khai của bị can</em> của Trần Huy Quang, <em>Làng giáo có gì vui?</em>, <em>Anh hùng khi đã sa cơ</em> của Hoàng Minh Tường. <em>Cái đêm hôm ấy đêm gì</em> của Phùng Gia Lộc<em>. Con đường có máu chảy</em> của Trần Quang Quý. <em>Tiếng đất</em> của Hoàng Hữu Các. <em>Người đàn bà quỳ</em> của Trần Khắc. <em>Đá nổi xôn xao</em> của Hoài Tố Hạnh… Ngày báo phát hành, sáng thứ Sáu hàng tuần, trước trụ sở báo <em>Văn Nghệ</em>, 17 phố Trần Quốc Toản, Hà Nội, từ sáng sớm đã có rất đông người chầu chực chờ mua báo chở từ nhà in về. Số lượng phát hành từ năm ngàn nhanh chóng tăng lên hơn trăm ngàn tờ, tăng gấp hơn hai mươi lần, mang lại lãi lớn. Lãi lớn về tiền bạc cho tờ báo đang lay lắt, kiệt quệ. Lãi lớn về thanh danh, uy tín cho Hội Nhà văn Việt Nam đang là chiếc bóng mờ nhạt của tuyên giáo. Tờ báo thu hút đông đảo người dân cùng trăn trở nghĩ suy với những vấn đề đặt ra của đất nước là lãi lớn về chính trị cho chính quyền, cho nhà nước.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng thật trớ trêu. Được lãi lớn như vậy lại là nỗi lo của những người độc quyền quyền lực. Dù đời sống kinh tế đã xoá bỏ bao cấp, kinh tế đã đa nguyên, đa thành phần. Mỗi thành phần kinh tế đều cần có tổ chức chính trị, cần có tiếng nói chính trị trong xã hội. Nhưng đời sống chính trị vẫn bao cấp, vẫn chỉ có một tổ chức chính trị là đảng cộng sản độc quyền quyền lực nhà nước, thì vẫn chỉ có một tiếng nói chính trị mà báo <em>Văn Nghệ</em> của Nguyên Ngọc lại nói tiếng nói của cuộc sống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bao cấp chính trị thì đời sống văn hoá, tinh thần, tư tưởng, tình cảm vẫn phải bao cấp, vẫn phải có định mức, định hướng. Người dân được đọc, được xem, được suy nghĩ gì, được biết sự thật gì, biết đến mức độ nào, đều có định hướng và định mức. Báo <em>Văn Nghệ</em> thời Nguyên Ngọc đã vượt qua cái định mức, định hướng làm nghèo khổ đời sống văn hoá, tinh thần người dân đến mức ngu dân. Như người dân đã phải chịu nghèo khổ đến thấp hèn đời sống vật chất thời bao cấp kinh tế. Người dân được đọc sự thật trần trụi về thân phận con người, sự thật day dứt về hiện tình đất nước quá định mức cho phép là lệch lạc nghiêm trọng. Những người độc quyền quyền lực, độc quyền ban phát đời sống văn hoá, tinh thần, tư tưởng, tình cảm cho dân thấy lo lắng, bất an. Lo lắng đến nỗi phải điều hàng chục công an chìm, công an nổi đến canh chừng người dân sáng thứ Sáu hàng tuần náo nức kéo đến báo <em>Văn Nghệ</em> chờ mua báo. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong nỗi lo sợ người dân biết sự thật hiện tình đất nước, trong nỗi bất an của quyền lực, báo <em>Văn Nghệ</em> bị qui kết xa rời sự lãnh đạo của đảng. Nguyên Ngọc phải thôi chức tổng biên tập chỉ sau hơn một năm nỗ lực mang đến cho báo sức sống mạnh mẽ và lành mạnh, làm cho tờ báo thực sự là tiếng nói của bổn phận và lương tri công dân, tiếng nói của bổn phận và lương tri sĩ phu với đất nước. Đầu năm 1989, nhà thơ Hữu Thỉnh về quản lí báo <em>Văn Nghệ</em> thay thế Nguyên Ngọc. Báo <em>Văn Nghệ</em> lại trở về là chiếc tủ kính bóng bẩy nhưng lặng ngắt trưng bày những mặt hàng văn chương gia công cho tuyên giáo, lại trở về an phận làm tờ báo công cụ của tuyên giáo và cung kính hướng thượng, đón ý quyền lực. Không cần hướng đến nhân dân. Không cần hướng đến cuộc sống đất nước. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyên Ngọc, sinh năm 1932 cùng các nhà văn Nguyễn Đình Thi 1921, Bùi Hiển 1919, Nguyễn Văn Bổng 1921, Nguyễn Khải 1930… là lứa nhà văn ít nhiều có nền tảng văn hoá giáo dục Pháp, nền giáo dục dạy con người kiến thức văn hoá nhân loại, dạy tư thế và tư cách con người nhân loại, con người tự do sáng tạo, làm giầu có thêm kho tàng văn hoá nhân loại. Hữu Thỉnh sinh năm 1942, lớn lên trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở vùng Pháp chiếm đóng. Mười tuổi đã bị lính Pháp bắt về đồn làm lao dịch. Miền Bắc sạch bóng giặc Pháp, Hữu Thỉnh mới được cắp sách đến nhà trường xã hội chủ nghĩa, tiếp nhận nền văn hoá, giáo dục xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục coi giáo dục lí tưởng cộng sản và đào tạo con người công cụ là mục đích.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đương nhiên Trần Huy Quang và tôi cũng là sản phẩm của nền giáo dục đào tạo công cụ và chúng tôi đã mất cả những năm tháng dài sung sức nhất, đẹp nhất, quí giá nhất của cuộc đời làm công cụ cầm súng đi vào cõi chết mở rộng lãnh thổ cai trị của đảng cộng sản trên cả đất nước. Quang và tôi đều có may mắn sống sót trở về. May mắn hơn nữa là thực tế cuộc đời và trí tuệ, lương tâm đã thức tỉnh chúng tôi. Tôi đã từ bỏ đảng cộng sản và từ bỏ Hội Nhà văn Việt Nam mà nhiều người vẫn gọi là Hội Nhà văn Hữu Thỉnh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đứng đầu Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2021, hơn hai mươi năm Hữu Thỉnh ồ ạt đưa vào hội khá đông những người hoàn toàn thiếu vắng cảm hứng văn học. Không có hồn nhân văn để cảm hứng về thân phận con người mà chỉ có con người công cụ tuyên truyền. Không có cảm hứng của nghệ sĩ sáng tạo, chỉ có cảm hứng vay mượn, cảm hứng áp đặt của tuyên giáo. Chỉ có cảm hứng phơi phới đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Phơi phới tự hào cho họ say sưa ngợi ca cuộc cách mạng ngược tiến trình lịch sử, cho họ niềm vui sướng, thoả mãn của bên thắng cuộc trong cuộc chiến tranh đau thương, tủi nhục người Việt giết người Việt. Hơn hai chục năm đứng đầu Hội Nhà văn, Hữu Thỉnh đã nâng số hội viên từ hơn bốn trăm lên hơn một ngàn. Ngoài những cây bút có cá tính sáng tạo, lặng lẽ với trang văn, hàng trăm hội viên được Hữu Thỉnh kết nạp chỉ là một dàn đồng ca theo chiếc đũa chỉ huy của ban tuyên giáo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Là bí thư đảng đoàn Hội Nhà văn, Nguyên Ngọc viết <em>Đề dẫn</em> của hội xác định con người cá nhân, con người tự do và con người nhân loại của nhà văn, nhìn nhận những hạn chế lịch sử của đội ngũ nhà văn công nông và đòi hỏi trách nhiệm nhà văn với thời đại, với đất nước, với nhân dân. Đứng đầu báo <em>Văn Nghệ</em>, Nguyên Ngọc đưa tờ báo hoà nhập vào cuộc sống, nói tiếng nói trung thực của cuộc sống đất nước, mang lại sức sống lành mạnh, cường tráng cho tờ báo. <em>Văn Nghệ</em> trở thành thực phẩm bổ ích, cần thiết trong đời sống văn hoá của đông đảo người dân. Đưa số lượng phát hành <em>Văn Nghệ</em> từ năm ngàn lên hơn trăm ngàn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đứng đầu <em>Hội Nhà văn</em>, hàng năm Hữu Thỉnh chạy đến cơ quan phân bổ ngân sách quốc gia nỉ non xin tiền, xin ô tô cho hội. Xin được tiền, Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh hớn hở: Nhà nước vẫn nuôi anh em chúng ta! Mỗi năm người đứng đầu Hội có cả chục tỉ tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân vung vinh tiêu xài trong sinh hoạt hội, rộng rãi ban phát ân sủng cho hội viên với tên gọi “Đầu tư sáng tác”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiền “Đầu tư sáng tác”cho hội viên cũng là tiền đầu tư phiếu bầu, cho Hữu Thỉnh đứng đầu Hội Nhà văn liền bốn khoá. Cũng là tiền mua ngòi bút, mua linh hồn nhà văn. Các nhà văn hầu hết đều là công chức, viên chức, có lương ổn định. Tác phẩm được xuất bản có nhuận bút. Nay lại có khoản tiền mưa móc “Đầu tư sáng tác”. Những nhà văn đích thực đều cúi mặt ngậm ngùi. Một số hội viên như Nguyên Ngọc, Ý Nhi dứt khoát không nhận đồng tiền móc túi ngân sách, đồng tiền ăn vạ mồ hôi nước mắt của dân và không thể tiếp tục là hội viên một tổ chức ăn bám nữa. Còn những hội viên ngửa tay nhận tiền “Đầu tư sáng tác” thì cứ hoan hỉ sung sướng trong dàn đồng ca.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đứng đầu báo <em>Văn Nghệ</em>, Hữu Thỉnh chạy đến các cơ quan quyền lực Hà Nội xin đất vàng kinh kì rồi phân lô cấp cho người của báo. Trần Huy Quang được báo <em>Văn Nghệ</em> thời Hữu Thỉnh cấp đất làm nhà ở phố Nguỵ Như Kontum trong khu thủ đô mở rộng khang trang, hiện đại ở Mỹ Đình. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giao lô đất mưa móc được Hữu Thỉnh ban phát cho con, Quang vẫn ở căn gác nhà 56 phố Bà Triệu. Nhà thơ Vân Long mua được nhà, chuyển đến nhà mới, nhượng lại nửa gian nhà cho Quang. Có cả gian nhà rộng rãi trên gác hai nhìn xuống phố Tây sang trọng trung tâm thủ đô nhưng khi nghỉ hưu, Quang về sống trên mảnh đất của cha ông để lại ở Kẻ Mơ, Quỳnh Minh, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Gian nhà trên gác hai phố Bà Triệu chỉ như lãnh sự quán để Quang đi về gặp gỡ bầu bạn, tiếp nhận hơi thở đời sống văn chương, nắm bắt thời sự hoạt động nghệ thuật ở trung tâm văn hoá đất nước. Đi về giữa kẻ chợ Hà Nội và Kẻ Mơ Quỳnh Lưu, Quang như đi về giữa hiện tại và quá khứ. Đi về giữa nỗi buồn thăm thẳm và niềm vui nhỏ bé. Đi về giữa nơi bon chen thật giả khôn lường và miền yên tĩnh. Đi về giữa chốn day dứt và nơi thanh thản.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Xem <a href="https://www.procontra.asia/?p=6543">phần 2</a>, <a href="https://www.procontra.asia/?p=6545">phần 3</a>, <a href="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/04/03.04.2023-Pham-Dinh-Trong-Linh-Nghiem-cua-cuoc-doi.pdf">toàn bài trong bản PDF</a>)</p>



<p class="wp-block-paragraph">© Phạm Đình Trọng và Pro&amp;Contra</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ba bảy đường</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6525</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 08 Mar 2023 13:12:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.procontra.asia/?p=6525</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Sau giai đoạn huy hoàng đánh thuốc lá lậu quy mô lớn đóng vai trò tích lũy nguyên thủy gây dựng cộng đồng, người Việt thuộc các đợt di cư tiếp theo sang Đức đã tỏa ra nhiều lĩnh vực khác, ngày càng đa dạng. Làm mi làm móng; làm bếp nóng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau giai đoạn huy hoàng đánh thuốc lá lậu quy mô lớn đóng vai trò tích lũy nguyên thủy gây dựng cộng đồng, người Việt thuộc các đợt di cư tiếp theo sang Đức đã tỏa ra nhiều lĩnh vực khác, ngày càng đa dạng. Làm mi làm móng; làm bếp nóng cơm rang mì xào, bếp nguội cuốn sushi; giữ kho, giao hàng, bồi bàn pha nước, phụ hồ, bó hoa, sơn sửa, cạy cửa, trồng rau, hái dâu, nhặt nấm, cắt tóc, khuân vác, dọn rác, cờ bạc, cò mồi, lau chùi, nhặt ve chai, trông trẻ, buôn đồ cổ, trồng cỏ, đòi nợ, <a href="https://www.procontra.asia/?p=6157">công ty hai ngón</a>. Phụ nữ Việt, không ít người bán dâm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không thấy phụ nữ bán thân để mưu sinh, mưu cầu hạnh phúc hay vì bất kỳ một lý do nào khác đáng khinh bỉ hay thương hại. Chúng ta đều tồn tại bằng cách bán chác những gì mình sở hữu hoặc không sở hữu và cả những thứ nẫng trộm hay cướp trắng của người khác. Bán óc sao lại sang trọng hơn bán trôn? Phe chống hợp pháp hóa mại dâm cho rằng gái điếm không bán thân thể mà bán phẩm giá, trong khi nhà văn như tôi chỉ bán một sản phẩm ngôn ngữ, và hai thứ đó không thể đánh đồng. Song tôi trút vào kỹ năng viết của mình không ít hay nhiều phẩm giá hơn cô gái điếm trộn nó vào kỹ năng tình dục; tuy nhiên vấn đề không phải ở đó, vì phẩm giá là thứ không mua hay bán được, mà nó bị đánh mất hay bị tước đoạt. Nhà văn có thể <em>đi khách</em> tinh thần, bán văn cách cho thị hiếu hay đạp lên chữ mà tiến thân và đánh mất phẩm giá của ngòi bút – tuy điều này hiếm khi giết chết một tác giả. Cô gái điếm có thể bị tước đoạt phẩm giá, song cô bị cưỡng bức hạ nhục chỉ trong một khoảng thời gian giới hạn và được thù lao theo thỏa thuận, vẫn hơn chán vạn những phụ nữ trọn đời làm nô lệ không công, làm đệm giảm xóc và thảm chùi chân, làm túi đấm và con ở, làm ống nhổ và khe phun cho các đấng ông chồng trong cái thiết chế xã hội được mệnh danh là hôn nhân và gia đình. Phẩm giá cũng có ba bảy đường.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Gái điếm</em> bỏ nghề được coi là <em>hoàn lương</em> hay <em>phục hồi nhân phẩm</em>. Ngôn ngữ có thể tàn nhẫn như vậy. Song <em>vốn tự có</em>, như cách gọi mỉa tấm thân của <em>gái ngành</em>, chân thực hơn hẳn vốn đa cấp từ lùa gà lừa đảo, vốn ảo thổi khống của hàng loạt tập đoàn kinh tế từng là niềm tự hào quốc gia, hay vốn nhà nước tái cơ cấu để thất thoát. <em>Lấy lỗ làm lời</em>, như thành ngữ hiện đại, thậm <em>cynic</em> so với hình ảnh <em>bán trôn nuôi miệng </em>mộc mạc, là loại kinh doanh lương thiện hơn hẳn chiêu trò chuyển giá báo lỗ để ăn lời tránh thuế của rất nhiều doanh nghiệp ông lớn. <em>Làm gái</em>, như cách nói mặc nhiên khinh rẻ toàn bộ phái nữ, là làm một công việc thực sự đầu tư và tiêu hao sức lao động, hơn hẳn những <em>job</em> hờ vờ vịt như thường gặp ở giới công chức bàn giấy nhà nước. Tiếng Việt là một hiện trường bề bộn không ai buồn thu dọn; chúng ta thản nhiên dùng những từ ngữ đầy bỉ bôi kỳ thị như thế, thậm chí thấy thú vị, dễ mua vui.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một cô <em>gái nghề</em> ở Berlin kể với tôi rằng ở Quảng Bình quê cô, không nói ra nhưng ai cũng biết đàn bà con gái sang đây làm gì là tốt nhất. Danh nghĩa là đi Đông Âu xuất khẩu lao động, song có mất trí mới bỏ ra nửa tỷ để ngồi im ở Tiệp hay Hung. Ai cũng bỏ hợp đồng, tìm đường sang Đức. Chẳng ai bị lừa bán vào lầu xanh hết. Người trước dắt người sau, có <em>đường đi lối về</em> thông tỏ cả. Cho thuê thân xác có vẻ là con đường giải thoát ngắn và ít rủi ro nhất cho những phụ nữ Việt không có gì ngoài một đống nợ và một kế hoạch đổi đời. Các nghề khác, may mắn thì hai năm hay lâu hơn, nếu không sa chân vào sàn bay và máy đánh bạc, mới trả hết nợ. Nghề này, tiếp bảy tám khách một ngày, 30 phút năm chục, một tiếng tám chục chưa kể tiền <em>tip</em>, mỗi tháng cũng để ra được dăm ngàn, nửa năm là xong vé. Làm thêm một năm nữa rồi có thai đúng thời điểm là đủ tiền mua một ông bố Đức cho con và cho mình <em>ăn theo con</em>. Cô may mắn được một khách quen thương, cưới làm vợ. Cô bảo, Tây nó thoáng lắm chị ạ, họ chẳng <em>lăn tăn</em> mình xuất thân thế nào. Cô đang làm thủ tục đón hai đứa con sang đoàn tụ, thằng Tây nhà em yêu tụi nhóc lắm. Vợ chồng đã về Quảng Bình thăm quê, được Ủy ban Nhân dân xã đón tiếp như doanh nhân thành đạt. Doanh nghiệp của cô bây giờ là đại lý cho thiên đường hạnh phúc. Lo khám sức khỏe, tiêm tránh thai định kỳ cho chị em, thuê phòng, đầy đủ chăn gối thơm tho và bao cao su chất lượng tốt, hậu cần cơm nước, chụp ảnh, quảng cáo, điều phối khách, dàn xếp xung đột. Trăm thứ việc, hưởng phần trăm vừa phải, không cắt cổ như nhiều má mì khác. Cô không cưỡng ép, không bóc lột, lại kiêm cả chức năng công đoàn nên được tín nhiệm. Từ nghề này đi lên, cô biết. Nước Đức cho phép mại dâm nhưng cấm môi giới, song chị em mới sang bỡ ngỡ lắm, cô cầm tay chỉ việc, giúp cho đến khi họ ra tự lập, cô không phải là hạng Tú Bà. Tôi hỏi, thế em có như nàng Kiều không? Cô cười rộ, úi, em mà Kiều thì thằng Tây nhà em là Từ Hải chắc? Hay Kim Trọng?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Việt Nam chắc chắn đã vượt qua Thái Lan trong ngành mại dâm ở Đức. Nhiều người ngạc nhiên, hiện tượng này khó giải thích bằng văn hóa cộng sản và truyền thống Khổng giáo. Song tình dục chính là hệ thống van đặc dụng của chiếc nồi áp suất chính trị và đạo đức. An toàn, không tốn ngân sách, dễ điều chỉnh. Trong tác phẩm <em>Praha thác loạn</em> (<em>The Prague Orgy, </em>1985) của Philip Roth, nhân vật dâm nữ cuồng nhiệt Olga, người có cặp đùi đẹp nhất Praha, tuyên bố rằng đụ là tự do duy nhất còn lại ở đất nước này mà <em>chúng nó</em> không thể và cũng không cần đình chỉ. Nàng than phiền, có chủ nghĩa xã hội để làm gì nếu không ai chịu đụ nàng. Cả đống vĩ nhân thế giới đến Tiệp, nào Heinrich Böll, nào Carlos Fuentes, nào Graham Greene, nhưng chẳng ma nào đụ nàng. Sartre cũng vác mặt sang, Sartre không đụ nàng. Simone de Beauvoir theo Sartre sang, cũng không đụ nàng. Tất cả chỉ mải quan sát chính quyền Tiệp đàn áp nhân dân và viết kiến nghị mong cứu Tiệp Khắc, nhưng người ta chỉ có thể cứu Tiệp Khắc nếu đụ Olga. Nàng đòi nhà văn Mỹ cưới và đưa nàng ra khỏi Tiệp Khắc. Nếu không, ngay đêm nay nàng sẽ đi cuỗm một xe tăng Liên Sô để tự sát. Olga là vợ một nhà văn Tiệp lừng danh lưu vong ở phương Tây mà Milan Kundera là nguyên mẫu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nàng Kiều của tôi ở Berlin chưa bao giờ nghĩ về tự do tình dục và càng không nghĩ đến cứu nước. Nàng chỉ tự cứu mình. Hoàn toàn thiết thực, chủ động, bất chấp định kiến, không cần ai thương vay khóc mướn, không cam chịu thân phận, không diễn vai nạn nhân. Kiều cũng&nbsp; ba bảy đường. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>, 09/3/2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trước kia toàn bộ chiến thuật thời trang của tôi là phòng thủ</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6517</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 17 Feb 2023 13:50:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Người Việt hải ngoại]]></category>
		<category><![CDATA[Phụ nữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa-Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Issey Miyake]]></category>
		<category><![CDATA[Số đỏ]]></category>
		<category><![CDATA[thời trang]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6517</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Trước kia toàn bộ chiến thuật thời trang của tôi là phòng thủ. Giữ, đỡ, che chắn một pháo đài hình trụ quá ngắn và quá vô lý, lép chỗ cần lồi để lồi chỗ cần lép. Tôi không thể đàng hoàng đi giày bệt vì sợ lệt xệt làm một chiếc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước kia toàn bộ chiến thuật thời trang của tôi là phòng thủ. Giữ, đỡ, che chắn một pháo đài hình trụ quá ngắn và quá vô lý, lép chỗ cần lồi để lồi chỗ cần lép. Tôi không thể đàng hoàng đi giày bệt vì sợ lệt xệt làm một chiếc nấm mọc cả những ngày không mưa. Giày quá cao cũng không dám. Loạng choạng trên một tấc chân hai tấc giày là cách che giấu mặc cảm lộ liễu nhất có thể. Áo xống cũng thế, dài ngắn đều dở, xòe cụp chẳng xong, long đong đi tìm một kích cỡ chỉ cần đỡ phản thùng đã là may mắn. Thế hệ tôi, được bom đạn đỡ đầu và tem phiếu nuôi dưỡng, không sinh ra cho những ngoại hình thiếu tương thích với phong cách cộng sản thời chiến. Nếu mặc quần đen áo cánh, mũ cối trên đầu, bùn đất dưới chân, ngang lưng thắt xà cột và tay cầm một khẩu súng dài, tôi hoàn toàn đáp ứng thẩm mỹ anh hùng ca chủ đạo thời ấy. Làm o du kích nhỏ áp giải một &#8220;thằng giặc Mỹ&#8221; béo bụng cao lênh khênh.</p>



<figure class="wp-block-image size-full"><img loading="lazy" decoding="async" width="181" height="239" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/02/O-du-kich-nho-1.jpg" alt="" class="wp-image-6520"/></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Từ đồng phục của &#8220;thời đại Hồ Chí Minh&#8221;, tôi nhảy một cú kỳ diệu vào đồng phục của Cộng hòa Dân chủ Đức. Ngày đầu mặc chiếc áo khoác liền mũ màu cứt ngựa, bên trong lót một lớp lông giả, tên dân dã là <em>Kutte</em> &#8211; áo thầy tu -, tràn ngập thiên đường xã hội chủ nghĩa châu Âu rất lạnh ấy tôi thấy mình thật xa xỉ, có lỗi với cha mẹ vẫn đang ăn bo bo ở nhà. Sáu năm tiếp theo tôi mất hẳn định hướng, dao động từ sinh viên cần kiệm có hai bộ thay đổi là được đến xé khăn trải giường nhuộm chói chang màu châu Phi <em>hippie</em> nổi loạn, rồi Levi’s xịn, hiển nhiên từ Tây Đức, thách thức quần bò tự chế phía Đông. Học xong về nước, tôi là một thước rưỡi phình trên loe dưới, ở giữa là một khúc mía hai đốt vàng nhạt khẳng khiu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dù sao, tôi đã cố gắng. Con người mới ở cả Việt Nam lẫn Đông Đức thuở ấy chỉ cấu thành từ nội dung. Tôi được nhồi rất nhiều kiến thức về bên trong để không biết gì về bề mặt. Chưa bao giờ tôi thực sự dùng áo xống làm thủ pháp dựng chân dung một nhân vật. Vả lại, văn học Việt Nam rất ít quan tâm đến trang phục. Có thể truyền thống &#8220;văn dĩ tải đạo&#8221; đã loại trừ từ đầu tất cả những gì bị coi là phù phiếm. Và bề ngoài là phù phiếm. Ngoại hình thường chỉ được phác họa bằng vài nét cách điệu, nam mặt vuông thân rộng, nữ mắt phượng mày ngài. Hoặc có thể, cho đến cách đây không lâu, người Việt quả thật chỉ sở hữu vài món phục sức không đáng để miêu tả chi tiết. Phụ nữ chân quê áo tứ thân, khăn mỏ quạ; đô thị thì khăn nhung quần lĩnh, khuy bấm áo cài. Có lần tôi chọc Nguyễn Huy Thiệp rằng trong truyện của anh, các bà quý phái mặc áo phin nõn và các cô gái sang chảnh mặc áo <em>pun</em>, quần <em>gin</em> hay quần <em>côn</em> là hết. Anh bảo, thế là sang chứ đòi gì nữa, dân mình có gì mặc nấy, không đóng khố chạy rông là may rồi. Các nhân vật văn chương kinh điển mà học trò Việt Nam phải thuộc lòng tính cách, giá trị tư tưởng, giá trị nhân văn và nhiều thứ giá trị tít mù khác đều tiết kiệm vải. Xiêm y của Thúy Kiều là cả một vấn nạn quốc gia. Nàng vận đồ ta hay đồ Tàu? Nam Cao cho Chí Phèo về làng với cái áo tây vàng và chiếc quần nái đen. Ông chỉ tiết lộ có thế, như đã không tiếc lời đặc tả gương mặt Thị Nở, song cũng chỉ cấp cho thị một cái áo chung chung nào đó, một cái yếm xẹo xọ và một cái váy xộc xệch màu đen. Chị Dậu trong <em>Tắt đèn</em> cũng chỉ được trang bị một mê nón, một dải yếm, một vuông khăn. Mị, A Phủ, bà vợ nhặt, anh Núp…, tất cả đều thuần túy là nội dung. Duy nhất Vũ Trọng Phụng cho trang phục một chỗ đứng trong <em>Số đỏ</em> để mổ xẻ công cuộc cải cách bề ngoài của một xã hội Á đông bảo thủ trước áp lực văn minh hóa tân thời. Song Xuân Tóc Đỏ của ông là con chó ngáp phải ruồi thời trang, khác hẳn chẳng hạn Patrick Bateman của Bret Easton Ellis, hiện hữu bằng thời trang và không gì khác ngoài thời trang, thấy việc giết một <em>hot girl</em> là đích đáng, bởi nàng hào nhoáng mà không nhìn ra sắc xám, xanh đen và nâu trầm của Emporio khác của Armani: một khác biệt bản thể.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau bao nhiêu trầm luân, tôi tưởng mình đã ổn định một gu trang phục không đến nỗi tệ. Ít nhất tôi không mặc các loại rèm cửa mà từ nhân dân đến đầy tớ của nhân dân đều mê. Hay váy áo búp bê. Hay đầm công chúa. Hay sơ-vin công sở. Hay áo vét cán bộ màu be. Hay những cành tre khóm cúc bên trên hai ống quần màu sẫm, dùng cho mọi hoàn cảnh mà không sợ thất cách. Hay những tà áo dài quết đất ngây ngất <em>polyester</em> kim tuyến cho những dịp cần long lanh hơn. Tôi cũng đủ trí khôn để không trình bày mình như một sưu tập nữ tính với chân váy nhún, áo bánh bèo và giày thắt nơ. Hay hợp mốt trung lưu hơn, như một xe tạp hóa leng keng, từ bộ đầm hở trọn vai u cổ ngấn trưng một bảng những chữ cái MK, LV, GG, CC, CD, CK gì đó đến chiếc mũ – mà nhà văn họ Vũ chắc phải đặt tên là mũ <em>Đừng hỏi trong đầu tôi có gì</em> – yểm trợ mái tóc vẫn phi-dê từ thế kỉ trước nhưng đã qua mấy chục lượt thuốc màu. Đó là chưa kể tôi không thể dù có muốn mặc như đang gọi vốn cho một tấm thân đang chờ thủ tục khởi nghiệp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trang phục không phải chuyện vặt, nó thay đổi hình dung của chúng ta về thế giới và hình dung của thế giới về chúng ta. Virginia Woolf nói thế, nhưng rất lâu tôi mới hiểu. Nếu không là Marcel Proust, Truman Capote, Joan Didion hay Susan Sontag thì một nhà văn sống ở xứ lạnh chỉ cần một chiếc áo len, màu đen, cổ lọ, <em>cashmere</em> nếu có thể, là đủ. Để phát biểu một lần rồi xong rằng tôi còn nhiều việc khác, nhà đang bận. Rằng đừng nhìn cái tôi đắp lên da thịt mà cái tôi rút từ ruột gan. Rằng tôi khiêm nhường mà kiêu hãnh, dân dã mà tinh hoa, tiện lợi mà bí hiểm, tôi tự tại và vĩnh cửu với màu đen. Song không phải trên người tôi, không phải trên người Samuel Beckett với xì-tai ăn mặc nổi tiếng chẳng kém phong cách văn chương &#8211; thậm chí đeo túi Gucci vẫn trí thức thuần chủng -, chính chiếc áo len cổ lọ ấy nhưng ở Steve Jobs đã bẻ gãy chiến thuật thời trang phòng thủ cả lúc ngủ của tôi. Nói đúng hơn, không phải nó, không phải Steve Jobs, mà tác giả của nó, Issey Miyake<a id="_ednref1" href="#_edn1">[1]</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông là nụ hôn khai sáng thân thiện nhất cho những kẻ cự tuyệt mốt miếc như tôi đã từng. Còn gì khiếp đảm hơn những chiếc váy xếp li mà Mary Poppins, các mẹ nội trợ, các nàng thư ký và bà nội bà ngoại nhiều thế hệ đã chốt chặt vào một nữ tính dậy mùi của hôm qua; một nữ tính nhỏ nhoi, vô hại, đại trà; một nữ tính không dám chạm vào ai và rụt rè mong mình được chạm khẽ. Nên tôi đã sốc vì hạnh phúc trước những trang phục <em>Pleats Please</em> của ông. Chúng dễ dàng thành lớp da thứ hai của tôi, cho lớp da thứ nhất rất nhiều không gian chuyển động và cộng hưởng. Chúng cống hiến <em>silhouette</em> tối giản, chất lượng hảo hạng và chất liệu bất ngờ. Chúng đẩy tự do của người mặc đi rất xa, vì chúng lắng nghe tôi, tôi không cần lắng nghe chúng. Đó không phải là thứ thời trang chớp nhoáng vụt đến vụt đi và để lại sự thèm khát vô độ. Không dàn dựng tự sự bằng <em>storytelling</em>, nghệ thuật truyền đạt những thông điệp sâu xa mà thực ra chỉ là tán tỉnh kiểu mới, chào hàng ngày càng tinh vi, ngày càng ràng buộc, phét lác đủ thứ trừ tiết lộ lãi ròng. Không bồi thêm một kênh truyền thông nữa trên bề mặt. Không phủ lên con số 0 to tướng thêm một lớp sơn. Thậm chí không nhất thiết phá phách cách tân và tất nhiên không <em>blah blah</em> trong hội chợ của phù hoa xa xỉ. Thời trang hoàn toàn có thể khải thị.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nên tôi đọc lại <em>Số đỏ</em> bằng một cặp mắt khác. Những bộ cánh xuất hiện trong tiệm <em>Âu hóa</em> của bà Văn Minh gần một thế kỷ trước: cái quần <em>Hãy chờ một phút</em>, cái coóc-sê <em>Ngừng tay</em>, bộ <em>Lời hứa</em>, bộ <em>Chiếm lòng</em>, bộ <em>Kiên trinh</em>, bộ <em>Lưỡng lự</em> che một bên hở một bên, bộ <em>Dậy thì</em> hở cánh tay và hở cổ, bộ <em>Ngây thơ</em> hở đến nách và hở nửa vú, bộ <em>Chinh phục</em> hở ngực hở đùi, bộ <em>Nữ quyền</em> bắt chồng khiếp sợ… có thể phản cảm; những tín đồ của chúng có thể lố bịch; song như thế vẫn ngàn lần tốt hơn cố thủ trong một thẩm mỹ cổ hủ, vừa xuề xòa dễ dãi vừa khắt khe giáo điều của xã hội phong kiến khép kín. Chiếc áo dài biểu tượng dân tộc đã định hình trong chính buổi giao thời bon chen nhăng nhố ấy, chứ không phải là sáng tạo của một Mẹ Âu Cơ hoang đường nào.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Người Việt hôm nay trọng hình thức hơn bao giờ hết. Mốt bình dân vui vẻ ve chai hàng chợ. Mốt trưởng giả <a href="https://ngoisao.vnexpress.net/le-nam-va-loat-sao-viet-mac-do-ngu-ra-san-bay-4493455.html">diện đồ ngủ Louis Vuiton ra sân bay</a>. Mốt <em>hot boy</em> chuẩn trai Hàn mặt hoa da phấn. Mốt <em>hot girl</em> đốt mắt, cắt khoét, bạo liệt, <a href="https://nld.com.vn/van-nghe/btc-hoa-hau-viet-nam-2022-len-tieng-ve-trang-phuc-xuyen-thau-cua-a-hau-phuong-anh-20221225214321189.htm">trong veo</a>. Mốt trung lưu đi tìm một cá tính riêng giống hệt cá tính của người bên cạnh với H&amp;M, Zara, Uniqlo. Mốt bà lớn phốp pháp trong áo dài tuyết nhung nhùn nhũn. Mốt ông lớn dắt bụng và đồng hồ đi chơi <em>gôn</em>. Mốt phu nhân <em>hack</em> tuổi. Mốt áo gió cho đại gia sa lưới. Mốt văn nghệ sĩ hiện đại đeo kính tròn John Lennon. Mốt về nguồn, nàng <a href="https://eva.vn/tin-tuc/thieu-nu-ho-bao-chen-nhau-chup-anh-duoi-dam-sen-no-ro-o-ho-tay-c73a395947.html">yếm sồi đầm sen</a>, chàng áo the khăn xếp. Mốt hoài niệm thuở cách mạng còn trinh trắng, xanh thắm màu thanh niên xung phong. Lại một buổi giao thời nhố nhăng. Phô trương, ô trọc, nhảm nhí, sến súa, chảnh chọe, đua đòi, xô bồ, hời hợt và là cơn ác mộng vô tận với những tâm hồn quá thanh khiết. Song ít nhất nó cống hiến cơ hội cho một số cách tân và biểu hiện đa nguyên bề mặt. Có thể nó lừa mị, ru ngủ, che phủ bản chất bất khả thay đổi của thể chế. Song dù thế nào, tự do hình thức bề ngoài vẫn ngàn lần tốt hơn nền độc tài của những nội dung đạo lý và thuần phong mỹ tục nào đó. Phòng thủ, như tôi đã từng, là tất cả trừ tự do.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tuần báo Trẻ, 16/2/2023</em></p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ednref1" id="_edn1">[1]</a> Người duy nhất từng một lần mặc đồ của Issey Miyake ở Việt Nam là ca sĩ Hồng Nhung, song không được ghi nhận mà <a href="https://ngoisao.vn/hau-truong/chuyen-lang-sao/hong-nhung-mac-ao-cat-khoet-tao-bao-khi-di-uong-ca-phe-cung-ban-trai-tay-370167.htm">bị chê sấp mặt</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trọn gói tâm linh</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6511</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Jan 2023 13:30:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Văn hóa-Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Tết]]></category>
		<category><![CDATA[thờ cúng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6511</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Trong các phong tục Tết, tôi ớn nhất cúng bái. Cúng ông Công ông Táo 23 tháng Chạp, cúng Tất niên chiều 30, cúng Giao thừa đêm 30, cúng Nguyên đán mồng Một, cúng Chiêu điện sáng mồng Hai, cúng Tịch điện chiều mồng Hai, cúng hóa vàng mồng Ba, cúng Khai [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong các phong tục Tết, tôi ớn nhất cúng bái. Cúng ông Công ông Táo 23 tháng Chạp, cúng Tất niên chiều 30, cúng Giao thừa đêm 30, cúng Nguyên đán mồng Một, cúng Chiêu điện sáng mồng Hai, cúng Tịch điện chiều mồng Hai, cúng hóa vàng mồng Ba, cúng Khai hạ mồng Bảy, cúng Thần tài Thổ địa mồng Mười, cúng Nguyên tiêu rằm tháng Giêng. Trong vòng chưa đầy một tháng cả chục cú không cúng không được, người ta cúng cả, thuộc về gói cúng cơ bản, chưa kể gói <em>combo </em>những cúng rước cúng tiễn, cúng chay cúng mặn, cúng trong nhà cúng ngoài trời, cúng tảo mộ cuối năm, cúng khai trương xuất hành đầu năm, cúng cầu an giải hạn, cúng bổn mạng và các vụ cúng kiếng đền chùa lễ hội đầu Xuân. Như chạy nước rút. Chạy <em>deadline</em>. Chạy sô. Chạy thành tích tâm linh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không bàn về đức tin. Tín ngưỡng là chuyện riêng của mỗi cá nhân, như khuynh hướng tình dục hay gu ẩm thực, mọi tác động từ bên ngoài đều vô ích. Sau tất cả những cấm đoán và khai sáng, người Việt mọi tầng lớp và mọi thế hệ vẫn trông cậy vào một thế giới vô hình với những thế lực siêu nhiên linh tinh mà sự vô dụng là phẩm chất ổn định nhất. Nếu thiêng thì số phận dân tộc này đã khác. Thiên Chúa giáo và Cộng sản giáo, hai tôn giáo sau này mới du nhập, vốn không dung thần thánh nào ngoài hệ thống, cuối cùng cũng phải chấp nhận chung sống với những nhu cầu tâm linh đầy cội nguồn bản sắc song cũng đầy mông muội hoang đường của người Việt.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dân ta thờ không chừa thứ gì: thờ cóc và thờ rùa; thờ cây đa, cây gạo, cây đề; thờ nõ nường chày cối; thờ thần giữ cửa và thần giữ của; thần chém lợn, thần hót phân và thần lầu xanh mày trắng; Ông Hổ, Ông Rắn, Ông Đạo và Ông Bình vôi; Ông Mãnh Bà Cô và Ông Đùng Bà Đà; Bà Trưng Bà Triệu, Bà Hỏa, Bà Mụ và Bà Đụ Đị; Cô Bé, Cô Bơ và Cô Chín; Quan Văn, Quan Võ, Quan Âm Bồ tát và Quan Âm Thị Kính; Thánh Trần, Thánh Mẫu, Thánh giá và Thánh Gióng; Đức Khổng, Đức Ông, và Đức Chúa; Chúa Kho, Chúa Chổm và Chúa Giê-su; Vua Hùng, tướng Cao Biền, Cha Cả Bá Đa Lộc và Cha già Hồ Chí Minh; Đức Mẹ Maria và Đức Mẹ Âu Cơ; Tứ pháp, Tứ mẫu, Tứ bất tử và Tứ trụ Triều đình; Trạng Trình, Trạng Quỳnh và Trạng Lợn; ma Then, ma xó, ma nữ, ma đói và ma Hời…</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đã thờ thì phải cúng. Cúng trời cúng đất; cúng nước cúng rừng; cúng trăng cúng lúa; cúng Mẫu cúng Phật; cúng Cô cúng Cậu; cúng làng xóm, họ tộc, gia tiên; cúng đình chùa am miếu; cúng nhà cúng chợ; cúng thuyền cúng bến; cúng động thổ, xây cổng, chuyển nhà, cất nóc; cúng kỵ cúng giỗ; cúng tuần, cúng tạ mộ; cúng đầy cữ, đầy tháng, đầy năm; cúng Tơ hồng, cúng Thanh minh, cúng Vu lan báo hiếu; cúng trừ tà đuổi vong; cúng chiêu hồn thỉnh vong; cúng dâng sao yểm bùa; cúng thầy mo thầy chùa; cúng trình đồng mở phủ; cúng Sóc cúng Vọng; cúng khai trương công ty; cúng thi tốt nghiệp; cúng chuyển văn phòng; cúng trúng dự án; cúng tránh thanh tra… Sểnh ra là cúng. Nhất cử nhất động đều tiền trạm bằng sì sụp hương khói vái lạy, như mọi động thái tồn tại chỉ xác thực sau cúng<em> phây</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong cái thị trường cầu cúng sôi động đó, món báng bổ &#8220;<em>Ni dieu, ni maître</em>&#8221; của tôi ế nhưng chưa bao giờ bị cõi trên trừng phạt. Các vị ấy rộng lượng, hoặc bỏ sót, chẳng thấy vị nào triệu tôi lên làm việc. Rốt cuộc thì một đời sống tâm linh như thế chứ không thể khác chính là thứ phù hợp nhất với người Việt. Dân ta quen khai thác những tài nguyên tinh thần lộ thiên. Thần thánh phải dễ nhớ, dễ hiểu, dễ gần, dễ điều khiển, dễ chế biến pha trộn, thậm chí dễ cóp, <em>fake</em>, nhái. Lễ bái phải dân dã bỗ bã, xô bồ náo nhiệt; thiếu an toàn, thiếu văn minh chút ít cũng được, cốt ở lòng thành và tính gắn kết. Hệt như những cuộc nhậu. Sớm muộn rồi văn hóa nhậu lừng danh của Việt Nam sẽ vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. &nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song tôi ghét khói nhang. Sặc mùi hóa chất Trung Quốc rẻ tiền, buôn lậu và sử dụng vô tội vạ bởi người Việt. Bát hương thờ người chết trở thành cái bẫy nguy hiểm cho người sống. Quấn chặt quanh những chân hương bụi bặm bẩn thỉu, bất di bất dịch, lưu cữu từ đời này sang đời khác mà lẽ ra phải vứt nhanh vào thùng rác không phải linh khí khỉ gió gì hết, mà đơn giản là <em>acid phosphoric</em>, <em>phosphor pentoxide</em>, diêm tiêu, mùn cưa, lưu huỳnh, bột đá và đủ thứ phế phẩm mạt hạng, có lẽ đã góp phần đẩy <a href="https://ungthutuyengiap.org/ty-le-mac-benh-ung-thu-o-viet-nam-dung-thu-2-the-gioi.html">tỷ lệ ung thư ở Việt Nam</a> lên hàng đầu thế giới. Mỗi dịp năm mới Xuân về là cả nước mù mịt hít khói độc. Chẳng lẽ để về nhanh hơn với tổ tiên?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cũng ghét bàn thờ ngày Tết. Đó thực sự là một siêu thị hiện đại, thánh đường của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Dăm bảy loại bánh mứt nguyên hộp. Rượu. Bia. Cà phê. Nước khoáng La Vie. Coke. Một rừng đào quất mai lan. Một mâm ngũ quả chắn trọn mặt tiền, điểm những trái ớt đỏ nhức mắt cầu lộc. La liệt sơn hào hải vị từ Bim Bim, Bò Cười đến Lipton. Như thể chật chỗ trong bếp thì khuân hết lên đó, dẹp bớt các cụ. Di ảnh cụ bà nép vào di ảnh cụ ông và cả hai lưu vong sang ban thờ Phật. Phật cũng xơi luôn cỗ mặn vốn dành cho gia tiên. Đĩa bánh chưng nhét góc này, bát mọc góc kia, còn lại thì kê tạm chiếc bàn, trải thêm manh chiếu, miễn là bao nhiêu lòng thơm thảo phải bày ra bằng hết. Phải ê hề như thế, phải chen chúc hỗn độn như thế mới ra bàn thờ kiểu Việt. Lý tưởng thẩm mỹ của dân ta trước sau vẫn là sự thừa mứa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Và trước hết tôi kinh hãi cỗ cúng, thường là một tập hợp hổ lốn của những giáo điều tùy tiện. Bốn bát bốn đĩa tứ trụ bốn mùa bỗng phát lộc thành bốn bát sáu đĩa; rồi sáu đĩa sáu bát; phát đại lộc thì sáu đĩa tám bát và nhất định phải là số chẵn cho tròn trặn, số lẻ thì thất kính với thần linh. Tuyệt đối thiếu vệ sinh. Bất chấp mọi nhận thức về dinh dưỡng. Đầy những nghĩa lý khiên cưỡng. Hoa hoét sặc sỡ. Là tất cả, chỉ trừ ngon miệng. Nỗi kinh hoàng thiêng liêng ấy kéo dài suốt Tết, bưng lên dọn xuống, hết bữa này hâm lại sang bữa kia, thịt thâm sì, miến nhũn nhoét, giò chả lạnh ngắt, nem ỉu, măng đóng váng, xôi khô gãy răng, cá tôm tanh ngòm, món xào ngả sang những màu chỉ có thể gọi là rùng rợn, khó hủy diệt như nước mắm cũng bay sạch mùi. Như một chiến trường thê thảm sau vụ đánh chén của cả bầy <em>zombie</em>. Như thể cõi âm hâm hưởng hết ngon lành, chừa lại cho dương gian một triền miên ác mộng ẩm thực. Đỉnh cao của mâm cúng luôn là một con gà. Luộc. Nhạt nhẽo, nhàm, nhố nhăng. Gà trống mà ngày càng giống hoa hậu đi thi. Da con nào cũng óng mượt không tì vết, thần thái cùng một khuôn phép em đẹp em ngoan, em ngậm hoa hồng, em cựa dài cổ ngỏng, em vui cõng miếng tiết đỏ sậm của chính mình trên lưng và xòe cánh tiên thật khéo – dù đôi cánh ấy bị xuyên chéo và tàn bạo tọng vào họng. Chậm nhất từ mốt gà tạo dáng siêu mẫu lõa lồ, chút nghiêm cẩn cuối cùng sót lại nơi bàn thờ cũng theo hương khói bay đi. Ở cõi bên kia, thần linh và các cụ an toàn hơn, không bị dội bom tấn của <em>lifestyle</em> thời đại.</p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/01/Ga-sieu-mau.jpg" alt="" class="wp-image-6512" width="839" height="559" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/01/Ga-sieu-mau.jpg 372w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/01/Ga-sieu-mau-300x200.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 839px) 100vw, 839px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Gà cúng tạo dáng siêu mẫu</em></figcaption></figure>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/01/Ban-tho-Ho-Chu-tich.jpg" alt="" class="wp-image-6513" width="839" height="551" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/01/Ban-tho-Ho-Chu-tich.jpg 349w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2023/01/Ban-tho-Ho-Chu-tich-300x197.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 839px) 100vw, 839px" /><figcaption class="wp-element-caption"><em>Gà xòe cánh tiên, ngậm hoa hồng trên bàn thờ Hồ Chủ tịch</em></figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Lối sống thời đại cũng gắn liền với một loại hình dịch vụ vô cùng phù hợp với người Việt: dịch vụ trọn gói. Dân ta thực ra chỉ cần một hợp đồng sống trọn gói, không cần tự nghĩ, tự lo, tự làm, tự vận động, tự mơ ước, tự hỉ nộ ái ố gì cả, từ A đến Z có bề trên bao hết. Thế là sướng nhất. Đi với lý tưởng thẩm mỹ thừa mứa là lý tưởng sống nhàn. Thần linh thời nay ngày càng lắm yêu sách, quá vất vả, quá nhiều thủ tục phải chu tất, đâu phải cứ biện lễ mọn dâng lòng thành là xong. Nên các dịch vụ trọn gói tâm linh nở rộ. Muốn thần được thần, muốn thánh được thánh. Từ văn khấn soạn sẵn chỉ cần điền tên, túi Chanel hàng mã, lá sớ và <em>set</em> đồ cúng dường, gói hầu đồng <em>combo</em> quay phim chụp ảnh, đến mâm cúng đúng chuẩn tâm linh. Gì cũng có, tùy tiền và tâm. Mở ngoặc: Đồng tiền đi sau tâm là đồng tiền dại, đồng tiền đi trước tâm là đồng tiền khôn, đóng ngoặc. Thần và người đất Việt là đối tác chiến lược toàn diện muôn đời.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>22/1/2023</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trước kia tôi mê bóng đá</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6504</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 27 Dec 2022 00:19:33 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Thể thao]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Bóng đá]]></category>
		<category><![CDATA[CR7]]></category>
		<category><![CDATA[Messi]]></category>
		<category><![CDATA[World Cup]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6504</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Trước kia tôi mê bóng đá. Tất nhiên là bóng đá quốc tế. Thế hệ tôi không niệm thần chú những Thể Công, Trọng Hùng, Cao Cường, Ba Đẻn nữa. Chúng tôi, giới văn nghệ và kẻ sĩ miền Bắc, lười vận động cả óc lẫn tứ chi, chém gió bằng những [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước kia tôi mê bóng đá. Tất nhiên là bóng đá quốc tế. Thế hệ tôi không niệm thần chú những Thể Công, Trọng Hùng, Cao Cường, Ba Đẻn nữa. Chúng tôi, giới văn nghệ và kẻ sĩ miền Bắc, lười vận động cả óc lẫn tứ chi, chém gió bằng những cái tên danh thủ ngoại quốc mà dân chúng còn không biết đánh vần. Hòa cùng đám đông, chen vai thích cánh trước một màn hình đen trắng, nghe tiếng được tiếng mất, đồng thời đứng trên đám đông ấy ít nhất một bậc, kể vanh vách những chi tiết chỉ biết lõ mõ, là một cảm giác rất cám dỗ. Nàng Thơ của chúng tôi hình trái bưởi mặc áo da, bốn năm một lần nhằm lúc đêm khuya xuất hiện, ở lại trên dưới hai tiếng đồng hồ đến rạng sáng. Song thức canh với nàng hoàn toàn xứng đáng, hôm sau hay hôm sau nữa và cả cuộc đời còn lại đằng nào cũng không có gì để làm. Cũng chẳng có gì để nói. Nên chúng tôi vung vít những việt vị hay thậm chí <em>liệt vị</em>, những đội hình và vùng cấm địa, những đổ bê tông phản công giăng lưới ghi bàn, những phạt đền phạt góc, những đánh đầu đánh gót, những rê và vê, những dắt những chuyền bổng chuyền sệt, những tâng và đỡ, những chặt bóng và hất bóng, vờn bóng và lừa bóng. Chúng tôi ăn bóng đá ngủ bóng đá. Chúng tôi sút xoáy từ miệng người này sang mồm người kia. Chúng tôi thăng hoa mỗi pha thủng lưới. Chúng tôi chạm vào ngữ pháp bề sâu và chức năng tối thượng của bóng đá. Chúng tôi bàn chiến lược chiến thuật sân cỏ như thần. Như Thánh Giáp đánh trận mà không nướng quân. Bên nào thua thì chúng tôi cũng thắng vì được đứng cùng hàng ngũ, nói cùng ngôn ngữ với một nhân loại văn minh dù chẳng bao giờ có cơ hội giao tiếp. Đầu những năm tám mươi ở Việt Nam, xem bóng đá tư bản qua vệ tinh Liên Sô là hiểu biết thế giới, cấp tiến mà an toàn, không làm tổn thương lập trường giai cấp. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nhắm một mắt trước tinh thần tứ hải giai huynh đệ túc cầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi vẫn ở lại với bóng đá một thời gian dài nữa, khi tất cả những điều nói trên ít nhiều đã tan như tuyết của mùa Đông năm trước. Trận tứ kết Đức – Argentina năm 2006 tại nước chủ nhà, tôi còn đi vỡ tim trong một sân khán giả gầm rú dù biết rõ đó không là chỗ của mình. Tôi khó mụ mẫm tới mức đem mười một cặp giò của những người đàn ông từ một thế giới song song lạ hoắc làm bảo chứng cho dân tộc, tổ quốc và thậm chí cả số phận tôi. Tôi khó ngồi uống bia nhai lạc, chẳng làm gì ngoài tiêu thụ thành công hay thất bại của kẻ khác mà lại tự đắc như thể sự ăn theo hạng bét của mình đang cổ vũ cho những chân lý hay giá trị hạng nhất nào đó. Tôi khó bột phát nã vào đầu một viên đạn như cô gái mười tám tuổi Amelia Bolanios ở El Salvador mùa Hè 1969 khi nước này thua Honduras 0-1 ở vòng loại cho World Cup năm sau, châm ngòi cuộc Chiến tranh Bóng đá giữa hai quốc gia lân bang khiến 6000 đệ tử túc cầu nữa thiệt mạng. Cuối cùng thì El Salvador cũng rửa được nhục, lần đầu tiên góp mặt trong Giải Vô địch 1970 tại Mexico, để thua trắng, không vớt vát nổi một bàn thắng danh dự ngay từ vòng bảng. Tôi cũng khó mơ tưởng rằng vẻ đẹp của mọi nghệ thuật đủ biện minh cho sự điên rồ. Nếu một cuộc chiến Đàng Trong &#8211; Đàng Ngoài lại nổ ra thì có lẽ không vì Nguyễn-Nguyễn phân tranh, giữa những người hâm mộ văn tài Nguyễn Ngọc Tư và tín đồ của thiên tài Nguyễn Huy Thiệp. Rốt cuộc tôi chưa thấy ai rú rít, phùng mang trợn mắt, nhe nanh múa vuốt, trở về trọn vẹn bản năng thú vật để bày tỏ khoái lạc khi thưởng thức một câu thơ kiệt xuất của Nguyễn Du.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dĩ nhiên tôi có thể mô phỏng Marx, một lần nữa biết rồi khổ lắm nói mãi, rằng bóng đá là thuốc phiện cho nhân dân, hoặc dẫn lời giải thích không thể cô đọng hơn của bậc huynh trưởng thông tuệ Jorge Luis Borges, rằng &#8220;<em>bóng đá phổ biến, vì sự ngu si phổ biến</em>&#8220;. Song ở vô số khía cạnh của đời mình, tôi cũng nhận thức một đằng sống một nẻo. Nicolas Chamfort, tác gia của trường phái Luân lý Pháp thế kỷ 18, tự nhận rằng mình sống một cuộc đời phản bội các nguyên tắc của chính bản thân. Ông chống đối chế độ quân chủ, nhưng lại vui lòng phục vụ một ông hoàng và một bà chúa. Ông tranh đấu cho chế độ cộng hòa, nhưng lại có rất nhiều bạn bè quý tộc đầy tước lộc của hoàng gia. Ông ghét xa hoa, chọn lối sống thanh đạm, nhưng lại thích giao du với giới giàu sang phú quý. Ông khinh bỉ mọi giải thưởng và các kiểu xưng tụng, nhưng được trao thì vẫn sướng. Ông coi văn chương là niềm an ủi duy nhất, nhưng lại tránh tiếp xúc với những văn nhân sáng giá và xa lánh các hoạt động của Viện Hàn lâm. Ông tin rằng ảo tưởng là tối cần, nhưng bản thân tuyệt không có một xu ảo tưởng. Ông coi trọng đam mê hơn lý trí, nhưng không cảm thấy mình còn một đam mê nào nữa. Bản liệt kê của tôi chắc chắn dài hơn, trong đó chuyện bóng đá có lẽ còn là vô hại nhất. Song cai nghiện đã khó, cai ngu còn khó hơn. Tôi đã gửi phần mùi mẫn đa cảm cuối cùng của mình đi cách ly, nhận về hóa đơn điều trị bệnh lãng mạn hóa một môn thể thao đại chúng. Tôi đã rút dần sự hào phóng từ mười phút đến hết, khi cái ngu của bản thân lên đồng. Tôi đã tặng mình đủ thời gian để chuyển sang chán, ghét và sau rốt gần như dửng dưng với nó, bóng đá, niềm say mê một thuở.  </p>



<p class="wp-block-paragraph">Dĩ nhiên bạn có thể kể ra 1000 lý do yêu, tôi chỉ có 999 lý do ghét bóng đá. Nếu cần thì <a href="https://chat.openai.com/chat">ChatGPT</a> sẽ cung cấp đủ chứng cứ và lập luận cho cả hai phía, tranh cãi hoàn toàn vô nghĩa. Với cá nhân tôi, bóng đá đã hết cả giải trí lẫn thẩm mĩ, chỉ còn là một sự nhàm chán ầm ĩ đắt đỏ. Trên sân cỏ chỉ còn là những sản phẩm chuẩn hóa cho cùng một phân khúc cao cấp của thị trường. Các giải bóng đá, các cuộc thi hoa hậu, điện ảnh Marvel, <em>shopping mall</em>, đều chung nguyên tắc của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc: từ nụ cười, nét mặt, huy hiệu, com-lê đến bình trà và đường ngôi thẳng tắp đều giống nhau như lột. Cả những xăm trổ để các cầu thủ bày tỏ cá tính cũng giống nhau nốt. Vợ các chàng càng không thể phân biệt, từ hình dáng, phong cách đến túi xách, như sinh ra từ cùng một lò <em>cloning</em>. Các sân vận động, thánh đường của tôn giáo bóng đá, càng ngoạn mục tân kỳ càng cùng một khuôn đúc của quyền lực chung sức với lợi nhuận kếch xù. Bóng đá hiện đại có thể tráng kiện hơn, tốc độ hơn, tổ chức và kỹ thuật cao hơn, song từ lâu đã đánh mất linh hồn của thể thao thuần khiết, hóa kiếp thành những thương vụ khổng lồ, thâu tóm bởi một hệ thống tài phiệt toàn cầu ngày càng độc quyền, kiểm soát bởi một hệ thống kỹ trị ngày càng tinh xảo, triệt tiêu tưởng tượng và ngẫu hứng, loại trừ rủi ro và mạo hiểm, hy sinh hạnh phúc và niềm vui. Thời của một Johan Cruyff và các đồng đội da cam hồn nhiên cháy sáng đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ. Bây giờ trên sân là các đa triệu phú tác chiến cho một ý chí thương mại ngày càng tàn khốc. Tôi đã không bỏ ra 90 phút xem Messi và Mbappé lần này tranh tài: Bên nào thua thì ông chủ Qatar của Paris Saint-Germain cũng khải hoàn. Chỉ cần thắng là tiền thối đổ vào bóng đá cũng thơm phức. Như Chelsea với Roman Abramovich. Biết đâu, rồi Bayern Munich một ngày sẽ về tay ông Phạm Nhật Vượng, người Việt sẽ không cần dùng chân để chinh phục túc cầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi chia tay với bóng đá cũng vì tệ sùng bái lãnh tụ ở đó, bất kể tại các xứ dân chủ hay độc tài. Với Pep Guardiola, người duy nhất có tư duy bẻ gẫy hệ thống, bóng đá châu Âu thành công suốt một thập kỷ bằng giải tỏa cấu trúc cấp bậc, xây dựng sức mạnh tổng thể, giới hạn cơ chế siêu sao và đưa hành vi chuyền bóng – cử chỉ nguyên thủy của tình đồng đội – thành biểu tượng của phong cách Tiqui-Taca nổi tiếng một thuở. Song nhu cầu thần thánh hóa các cá nhân nổi bật thuộc về bản chất mọi hoạt động đại chúng mà trường phái bóng đá vị nghệ thuật ấy không thể đáp ứng. CR7 là thần tượng điển hình nhất của thời đại mà bóng đá càng băng hoại và mục ruỗng thì công chúng càng đặt cược vào một người đàn ông có cái Tôi vĩ đại, nam tính phô phang, thu nhập siêu nhiên và đôi chân phi thường. Tôi có cảm tình với Messi hơn, người càng chín càng tối giản. Bình thản. Trầm tĩnh. Không lăng xăng trình diễn. Không phí công khi không cần thiết. Thậm chí như vô can, nhưng đã vào cuộc thì có thể xuất thần và đóng vai trò quyết định. Song bất hạnh cho bóng đá, hôm nay Hoàng đế Messi vừa lên ngôi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Văn chương vẫn còn may mắn: văn chương không có vua. Chúng ta chưa phải chứng kiến đội tuyển văn học Pháp đấu với đội tuyển văn học Argentina mà mọi ống kính chỉ đặc tả những sợi tóc lơ thơ rủ xuống gương mặt trí thức bơ phờ của siêu sao Michel Houellebecq. Vẫn Jorge Luis Borges đã khuất của văn học Argentina ra lời phán quyết, rằng phát minh ra bóng đá là tội ác lớn nhất với nhân loại của nước Anh. Trong truyện ngắn viễn tưởng “<em>Esse Est Percipi</em>” viết năm 1967, ông đã thấy hiện thực bóng đá chỉ còn là một hư cấu thuần túy, do nhân viên kỹ thuật chế tạo trong phòng thu và diễn viên khoác đồng phục thể hiện trước ống kính. Tất cả chỉ là nghệ thuật PR cho một đại chúng muốn được lừa phỉnh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">18/12/2022</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>, 22/12/2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nếu Cách mạng Tháng Mười là một tin đồn</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6498</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 27 Oct 2022 17:20:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Cách mạng Tháng Mười]]></category>
		<category><![CDATA[Hải Triều]]></category>
		<category><![CDATA[Lenin]]></category>
		<category><![CDATA[Maxim Gorky]]></category>
		<category><![CDATA[Stalin]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6498</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Ngày 18/10/1917, Maxim Gorky viết trên tờ Sống Mới (Новая Жизнь) về tin đồn là hai ngày tới phe Bolshevik sẽ ra tay. Ông hình dung ngay &#8220;một đám đông vô tổ chức, bản thân mình muốn gì còn không biết, sẽ ào ra đường, kéo theo một lũ phiêu lưu, trộm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngày 18/10/1917, Maxim Gorky viết trên tờ <em>Sống Mới</em> (<em>Новая</em><em> </em><em>Жизнь</em>) về tin đồn là hai ngày tới phe Bolshevik sẽ ra tay. Ông hình dung ngay &#8220;<em>một đám đông vô tổ chức, bản thân mình muốn gì còn không biết, sẽ ào ra đường, kéo theo một lũ phiêu lưu, trộm cướp và giết người chuyên nghiệp để đi làm công cuộc lịch sử là cách mạng Nga</em>.&#8221; Ông đoán, hẳn cũng như trong vụ bạo loạn thất bại hồi đầu tháng Bảy, rồi tất cả những bản năng tăm tối của một đám đông đã thấm đẫm độc ác, hằn thù và khát máu sẽ lại được thổi bùng, và khi sự ngu si thú vật xổng chuồng thì con người chỉ còn đè nhau ra chém giết. Ông đòi Trung ương Đảng Bolshevik phải lên tiếng chặn đứng tin đồn khủng khiếp ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu Cách mạng Tháng Mười là một tin đồn, có lẽ chiến tranh Ukraine bây giờ đã không xảy ra, nhận định của triết gia Nga Semyon Frank rằng mọi tai họa của thế kỷ 20 khởi nguồn từ biến cố ấy sang thế kỷ này vẫn còn hiệu lực. Song những người Bolshevik chẳng những không cải chính mà trên tờ <em>Sự Thật</em> (<em>Pravda</em>), Stalin còn đắc chí xỉa xói: Gorky và đám trí thức yếu bóng vía ở <em>Sống Mới</em> muốn gì? Muốn biết trước ngày khởi nghĩa để nhanh chân vù sang Phần Lan chắc? Đừng cậy danh tiếng, cách mạng Nga chẳng nghiêng mình trước tên tuổi vĩ đại nào đâu. Đúng một tuần sau, Chiến hạm Rạng Đông nổ pháo lệnh tấn công Cung điện Mùa Đông, hiện thực chỉ chậm hơn tin đồn năm ngày.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Maxim Gorky, <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/The_Song_of_the_Stormy_Petrel">con chim báo bão của cách mạng vô sản</a>, không &#8220;vù&#8221; đi đâu mà có mặt ở cả hai tâm bão, Petrograd và Moskva, trở thành chứng nhân của &#8220;<em>mười ngày rung chuyển thế giới</em>&#8221; từ một góc nhìn khác. Trong gần 60 bài báo nhan đề &#8220;<a href="https://www.amazon.de/Untimely-Thoughts-Revolution-Bolsheviks-Literature/dp/0300060696"><em>Những suy tư bất hợp thời</em></a>&#8221; nóng bỏng, ông tiếp tục kịch liệt phê phán cuộc cách mạng Bolshevik, thẳng thừng vạch mặt chỉ tên Lenin, người mà ông từng đồng hành và gắn bó, cho đến khi tờ <em>Sống Mới</em> bị Lenin đích thân ra sắc lệnh cấm cuối tháng Sáu 1918. Ông viết: &#8220;<em>Lenin, Trotsky và đồng đội đã bị ngấm nọc độc hủ bại của quyền lực; thái độ ô nhục của họ về tự do ngôn luận, tự do cá nhân và mọi quyền tự do khác, vốn là lý tưởng tranh đấu của nền dân chủ, đã chứng tỏ điều đó. Những kẻ cuồng tín mù quáng và đám phiêu lưu bất lương đã vội vàng phi thẳng đến cái gọi là &#8216;cách mạng xã hội&#8217;. Nhưng trong thực tế, đó là con đường dẫn đến vô chính phủ, dẫn đến sự hủy diệt giai cấp vô sản và cách mạng vô sản. Trên con đường ấy, Lenin và đồng đội đã sẵn lòng chấp nhận mọi tội ác, như vụ thảm sát ở Petrograd, vụ hủy diệt ở Moskva, việc xóa bỏ quyền tự do ngôn luận và hàng loạt vụ bắt bớ. Lenin chỉ theo đuổi một cuộc thử nghiệm trên da thịt của giai cấp vô sản và bằng máu của giai cấp vô sản, chỉ muốn đẩy tinh thần cách mạng của họ đến tột cùng để xem điều gì sẽ diễn ra.</em>” Nhiều lần ông nhấn mạnh rằng những gì tinh túy nhất của giai cấp vô sản sẽ bị nướng trụi trong cuộc thử nghiệm tàn bạo đó, song nghiêm trọng hơn cả là trong một thời gian rất dài, sau thất vọng ê chề về lý tưởng cộng sản cao đẹp, giai cấp tiên phong của dân tộc Nga sẽ mất toàn bộ ý chí và viễn kiến về tương lai. Ông khẩn thiết kêu gọi công nhân Nga đừng giơ đầu chịu báng, đừng để mình bị lôi kéo vào cuộc cách mạng giả trá đang diễn ra, vì đó chỉ là cú phóng hết ga lao xuống vực thẳm của một nhóm phiêu lưu cuồng tín bất chấp cả danh dự lẫn sinh mệnh của người vô sản. Và trước hết, đừng đặt lòng tin vào Lenin, bởi ông ta không phải là một nhà ảo thuật quyền năng mà chỉ là một vai hề máu lạnh, kẻ quả thật có những phẩm chất xuất chúng nên đã tự cho phép mình cái quyền chơi một ván cược mạo hiểm trên lưng dân Nga, một dân chúng mà ông ta – vốn xuất thân quý tộc &#8211; chưa từng cùng cảnh ngộ, chỉ biết qua sách vở nhưng rất hiểu cách chiếm đoạt tâm hồn họ, xách động họ, quất cho những bản năng thú vật của họ lồng lộn, bởi lẽ cách lôi kéo người Nga dễ nhất là cho họ quyền được đê tiện. Người Nga mà 85% là nông dân cùng quẫn, u mê, nát rượu, nóng nảy, gian trá và chỉ mơ thành Kulak không thể là đồng minh mà ngược lại, chính là kẻ đào mồ chôn cuộc cách mạng của giai cấp vô sản. Ván cược lịch sử của những người Bolshevik chỉ làm ô danh giai cấp vô sản, đẩy nước Nga vào cơn ác mộng của đói khát, bạo lực, tù đày, cấm đoán, kích thích tất cả những thú tính kinh hoàng nhất mà người Nga tích tụ dưới thời Nga hoàng và triệt tiêu tất cả sức mạnh trí tuệ và năng lượng đạo đức của đất nước này. &#8220;<em>Lenin không phải là người được lịch sử giao phó sứ mệnh xới tung cái tổ kiến tồi tàn hỗn loạn mà thế giới gọi là nước Nga này. Ông ta chỉ dùng nước Nga làm mẻ vật liệu đầu tiên cho một cuộc thử nghiệm toàn thế giới</em>.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đó là những nhát búa tạ, không phải &#8220;một vài bất đồng nhất thời&#8221; như sau này các linh mục của giáo phái văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa &#8211; mà Gorky là giáo hoàng &#8211; khéo léo né tránh. Khi Khủng bố Đỏ dâng cao, hàng loạt nhân vật danh tiếng trong vòng thân quen nhất của Gorky bị bắt và hành quyết, đồng thời xung đột trong mối quan hệ đầy thăng trầm giữa Gorky và Lenin cũng lên tới đỉnh cao, nhà văn cuối cùng phải ra đi để nhà độc tài ở lại. Nhưng Gorky không bị cưỡng bức di tản, dồn lên năm chiếc tàu mà sau này nổi tiếng dưới tên &#8220;Đoàn tàu Triết gia&#8221;, mỗi người được mang theo hai bộ quần áo, như hàng trăm trí thức Nga khác, trong đó có các triết gia Ivan Ilyin, Nikolai Berdyaev, Lev Karsavin, Semjon Frank, Nikolay Lossky… Ông cũng không chọn lưu vong như 1,2 triệu người Nga khác, trong đó có những tên tuổi nay thuộc về di sản văn hóa thế giới: Vladimir Nabokov, Isaiah Berlin, Ivan Bunin, Roman Jakobson, Wassily Kandinsky, Marc Chargall, Sergei Rachmaninoff, Alexander Alekhine, Sergei Diaghilev… Ông ra đi với danh nghĩa chữa bệnh ở những vùng nghỉ dưỡng nổi tiếng tại Đức, Tiệp và Ý, một phần do Vụ Ngoại thương Sô-viết đài thọ, giao lưu rộng rãi với giới văn nghệ cánh tả phương Tây và ấm áp trong vòng tay của gia đình cùng người tình Moura Budberg, người đàn bà bí ẩn &#8211; cho đến bây giờ không ai rõ vai trò của bà trong cả cuộc sống lẫn cái chết của hai văn hào lẫy lừng mà bà lần lượt và thậm chí có lúc đồng thời chung sống: Maxim Gorky và H.G. Wells -, có thể là một Mata Hari phiên bản Nga, điệp viên ba mang của cả Liên Sô, Anh và Đức.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau bảy năm tránh bão, Gorky về nước. Lenin đã là một xác ướp trong lăng và hàng ngàn tượng đài bên ngoài. Vợ ông, bà Krupskaya kiên trung, đã đưa xong Platon, Descartes, Kant, Schopenhauer, Nietzsche, Dante, Cervantes, Talmud, Kinh Cô-ran và Kinh Thánh vào danh mục sách cấm để các thế hệ tương lai không còn bị đầu độc. Cách mạng đã nuốt xong bầy con đầu và đang chờ lứa sau mau lớn. Trotsky đã bị trục xuất. Xã hội Sô-viết đã nằm im dưới gót ủng của Stalin, phần còn chút cựa quậy sẽ đơn giản là những con số trong mỗi ngày trên dưới 1000 án tử hình của hai năm Đại Khủng bố sắp đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song Gorky về nước, nhận Huân chương Lenin, biệt thự ở thủ đô và <em>dacha</em> ở ngoại ô, vào Trung ương Đảng, trở thành Chủ tịch Hội Nhà văn Sô-viết, khai sinh dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, lĩnh xướng dàn đồng ca cách mạng, dẫn đầu cuộc đấu tranh chống mọi tư tưởng phản động trong văn nghệ, và làm bệ cho những <a href="http://lainguyenan.free.fr/pk1948-58/index.html">tham vọng bác học của Stalin</a>, bạo chúa mê lý luận hàn lâm và nghệ thuật. Tai họa của giới văn nghệ sĩ trí thức ở phần lớn các quốc gia cộng sản gắn liền với sở thích học giả và thơ ca đàn sáo tranh pháo của các nhà lãnh đạo chính trị tầng cao. Buổi gặp mặt tròn 15 năm sau Cách mạng Tháng Mười, ngày 26/10/1932, tại <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Gorky_Museum">dinh thự lộng lẫy của Gorky ở Moskva</a> &#8211; một trong những công trình <em>Art Nouveau</em> đẹp nhất của kiến trúc sư tài năng Fyodor Schechtel, thiết kế riêng cho gia đình triệu phú <em>Ryabushinsky</em>, một doanh nhân và chính khách tư sản đã đào thoát ra nước ngoài – đi vào lịch sử trong sự mộ điệu quái gở ấy. Những đại diện sáng giá nhất của văn đàn Sô-viết ngồi bên bàn ăn phủ khăn thắp nến, kính trọng và run sợ, nguyền rủa và biết ơn, và trên hết là ghi lòng tạc dạ lời chỉ đạo thân mật của đấng cứu thế trong bộ quân phục nền xanh nẹp đỏ. Stalin yêu cầu các nhà văn phải là những &#8220;<em>kỹ sư tâm hồn</em>&#8220;, vì &#8220;<em>sản xuất tâm hồn quan trọng hơn hẳn sản xuất xe tăng, các đồng chí rõ chưa?</em>&#8220;. Đúng thôi, xe tăng khi đó chưa cần. Sản phẩm nổi tiếng nhất của chuyên chính vô sản Sô-viết thập niên hòa bình ấy là hệ thống Gulag. Không ai khác, chính Gorky đã đập tan mọi tin đồn độc địa ở phương Tây về quần đảo địa ngục ở thiên đường vô sản bằng một phóng sự hân hoan khi đến thăm trại cải tạo điển hình ở Solovski, nơi &#8220;<em>các tù nhân được hưởng một cuộc sống tuyệt vời và một sự giáo dục tuyệt vời</em>&#8220;, nơi những phần tử lầm đường lạc lối nhờ lao động mà phục hồi nhân phẩm và trở thành những con người mới của chế độ mới. 30000 tù nhân hạnh phúc đó đã bỏ mạng cho <a href="https://m.polit.ru/article/2005/07/01/klein/#_ftnref25">công trình vinh danh Stalin, Kênh Bạch Hải-Baltic</a> vĩ đại và vô dụng mà cũng chính Gorky không tiếc lời ca tụng. Ông đã góp phần không nhỏ vào nạn sùng bái Đại Nguyên soái. Cả cái chết bí ẩn của ông cũng có ích cho vị lãnh tụ. Nhóm đối thủ chính trị cuối cùng của Stalin bị thanh trừng trong Vụ án Moskva số 3, trong đó có giám đốc mật vụ khét tiếng Yagoda, vì tội giết hại thần tượng văn học Sô-viết; thư ký riêng và hai bác sĩ của Gorky cũng nhân tiện bị xử bắn. Ông yên nghỉ trên Quảng trường Đỏ, bên bức tường Điện Kremli, cách Lenin không xa, cùng dãy với bà Krupskaya tại nghĩa trang tưởng niệm những nhân vật lỗi lạc nhất của nhà nước Sô-viết.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong cáo phó trên tờ báo của Mặt trận Dân chủ Đông Dương ngày ông qua đời, 18/6/1936, nhà lý luận mác-xít tiên phong Hải Triều gọi Maxim Gorky là &#8220;<em>ông thầy tinh thần nhân loại tương lai</em>&#8220;. Không nhà văn thế giới nào quyết định diện mạo chính thống của nền văn học Việt Nam như ông, con chim ưng bay lên từ đáy xã hội Nga hoàng để hạ cánh ở chóp bu bộ máy cai trị Nga Sô-viết. Nabokov coi ông là một tác giả không đáng để ý của những tác phẩm hạng hai, nhưng là một hiện tượng ồn ào khá thú vị trong cấu trúc xã hội Nga. Chekhov ưu ái hơn, tin rằng tác phẩm của Gorky rồi sẽ bị lãng quên, nhưng con người Gorky thì ngàn năm sau khó ai không nhớ. Ông quả thật là nhân vật đáng nhớ nhất trong cuốn tiểu thuyết <em>larger than life</em> là chính cuộc đời mình, thấu kính bi tráng cho ánh sáng và bóng tối của một thời đại khốc liệt, mở ra từ Cách mạng Tháng Mười. Nếu sự kiện ấy là một tin đồn, xã hội và văn học Việt Nam hôm nay, 105 năm sau, sẽ hoàn toàn khác. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>, 27/10/2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngôn ngữ bá quyền</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6494</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 19 Aug 2022 06:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Ukraine]]></category>
		<category><![CDATA[Fyodor Dostoyevsky]]></category>
		<category><![CDATA[Joseph Brodsky]]></category>
		<category><![CDATA[Milan Kundera]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6494</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Trong một tiểu luận trên The New York Times Book Review năm 1985, Milan Kundera kể rằng ngay sau Mùa Xuân Praha ông bị treo bút. Một đạo diễn muốn giúp ông mưu sinh bằng cách đứng tên để ông chuyển thể tiểu thuyết Chàng ngốc của Dostoyevsky thành kịch bản sân [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong một tiểu luận trên <a href="https://archive.nytimes.com/www.nytimes.com/books/98/05/17/specials/kundera-variation.html"><em>The New York Times Book Review</em></a> năm 1985, Milan Kundera kể rằng ngay sau Mùa Xuân Praha ông bị treo bút. Một đạo diễn muốn giúp ông mưu sinh bằng cách đứng tên để ông chuyển thể tiểu thuyết <em>Chàng ngốc</em> của Dostoyevsky thành kịch bản sân khấu. Song khi đọc lại tác phẩm ấy, ông từ chối, dù chết đói cũng không thể bước vào &#8220;<em>cái vũ trụ đầy những điệu bộ quá khích, những vực thẳm u ám và sự mùi mẫn hung bạo</em>&#8221; của Dos. Không phải ông bài Nga từ tâm thế công dân của một quốc gia đang bị Liên Sô cưỡng chiếm. Ông vẫn giữ trọn tình yêu Chekhov, nhưng vô cùng dị ứng với thứ khí hậu trong các tác phẩm của Dos. Ở đó tất cả đều bị cảm xúc hóa và cảm xúc trở thành tiêu chí của chân lý, có thể biện minh cho mọi hành động. Tình cảm dân tộc cao quý nhất sẵn sàng biện minh cho tội ác khủng khiếp nhất và người ta nhiệt thành ưỡn ngực thực hiện những hành vi tàn bạo nhất nhân danh tình yêu. Quý vị cứ giết người đi, xong thì đấm ngực, phanh trái tim nồng nàn ra là được. Là trật tự đạo đức lại vãn hồi. Viên sĩ quan Sô-viết khám xe ông xong cũng tuyên bố rất yêu người Tiệp, tiếc rằng người Tiệp không chịu hiểu, không chịu chung sống với tình yêu đó, vì thế Liên Sô buộc phải dùng xe tăng để dạy Tiệp bài học về tình yêu. Tâm hồn Nga thừa cảm xúc mà thiếu lý trí và đại diện đáng ngại nhất là Dos. Đối trọng của nó là lý tính phương Tây, lên ngôi với Phong trào Phục Hưng, mở đường cho khu vực này bứt phá lên một tầm văn minh dẫn dắt thế giới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Không lâu sau, một bài viết phê phán Kundera kịch liệt và nồng nhiệt bênh vực Dos xuất hiện, <a href="https://www.nytimes.com/1985/02/17/books/why-milan-kundera-is-wrong-about-dostoyevsky.html">cũng trên trang <em>Book Review</em> của tờ <em>Times</em></a>, tác giả là một đại diện danh tiếng khác của văn giới Đông Âu lưu vong ở phương Tây: Joseph Brodsky.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi vốn thích Brodsky hơn Kundera nhiều. So với nhà thơ Nga chói chang, giễu cợt, ngạo nghễ và tráng lệ ấy thì nhà văn Tiệp thâm trầm quảng bác kia luôn có chút gì như một công chức văn hóa quá mực thước. Lần này tôi cũng thích lập luận của Brodsky hơn, rằng không thể đơn giản đem thời cuộc vận vào nghệ thuật như thế, bởi lẽ nghệ thuật lâu đời và tất yếu hơn tất cả những thứ trọng đại, nào chính trị, nào tín điều, nào phe phái và hình thái tư tưởng. Và nếu Kundera đã quyết trộn cả Dos, Liên Sô, phương Đông, chủ nghĩa duy cảm vào cùng một bản cáo trạng thì cũng nên rà lại cái phương Tây văn minh kia, vì rốt cuộc thì bộ <em>Tư bản</em> được dịch từ tiếng Đức sang tiếng Nga, và bóng ma cộng sản đậu xuống phương Đông sau khi đã lang thang khắp phương Tây duy lý. Một lần nữa trí tuệ riết róng của Brodsky phân tích, rằng cặp phạm trù Tốt-Xấu của chúng ta nguyên ủy là sự phân biệt Đẹp-Xấu, là cảm quan mỹ thuật trước khi phái sinh thành cảm quan đạo đức phân biệt Thiện-Ác. Mỹ học quyết định nhân cách, đạo đức và tư tưởng chứ không ngược lại. Một sự cẩu thả nhỏ nhất trong chữ nghĩa có thể kéo theo một quyết định sai lầm trong cuộc đời. Người có thẩm mỹ vững chắc, nhất là trong phong cách, khó rơi vào cái bẫy của những điệp khúc thô thiển và những bùa chú rộn ràng đặc trưng cho mọi hình thức chính trị mị dân.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Brodsky vẫn cực đoan như thường lệ, song lần này sự võ đoán của ông không ngoạn mục như những khi nó thuần túy là vũ khí để chàng hiệp sĩ cuối cùng của nghệ thuật ngôn từ ấy bảo vệ thánh địa thơ ca. Lần này nó xông ra, khá dữ tợn, để nhiếc móc Kundera và những ai không ưa Dos, tất nhiên không chừa cả Nabokov &#8211; người đồng hương lừng lẫy mà những phán xét thậm tệ về Dos đã thành huyền thoại -, và để giương cao ngọn cờ Dos còn thì văn hóa Nga còn. Văn hóa Nga còn thì đế chế Nga còn. Brodsky sống đời cầm bút như một mệnh lệnh tuyệt đối về tinh thần duy mỹ của cá nhân người nghệ sĩ, đứng ngoài mọi hệ lụy của thể chế và thời cuộc. Song nhà thơ đã đối đầu không khoan nhượng với đế chế Sô-viết ấy lại nuối tiếc một Tổ quốc là đế chế Nga hay đế chế văn hóa Nga mênh mông, nơi tiếng Nga yêu dấu của ông là ngôn ngữ bá quyền và cùng với nó là sự bá chủ của văn học Nga. Điểm mù ấy của ông rồi sẽ kéo theo một khoảng tối bất ngờ, một vết nhơ trên ve áo tuyệt đẹp của một bản lĩnh nghệ thuật khác thường.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xung đột của ông với Kundera không ngẫu nhiên. Trước vụ hạ bệ Dos nói trên, trong tiểu luận vang dội <a href="https://zzzreview.com/2019/07/31/mot-phuong-tay-bi-bat-coc-hay-bi-kich-cua-trung-au/"><em>“Un Occident kidnappé, ou la tragédie de l’Europe centrale</em>”</a> trên tạp chí <em>Le Débat</em> năm 1983, Kundera đã nêu bật sự khác biệt giữa Trung Âu và Nga, miêu tả &#8220;bi kịch của Trung Âu&#8221; trong sự giằng xé giữa phần hồn là cội nguồn văn hóa vốn thuộc về châu Âu và phần xác là hệ thống chính trị đã bị Nga đô hộ, và đưa ra luận điểm: Trung Âu là phần phương Tây &#8220;<em>bị bắt cóc, phải lưu vong, chịu tẩy não nhưng vẫn luôn kiên trì bảo vệ căn tính của mình</em>&#8220;. Một hội thảo văn học vài năm sau ở Lisbon chứng kiến chiến tuyến giữa phe Nga với sự tham gia của Brodsky và phe Trung Âu với sự ủng hộ của các nhà văn phương Tây có mặt như Susan Sontag, Salman Rushdie, Derek Walcott, phê phán chủ nghĩa thực dân của nhà nước Sô-viết, đặc biệt là chính sách Nga hóa ngôn ngữ và văn hóa của mọi dân tộc trong đế chế cộng sản đó. Brodsky kiên quyết bác bỏ quan điểm mà ông cho là bài Nga mù quáng và vô dụng ấy của các nhà văn Tiệp, Ba Lan, Hungary và Nam Tư, trong đó có người bạn vong niên thân thiết Czesław Miłosz. Nhưng đó chưa phải điểm dừng của một mê lộ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi Ukraine tuyên bố độc lập, rời Liên bang Sô-viết năm 1991, Brodsky viết tác phẩm đặc biệt nhất trong sự nghiệp của mình, bài thơ &#8220;<em>Về nền độc lập của Ukraine</em>&#8221; (<a href="https://russianuniverse.org/2017/02/27/joseph-brodsky-on-ukrainian-independence/">На независимость Украины</a>). Nhà thơ từng tuyên bố, cứ chống Sô-viết là đứng về phía lẽ phải, bỗng giận tím tái vì bọn nhãi Cô-dắc đầu trọc tóc mào dám hỗn hào bước khỏi quỹ đạo khổng lồ của nền văn minh Nga. Ông thấy mình và dân tộc Nga bị sỉ nhục bởi một lũ ly khai thô tục đang hí hởn đòi dựng một quốc gia Ukraine vốn chưa từng tồn tại. Ông mạt sát bằng những lời cay độc. Ông muốn nhổ một bãi xuống sông Dnepr cho nó chảy ngược về Nga. Ông đe, này đồ cặn bã, đồ chui ra từ lỗ nẻ, tưởng thế là ngon hả? Bỏ ta thì ta buồn năm phút, nhưng bọn Ba Lan hay bọn Đức sẽ cho mi nhừ đòn, rồi sẽ biết thế nào là ác mộng nhé. Mi muốn tàn đời trong u mê tăm tối hay sớm muộn sẽ rập đầu bó gối về với nước mẹ Nga thiêng liêng, hỡi đám nông nô vô ơn? Và ông tiên đoán: này lũ khốn, phút đau đớn cào giường cấu chiếu lìa đời, rồi mi sẽ quên sạch Taras (Shevchenko, thi hào Ukraine) nhảm nhí để thầm thì những áng thơ thứ thiệt của Alexander (Pushkin, thi hào Nga).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có thể Pushkin xuất sắc hơn Shevchenko hay ngược lại, song xung đột dân tộc không phải là một cuộc tranh tài thơ phú. Hãy hình dung, một nhà thơ Trung Quốc mỉa vào mặt người Việt rằng này lũ mọi, chống Tàu thì cứ việc, ta chẳng chấp, nhưng lúc chết thì mi sẽ quên phắt Nguyễn Du nôm na để ngẩn ngơ ngâm Đường thi Đỗ Phủ!&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đôi khi tôi biết ơn lịch sử đã không để tiếng Việt có cơ hội thành một ngôn ngữ bá quyền. Ngoài sự thống trị tuyệt đối với ngôn ngữ của 53 sắc tộc khác trong phạm vi bờ cõi – tiếng nói của người Kinh đương nhiên bá chủ &#8211; nó chưa bao giờ là một công cụ của quyền lực mềm, theo chân người Việt đi chinh phục thế giới. Ở hải ngoại hiện tại với 4 triệu người sử dụng, nó không thực sự truyền bá văn hóa Việt Nam, có chăng chỉ mong làm phần nước sốt rưới lên một món đồng hóa toàn cầu nào đó cho phảng phất mùi vị Việt. Chỉ số ảnh hưởng của nó không đáng kể, song chỉ số hòa bình có lẽ cao.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi đoán rằng Joseph Brodsky sẽ chẳng bận tâm nếu lãnh thổ hay quyền lực chính trị của đế chế Nga chỉ còn bằng kích thước con búp bê Matryoshka bé nhất khi lớp trong lớp ngoài đã tháo hết. Song sự nuối tiếc quyền lực của cái ngôn ngữ mà ông say đắm, trong một cơn đau mù quáng, đã biến một nhà thơ tận cùng duy mỹ thành một chiếc loa phóng thanh chính trị, dù <a href="https://archive.org/details/brodsky-on-ukrainian-independence-1992">bài thơ về Ukraine ấy</a> vẫn đậm thi pháp Brodsky. Nó được truyền thông Nga bình chọn là bài thơ xuất sắc nhất năm 2014, sau vụ sáp nhập Bán đảo Krym. Và trong cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine từ gần nửa năm nay, nó cũng nổi tiếng như một sản phẩm ngôn ngữ khác: chữ Z. Một thứ không hề có trong bảng chữ cái tiếng Nga. Một thứ xiển dương tiếng Nga bá quyền. Ngôn ngữ có thể dã man. Tình yêu có thể sát thương. Tình yêu ngôn ngữ có thể hủy diệt.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tuần báo Trẻ, 18.08.2022</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Buồn ơi, nhẹ thôi</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6491</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 14 Jul 2022 13:43:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Người Việt hải ngoại]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Franz Kafka]]></category>
		<category><![CDATA[Heinrich Mann]]></category>
		<category><![CDATA[Joseph Brodsky]]></category>
		<category><![CDATA[Lưu vong]]></category>
		<category><![CDATA[Walter Benjamin]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6491</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Bạn vừa công bố một nỗi buồn. Xen chút dỗi hờn, khi gặp lại một tác phẩm bạn dịch, bản đề tặng tôi, từ hàng sách cũ. Về chuyện này, có lẽ chỉ cần nói rằng gần hai mươi năm nay tôi xa Việt Nam là đủ. Tôi đã không tính đến [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Bạn vừa công bố một nỗi buồn. Xen chút dỗi hờn, khi gặp lại một tác phẩm bạn dịch, bản đề tặng tôi, từ hàng sách cũ. Về chuyện này, có lẽ chỉ cần nói rằng gần hai mươi năm nay tôi xa Việt Nam là đủ. Tôi đã không tính đến kịch bản bị cấm cửa ở quê hương. Ở nơi ấy tôi không còn và không còn là một hiện hữu vật chất nào nữa. Những thứ tưởng như chết mang theo còn buông bỏ, huống hồ đồ đạc sách vở và cả những kỷ vật vô giá dù vô danh. Bạn ạ, có những mất mát không thể đong đếm bằng nỗi buồn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không thuộc trường phái tắm táp liếm láp những mất mát. Con xúc xắc gieo vào tôi đủ ngửa ra những mặt hào phóng để chốn lưu vong không biến thành nhà tù của dĩ vãng, nơi người ta mãi múc từ ao ký ức này đổ sang vũng hoài niệm kia, tát qua tát lại cho đến khi tất cả đều khô kiệt. Tiếng Việt mắc cạn ở đó, chưa đủ chết để hóa kiếp tử ngữ cho bảo tàng, không đủ sống để làm một sinh ngữ cho sáng tạo – một ngôn ngữ sống dở chết dở, như tình trạng của nhiều người viết buộc phải xa xứ. Họ có thể đổi đời, no ấm hơn, chắc chắn là an toàn hơn, về căn bản là tự do hơn, chưa kể con cái được hưởng một nền giáo dục tiến bộ hơn và bản thân về già được lắp răng giả chất lượng hơn. Nếu không cọ xát với ngôn ngữ ở quốc gia đang sống, có lẽ họ cũng hài lòng với vốn liếng tiếng Việt mang theo, yên ổn trong đó như trong hầm trú, nơi cố thủ cuối cùng của cái mà họ định nghĩa là hồn Việt.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song lưu vong trước hết là một đứt gãy ngôn ngữ không thể hoặc rất khó bù đắp. Tiếng Việt của tôi ở đây là một sinh thể yếu thế, thiếu dưỡng khí, suy giảm trí nhớ, trầm lặng, bị động, cô độc, hàng ngày bị tiếng Đức thách thức và thường trực đối diện nguy cơ xơ cứng, xói mòn, cổ hủ và bảo thủ, bệnh thoái hóa tất yếu của một ngôn ngữ ở ngoại biên. Sức sống tự nhiên của một cộng đồng ngôn ngữ trăm triệu thành viên, tôi buộc phải hấp thụ gián tiếp. Việc ấy vất vả, nhưng khi biết cái giá phải trả cho một từ có thể mất, một thanh điệu có thể quên, một cái tên có thể bỏ đi để chẳng bao giờ làm ơn quay về, khi nhúng tiếng mẹ đẻ vào chiếc vạc dầu của ngôn ngữ toàn cầu, khi nhìn chữ rụng xuống để không còn mọc lên trên một thổ nhưỡng khác, tôi thấy quan hệ giữa mình và tiếng Việt nghiêm ngặt hơn nhưng cũng tự do hơn. Một quan hệ định mệnh tự nguyện. Nó không đòi tôi phụng sự vô điều kiện. Tôi không đòi nó đảm bảo vô tận chuỗi cung ứng. Hai bên đều trở nên khiêm nhường và tương kính, thay phiên phục vụ lẫn nhau; tôi là công cụ trong tay nó và nó là công cụ trong tay tôi; tôi sở hữu nó và nó sở hữu tôi. Nếu không lưu vong, có lẽ tôi đã phạm nhiều khinh suất hơn trong ứng xử với tiếng Việt. Ngôn ngữ không phải là một tập hợp có tổng bằng không, cái được chẳng hoàn trả cái mất, song ngay cả cái tổn thất lớn nhất cho một người viết là bị đánh bật khỏi môi trường ngôn ngữ ấy của tôi cũng nhẹ thôi, so với nhiều bi kịch khác. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thời làm thư viện <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=2141&amp;rb=08">sách xuất bản tại miền Nam trước 1975</a> cho <em>Tủ sách talawas</em>, tôi đã gặp những chữ ký và dòng đề tặng mà bình thường chỉ là thủ bút đáng sưu tập của những nhân vật danh tiếng. Song hành trình lưu lạc của những ấn bản ấy kể về số phận cay đắng của bao người cầm bút, đồng nghiệp của tôi, ở nửa kia đất nước. Họ chết trong tù, tan nát trong giông bão hậu chiến, vùi thây dưới lòng biển, cô đơn tàn tạ trong một tồn tại xa lạ nơi xứ người. Joseph Brodsky hình dung lưu vong là cú ném vọt một nhà văn qua đêm đến chỗ mà bình thường mất cả đời may ra mới tới: đến sự cô đơn tuyệt đối, nơi chỉ còn mình và con chữ, không ai và điều gì có thể xen vào giữa. Song thực tế tầm thường hơn nhiều. Trước khi đủ bản lĩnh để hưởng thụ vụ tăng tốc tuyệt diệu đó, phần lớn các tác giả lưu vong đã tê liệt vì bị tước đoạt điều kiện thiết thực để có thể theo đuổi nghề văn: tên tuổi và độc giả. Họ bị ném vọt qua đêm đến chỗ vô danh để viết vào một chốn vô tăm tích. Cô đơn là người thầy tốt và người bạn tồi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mới đây trên eBay tôi thấy ấn bản vở kịch <em>Eine Königin Esther</em> năm 1918 của Max Brod với dòng &#8220;<em>Für Heinrich Mann mit verehrenden Grüßen</em>&#8221; (&#8220;Trân trọng đề tặng Heinrich Mann&#8221;), giá bán 680 Euro. Người tặng và người được tặng, cả hai từng bỏ lại tất cả để đào thoát khỏi đất nước không dung họ và chẳng bao giờ gặp lại quê hương nữa. Heinrich Mann ra đi với một chiếc va-li nhỏ, Max Brod với chiếc cặp đựng bản thảo nhiều tác phẩm chưa xuất bản của Franz Kafka, trong đó có tiểu thuyết <em>Vụ án</em>. Thời viết luận văn tốt nghiệp đại học, tôi được làm việc với Phông Lưu trữ Heinrich Mann tại Viện Hàn lâm Nghệ thuật Berlin. Tủ sách riêng của ông chỉ còn rất ít, phần lớn đã thất lạc hoặc rải rác khắp các nẻo đường lưu vong. Dù sao ông vẫn còn khá may mắn. Walter Benjamin &#8211; từng coi đời mình về chi tiết là thành công, về tổng thể là thất bại &#8211; bất hạnh hơn. Ông chạy sang Paris khi đế chế Quốc xã ở Đức hiện hình. Một phần tủ sách của ông bỏ lại ở Berlin được bạn bè giữ giúp, lúc đầu tại nhà của Bertolt Brecht lưu vong ở Đan Mạch, sau chuyển được sang Pháp. Khi Paris thất thủ, ông chạy trốn một lần nữa, mang theo duy nhất một cặp xách với bản thảo tác phẩm mà ông cho là quan trọng nhất của mình. Trong cơn tuyệt vọng vì cầm chắc sẽ bị trục xuất trở lại nước Pháp của chính quyền Vichy, ông quyên sinh. Bản thảo cuối cùng trong chiếc cặp xách ấy biến mất, cũng như toàn bộ tủ sách 3000 cuốn trong căn hộ bị Gestapo lục soát của ông ở Paris.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi chỉ thấy biết ơn và cả ngưỡng mộ những tiệm sách cũ đã âm thầm cất giấu để một phần nhỏ tác phẩm của văn học miền Nam trước 1975 vẫn còn lại ở đó. Như một phản kháng lặng lẽ, một lần nữa của những Guy Montag trong <em>Fahrenheit 451</em>. Phần lớn đã làm mồi cho những chiến dịch thu hồi, cấm lưu hành, bài trừ, &#8220;quét sạch nọc độc&#8221; văn hóa văn nghệ &#8220;phản động, đồi trụy, bất hợp pháp&#8221;. Sau này những ấn bản ấy được bán chui, giá &#8220;<em>khá chát</em>&#8220;- để dùng lại lời của bạn – song tôi thấy hoàn toàn xứng đáng. Các nhà buôn sách cũ không bán cân giấy lộn. Đam mê sách và tình yêu lợi nhuận của họ &#8211; cái nào quyết định, không quan trọng &#8211; là bộ lọc sáng suốt hơn hẳn sự thẩm định của phần lớn giới nghiên cứu và phê bình chủ lưu. Thị trường tỉnh táo hơn những yêu ghét dỗi hờn và đáng tin hơn những tiêu chuẩn đạo đức thường đầu lưỡi và những tiêu chí văn hóa thường bất nhất của chúng ta. Tủ sách của Kafka được cô em út trông nom cho đến khi bà bị dồn vào trại tập trung và cuối cùng bị giết ở Auschwitz. Tưởng đã vĩnh viễn thất lạc, cho đến khi được một nguồn ẩn danh, rất có thể là một hậu duệ Quốc xã hay một kẻ trộm am hiểu văn chương, bán cho một tiệm sách cũ ở Munich và tiệm này lại đem bán cho Đại học Wuppertal. Giới nghiên cứu Kafka ăn mừng. Viện Lưu trữ Văn học Đức ở Marbach cũng ăn mừng khi mua được bản thảo viết tay cuốn <em>Vụ án</em> của ông, giá 2 triệu dollar. Kafka giao bản thảo ấy cho người bạn thân Max Brod để đốt; Max Brod không đốt mà xuất bản, rồi tặng lại cho Esther Hoffe, thư ký và người tình của mình. Bà đem bán. Giá rất &#8220;<em>chát&#8221;</em>. Ở thế giới bên kia, tôi tin là cả Kafka lẫn Max Brod đều chẳng buồn tiếc gì hết. Họ không phải những bạo chúa xây lăng tẩm hoành tráng để chôn sống những cuốn sách yêu dấu theo mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy nếu phải buồn, chúng ta nên thực lòng buồn, nhẹ thôi, vì những ấn bản có thủ bút đáng nâng niu của mình chỉ được bán với cái giá không đủ mơn trớn lòng sĩ diện. Không nhiều thì ít, văn nghệ sĩ là chủng loại tồn tại nhờ khai thác lòng tự ái của bản thân. Song cái Tôi lưu vong dường như biết tiết chế và tự khoanh vùng hơn. Biết rằng phần lớn các cuộc đời lưu vong không phải những con lắc chao đảo mà là những quỹ đạo một chiều, theo hình dung của nhà thơ lưu vong không ngừng chất vấn <a href="https://www.bisla.sk/english/wp-content/uploads/2015/01/Joseph-Brodsky-The-Condition-We-Call-Exile.pdf">trạng thái lưu vong</a>, vẫn Joseph Brodsky. Lần này ông không nói quá. Ông không trở về Nga khi Liên Sô đã sụp đổ: người ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, dù đó là sông Volga, hai lần trong cùng một vùng biển, dù đó là Biển Đen. Người ta thay đổi, tách ra, rời xa và bỏ lại chính mình, để một lúc nào đó trở thành một vật thể tự do, một phi thuyền trong khoảng không, lúc đầu còn bị trọng lực ở nơi xuất phát níu kéo, nhưng rồi sẽ tiến vào một trường hấp dẫn khác, với những lực hút chưa hề biết đến ở bên ngoài.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không thể đem theo gì nhiều trong khoang chứa bé nhỏ của cái phi thuyền đó. Vì thế xin bạn đừng làm theo Bernard Shaw. Gặp ở hàng sách cũ một ấn bản cuốn sách của mình với lời đề tặng một người bạn, ông mua lại, viết thêm: &#8220;<em>Một lần nữa trân trọng đề tặng</em>&#8220;, rồi đem gửi cho người bạn ấy. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>, 14/7/2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>2 câu, 77 chữ</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6487</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 May 2022 20:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[30/5/1975]]></category>
		<category><![CDATA[Bùi Văn Tùng]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Dương Văn Minh]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Xuân Thệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6487</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Sau 47 năm, bên thắng trận đã hoàn thành đáp án cho câu hỏi còn bỏ ngỏ, liên quan đến sự kiện kết thúc cuộc chiến tranh định mệnh ở Việt Nam. Ngày 14 tháng Ba vừa rồi, cơ quan lãnh đạo cao nhất trong quân đội, gồm Tổng Bí thư Đảng, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau 47 năm, bên thắng trận đã hoàn thành đáp án cho câu hỏi còn bỏ ngỏ, liên quan đến sự kiện kết thúc cuộc chiến tranh định mệnh ở Việt Nam. Ngày 14 tháng Ba vừa rồi, cơ quan lãnh đạo cao nhất trong quân đội, gồm Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và 20 vị tướng, ra <a href="https://www.bbc.com/vietnamese/world-61150727">Kết luận số 974-KL/QUTW</a> về việc &#8220;Ai soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh&#8221;, &#8220;khẳng định tính khách quan và sự thật lịch sử&#8221; rằng cả ông đại úy Phạm Xuân Thệ đến trước lẫn ông trung tá Bùi Văn Tùng đến sau đều là đồng tác giả. Không có Thạch Sanh Lý Thông nào cả. Chấm dứt cãi cọ. Chuyện nhân sự đến đây là hết.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hàng chục năm sau ngày 30 tháng Tư vang dội ấy, năm nào cũng được lịch sử đến hẹn lại ủy nhiệm, năm nào phe chiến thắng cũng tranh cãi &#8211; <a href="https://www.youtube.com/watch?app=desktop&amp;v=EbgrWDVcGMw">ít nhiều dữ dội và thậm chí nhuốm màu &#8220;phản động&#8221; ngoài ý muốn</a> &#8211; về những chi tiết tưởng như quá dễ xác định: xe tăng nào tiến vào Dinh Độc lập đầu tiên, chiến sĩ nào lao lên nóc dinh cắm cờ giải phóng, và như nêu trên, <a href="https://nguoidothi.net.vn/tra-su-that-cho-lich-su-28601.html">ai soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng</a>. Nghe như đùa, song thực ra dễ hiểu và có truyền thống. <a href="https://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/dieu-tra/nguoi-cam-co-quyet-thang-tren-doi-him-lam-478947">55 năm sau Chiến thắng Điện Biên Phủ</a>, người cắm cờ trên cứ điểm Him Lam mới được xác nhận đúng danh tính, trước đó hoặc một anh hùng khác hoặc một nhân vật &#8220;dâu ông nọ chăn tằm bà kia&#8221; được gọi tên. Rồi lá cờ trên nóc hầm de Castries ngày 7/5/1954 có thực hay chỉ là cảnh dàn dựng trong bộ phim của đạo diễn Liên Sô Roman Karmen? Toàn những chuyện không khiến tôi phải nhảy vội lên chuyến tàu về một ga lẻ của quá khứ. Lịch sử tự nó có một lớp <em>patina</em> quyến rũ, cho các thế hệ sau. Song nó mệt mỏi nhạt phèo, nếu các thế hệ trước vẫn múa may mãi trên sân khấu của dĩ vãng. Có gì lạ đâu. Rốt cuộc thì hạ sĩ Meliton Kantaria người Gruzia, đồng hương của Stalin, vẫn chính thức là nhân vật cắm cờ trên nóc Nhà Quốc hội Đức ngày 2/5/1945, nhận Huân chương Lenin và danh hiệu Anh hùng Liên bang Sô-viết, cả đời hưởng lộc của chế độ, trong khi tác giả của bức ảnh dàn dựng lừng lẫy ấy cho biết <a href="https://www.spiegel.de/international/europe/the-art-of-soviet-propaganda-iconic-red-army-reichstag-photo-faked-a-551972.html">một sự thật hoàn toàn khác</a> – kể cả việc ông phải dùng kim để tẩy chiếc đồng hồ ở cổ tay phải của người lính đứng yểm trợ cho đồng đội cắm cờ: chiến sĩ Hồng quân này đeo mỗi tay một chiếc đồng hồ, chiến lợi phẩm mà lính Nga ham sưu tập, trước khi biết cướp bóc điện thoại, TV, tủ lạnh, máy giặt, máy gặt, bồn cầu và dâu tây như bây giờ ở Ukraine. Tuy nhiên đó vẫn chưa là sự thật nguyên thủy. 50 năm sau, khi Liên bang Sô-viết đã là quá khứ, trung sĩ <a href="https://www.thetimes.co.uk/article/mikhail-minin-6wjxq60c6z9">Mikhail Minin</a> chẳng ai biết đến mới được ghi nhận là người đầu tiên cắm cờ chiến thắng đêm 30/4/1945 ở Berlin.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song điều tôi quan tâm là nội dung lời tuyên bố đầu hàng ấy. Một văn bản lịch sử trọng đại đánh dấu một thời khắc lịch sử trọng đại, khiến các phe phải khốc liệt tranh giành bản quyền soạn thảo và giới lãnh đạo cao nhất của quốc gia phải vào cuộc. Công phu &#8220;soạn thảo&#8221; nó như thế nào?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Toàn văn lời tuyên bố ấy như sau: <em>“Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.&#8221; </em><a id="_ftnref1" href="#_ftn1">[1]</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Hai câu, 77 chữ, một bình diện ngôn ngữ bất cập và những lỗi nhẹ ra phải gọi là ngớ ngẩn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông Dương Văn Minh không phải là &#8220;<em>Tổng thống chính quyền Sài Gòn</em>&#8221; mà Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, cũng như ông Hồ Chí Minh không phải là Chủ tịch chính quyền Hà Nội mà Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bà Thái Anh Văn trong ngôn ngữ của dư luận viên Hoa lục có thể là &#8220;Tổng thống chính quyền Đài Bắc&#8221;, nhưng danh xưng chính thức và chính xác của bà chỉ có thể là Tổng thống Trung Hoa Dân quốc. Một tuyên bố đầu hàng không phải là một lời kêu gọi hay yêu cầu. Khi đầu hàng, Tổng thống đồng thời là Tổng Tư lệnh quân đội ở cương vị phải tuyên bố rõ ràng lệnh ngưng bắn và giải tán chính quyền chứ không thể &#8220;<em>kêu gọi</em>&#8221; quân đội hạ vũ khí và yêu cầu chính quyền &#8220;<em>phải giải tán</em>&#8220;. Và làm thế nào để giao một chính quyền vừa bị giải tán cho một chính quyền khác, nhất là khi ngay trước đó Quân Giải phóng đã từ chối không nhận bàn giao, vì &#8220;<em>Các ông không còn có gì để bàn giao</em>&#8220;.<a href="#_ftn2" id="_ftnref2">[2]</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Phần lớn các cuộc chiến hay xung đột vũ trang chậm nhất từ thời cận hiện đại đến nay thường kết thúc bằng những cam kết đình chiến và đàm phán về hậu chiến; tuyên bố đầu hàng rất ít xảy ra và đầu hàng vô điều kiện càng hiếm; song hình thức nào cũng phải được chuẩn bị kĩ lưỡng, diễn đạt thận trọng, từ những cấp quyết định cao nhất và ở bình diện ngôn ngữ cao nhất: bình diện quốc gia. Song đó chỉ là phần mở đầu của một quá trình với những thủ tục phức tạp, có thể kèm theo cả nghi thức trang trọng, như trong lễ ký kết văn kiện đầu hàng của Nhật ngày 02/9/1945 trên Chiến hạm USS Missouri. Các khía cạnh pháp lý và chính trị liên quan lại càng phức tạp. Quân Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ, song Cộng hòa Pháp (Đệ Tứ) lại tham gia quyết định số phận của Việt Nam trong Hội nghị Ngoại trưởng Berlin 1954 và Hiệp định Genève cùng năm. Sự đầu hàng vô điều kiện của Đức trong Thế chiến II không phải là hành vi của <em>Deutsches Reich</em>, Đế chế Đức với tư cách quốc gia, mà là hành vi của <em>Wehrmacht</em>, quân đội Đức Quốc xã. Vì thế, trừ những điều luật mang tính chính trị, Bộ Luật Hình sự của Đế chế Đức vẫn tiếp tục có hiệu lực một thời gian dài, hiện nay Đức còn áp dụng trên 20 điều luật từ thời Quốc xã. Quân đội có thể ngưng bắn, song những hoạt động mà phần lớn là dân sự của một bộ máy nhà nước không thể ngay lập tức bị đình chỉ, chưa kể thời gian cần thiết để giải quyết các hệ lụy với những bên thứ ba liên quan. Cả phía Miền Nam Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa) lẫn Miền Nam Việt cộng (Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) và Miền Bắc Cộng sản (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) rõ ràng đều không có những chuẩn bị nhất định cho các vấn đề này. Hoặc không thấy có gì cần chuẩn bị. &#8220;<em>Chính quyền Sài Gòn</em>&#8221; đơn giản bị xóa sổ là xong.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thế là rất đặc trưng Việt Nam, văn kiện lịch sử trọng đại đánh dấu thời khắc lịch sử trọng đại lúc 13:30 giờ ngày 30/4/1975 cuối cùng do một – hoặc hai? – sĩ quan cấp úy và cấp tá ít nhiều vô danh của bên thắng trận chấp bút, ở tình thế gấp gáp thiếu thốn và có phần lúng túng, phải nhanh trí ứng biến tại chỗ<a href="#_ftn3" id="_ftnref3">[3]</a>, thậm chí phải nhờ vào chiếc máy ghi âm duy nhất dùng được của nhà báo phương Tây duy nhất chứng kiến và ngẫu nhiên trở thành thư ký của sự kiện ấy. Nhà báo Börries Gallasch của tờ <em>Spiegel</em> <a href="https://www.spiegel.de/politik/bruder-minh-fuerchte-dich-nicht-a-3912d73a-0002-0001-0000-000041496551?context=issue">thuật lại</a>: &#8220;<em>Chính ủy Tùng dùng một tờ giấy màu xanh đặt lên đầu gối, thảo lời tuyên bố để Tướng Minh đọc trên đài. Thỉnh thoảng ông nghĩ ngợi xem nên viết thế nào, gạch chữ này, thêm chữ kia. Mặt ông không hề biểu lộ một cảm xúc. Vậy là giờ đây, ở phút giây chiến thắng, những con người đã chiến đấu cả 30 năm để giải phóng đất nước lại không biết diễn đạt lời tuyên bố đầu hàng ra sao</em>.&#8221; Tướng Minh đọc xong, chính ủy Tùng v<a href="https://www.youtube.com/watch?app=desktop&amp;v=EbgrWDVcGMw">ò bản thảo và đút vào túi quần</a>. Chiến tranh thế là kết thúc. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi thật sự thông cảm với chính ủy Tùng. Ông chỉ là một sĩ quan bậc trung, thấm nhuần một ngôn ngữ và tư duy chính trị mà trong đó Miền Nam không bao giờ hiện ra như một quốc gia riêng, có tên gọi riêng với những chủ quyền riêng, mà chỉ là phần lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt và bị &#8220;<em>chính quyền Sài Gòn</em>&#8220;, &#8220;tay sai của đế quốc Mỹ&#8221;, cai trị. Có lẽ ông cũng không biết đến tên gọi chính thức của quốc gia này. Người lính chất phác trong ông không được huấn luyện cho những việc nằm ngoài tầm đạn pháo<a href="#_ftn4" id="_ftnref4">[4]</a>. Có lẽ ông đã hình dung rất giản dị sáng tỏ về việc đánh đổ cái &#8220;<em>chính quyền Sài Gòn</em>&#8221; của &#8220;<em>địch</em>&#8221; ấy và thay thế bằng chính quyền mới của &#8220;<em>ta</em>&#8220;; song tư duy và ngôn ngữ của ông không cho phép phân biệt giữa chính quyền, một chủ thể cụ thể, và quyền lực nhà nước, một chủ thể trừu tượng<a href="#_ftn5" id="_ftnref5">[5]</a>, nên cuối cùng chỉ thành tựu trong một câu vừa luộm thuộm với cụm &#8220;<em>từ trung ương đến địa phương</em>“ lặp lại như để chắc ăn – một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ chính thống ở Việt Nam là lặp lại lặp lại vô tội vạ, tôi xin trở lại đề tài này ở dịp khác &#8211; vừa lộn xộn kỳ quặc về nghĩa lý. Với tất cả lòng tôn trọng, tôi phải tiếc rằng ông đã không đủ tầm vóc để diễn đạt một tuyên bố đầu hàng cho tổng thống một quốc gia và tổng tư lệnh một quân đội với nội dung và ngôn ngữ thích đáng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lời tuyên bố ấy có thể sửa lại không quá khó khăn, chẳng hạn: “<em>Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, tuyên bố: Một, từ giờ phút này Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Hai, giải tán chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ trung ương đến địa phương. Ba, giao quyền lực nhà nước trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.</em>”&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi có mười lăm năm gắn bó với ngành sử, ở Đông Đức cũ và Việt Nam, để hiểu phát ngôn khô khốc của Lenin khi từ chối thỉnh cầu của Maxim Gorky xin tha mạng sống cho sử gia Nicholas Mikhailovich Romanov, Chủ tịch Hội Sử học Nga, đồng thời là một Đại Công tước thuộc dòng họ Nga hoàng cuối cùng: &#8220;<a href="https://www.nytimes.com/2017/07/10/opinion/red-century-russia-romanov.html"><em>Cách mạng không cần đến sử gia</em></a>&#8220;. Song có lẽ cách mạng cần người biết soạn thảo một văn kiện lịch sử.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tuần báo Trẻ, 12.05.2022</em></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1" id="_ftn1">[1]</a> Khi ghi âm, ông Dương Văn Minh đã đọc câu thứ hai hơi khác, còn tối nghĩa hơn, như sau: &#8220;<em>Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương giao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.</em>&#8220;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref2" id="_ftn2">[2]</a> Ít nhất 4 nhân vật đã khẳng định chính mình nói câu đó ở Dinh Độc lập: <a href="https://www.voatiengviet.com/a/bui-tin-30-thang-4-2010-92439619/862051.html">đại tá Bùi Tín</a>, <a href="https://lsvn.vn/tien-vao-dinh-doc-lap1619751972.html">đại tá Lê Văn Minh</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?app=desktop&amp;v=EbgrWDVcGMw">trung tá Bùi Văn Tùng</a> và <a href="https://tuoitre.vn/nhan-chung-dac-biet---ky-1-trung-ta-tung-hay-dai-uy-the-198768.htm">đại úy Phạm Xuân Thệ</a>.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref3" id="_ftn3">[3]</a> <a href="https://www.youtube.com/watch?app=desktop&amp;v=EbgrWDVcGMw">Ông Bùi Văn Tùng kể</a> lại: &#8220;<em>Sẵn tập pơ-luya xanh nhạt để trên bàn, tôi lấy một tờ. Tôi lấy bút ra rồi nhưng mà tôi cũng chưa nghĩ ra điều kiện (đầu hàng) thế nào. Nhưng vài phút suy nghĩ thì té ra vấn đề nó dễ òm, có khó gì đâu. Cách mạng đề ra vấn đề cơ bản, quân đội và chính quyền. Thế là tôi thảo ra cho ông Minh. Thảo vài phút thì xong</em>.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref4" id="_ftn4">[4]</a> <a href="https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52450468">Con gái ông kể</a>: Sau khi tôi đã sang sinh sống ở nước ngoài, mỗi lần về Việt Nam thăm ba, những lúc tinh thần minh mẫn ba đều hỏi thăm tôi người Việt mình sống ở bên đó thế nào, có thành công và thích nghi với nước sở tại hay không? Và cuối câu chuyện bao giờ ba cũng thắc mắc hỏi tôi mỗi một câu: &#8220;<em>T</em><em>ạ</em><em>i sao M</em><em>ỹ</em><em> l</em><em>ạ</em><em>i </em><em>đ</em><em>ánh nhau v</em><em>ớ</em><em>i mình th</em><em>ế</em><em> h</em><em>ả</em><em> con</em>?&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref5" id="_ftn5">[5]</a> Bảo Đại không mắc lỗi ấy. Ông tuyên bố trong Lễ Thoái vị ngày 30/8/1945: &#8220;<em>Trẫm cũng quả quyết thoái vị nhường quyền điều khiển quốc dân cho&nbsp;một chính phủ dân chủ cộng hòa.</em>&#8221; Song dĩ nhiên ông không bị địch thủ nhét chữ vào mồm ở phút nước đã dâng đến cổ, và người thảo <a href="https://vi.wikisource.org/wiki/Chi%E1%BA%BFu_tho%C3%A1i_v%E1%BB%8B"><em>Chiếu thoái vị</em></a><em> </em>cho ông là vị đổng lý ngự tiền văn phòng triều đình, luật sư danh tiếng Phạm Khắc Hòe.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khi nhà thơ không hoàn toàn cưỡng dâm</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6477</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 14 Apr 2022 21:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Phụ nữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa-Xã hội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6477</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Ông nhà thơ, người vừa bị một nữ đồng nghiệp tố cáo tội cưỡng dâm, trả lời báo chí rằng ông &#8220;không có ý kiến gì, vì cũng chưa biết việc này sẽ đi đến đâu và làm như thế nào&#8220;, hơn nữa &#8220;theo quan điểm cá nhân thì những lời viết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông nhà thơ, người vừa bị một nữ đồng nghiệp tố cáo tội cưỡng dâm, <a href="https://infonet.vietnamnet.vn/gioi-tre/nong-tren-mang/pho-tong-bien-tap-bao-van-nghe-luong-ngoc-an-noi-gi-khi-bi-to-cuong-hiep-dong-nghiep-408246.html">trả lời báo chí</a> rằng ông &#8220;<em>không có ý kiến gì, vì cũng chưa biết việc này sẽ đi đến đâu và làm như thế nào</em>&#8220;, hơn nữa &#8220;<em>theo quan điểm cá nhân thì những lời viết này không phải đúng hoàn toàn đâu</em>&#8220;, nhưng &#8220;<em>như thế nào thì chưa nói vội</em>&#8220;. Vài câu mà thâu tóm một chân dung. Ngôn ngữ tiết lộ hết.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông không có ý kiến vì &#8220;<em>chưa biết việc này sẽ đi đến đâu</em>&#8220;. Chờ đã. Hạ hồi phân giải. Như thể tùy tình thế mà ông sẽ có ý kiến phù hợp. Như thể việc này &#8220;<em>đi đến đâu</em>&#8221; thì ý kiến đến đó. (Nhân tiện, tôi không thể nghe nổi cái điệp khúc &#8220;<em>sai đến đâu, xử đến đó</em>&#8220;, một công thức luật pháp rất nôm na, rất phổ biến và rất được ưa chuộng ở Việt Nam. Nó giả định một sự trùng khớp thô thiển giữa tội ác và hình phạt. Nó cụ thể hóa đến mức ngô nghê nhất những nguyên tắc tất yếu trừu tượng của luật pháp trong một xã hội hiện đại. Nó vỗ về một dân chúng khát khao công lý bằng kiểu ngôn ngữ dân dã dễ nhớ, để che lấp sự bất lực hệ thống của guồng máy luật pháp Việt Nam hiện tại. Xử &#8220;đúng người, đúng tội&#8221; chỉ là bước đầu tiên trên hành trình công lý. Toàn bộ những chặng đường phức tạp còn lại là kiến tạo những cơ sở, điều kiện và phương tiện để thỏa đáng câu hỏi: Xử như thế nào.) Nhưng vụ việc này không thể có diễn tiến nào khác, kể cả về khía cạnh luật pháp với thời hiệu tố tụng đã hết. Chỉ có những lời cáo buộc nghiêm trọng của một phụ nữ, khác với ông, đã lên tiếng, bất chấp những tổn thương mới. Chỉ có một dư luận sẽ nhanh chóng hóng một tin nóng khác để tung hứng và nhấn chìm. Vụ việc này dĩ nhiên không &#8220;<em>đi đến đâu</em>&#8220;. Cứt trâu đã hóa bùn.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dĩ nhiên ông có quyền im lặng. Và cả quyền im lặng về sự im lặng của mình, song không có ý kiến vì &#8220;<em>chưa biết làm như thế nào</em>&#8221; thì thảm hại. Chẳng lẽ có một cách &#8220;<em>làm</em>&#8221; nào khác ngoài hai lựa chọn: Hoặc bác bỏ lời cáo buộc. Hoặc công khai nhận tội, xin lỗi, từ chức. Không có &#8220;con đường thứ ba&#8221; để tính toán &#8220;<em>làm như thế nào</em>&#8220;. Chúng ta không ở trong một truyện cổ tích để thi dù là trí khôn vặt lưu truyền cho đời sau.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chúng ta cũng không ở một cuộc họp cơ quan, chẳng hạn ở báo <em>Văn nghệ</em> mà ông hiện là Phó Tổng Biên tập, một chức vụ không mấy thực danh và lại càng ít thực quyền song cũng đủ để gắn với một kiểu ngôn ngữ mà tôi gọi là ngôn ngữ cán bộ nhà nước. Mùi cán bộ nhà nước ở bất kỳ ai từng sa vào chốn đó dù chỉ dăm ba tháng thật khó lẫn. Nó xộc ra từ điệu ngồi dáng đứng, từ cách hất mặt chỉ tay, từ sự loay hoay thu vén đầu tóc, từ trang phục không đi chệnh đường lối thẩm mĩ quốc doanh, và trước hết từ một tổng thể ngôn ngữ của không chỉ nội dung mà còn là từ vựng, công thức diễn đạt, thậm chí thói quen mở đầu và điều chỉnh tiết tấu một câu. Cán bộ nhà nước có một bộ nhiễm sắc thể đặc biệt, xoắn vào duỗi ra không hề giống phần đồng loại còn lại. Họ chỉ cần mở miệng là tôi biết nói chuyện với người ngoài hành tinh còn dễ hơn. Họ có thể phát ngôn trôi chảy một câu như &#8220;Theo quan điểm cá nhân thì cá nhân tôi không có quan điểm cá nhân&#8221; mà không nhất thiết là những nhà trào phúng vi hành hay những ca rối loạn nhân cách. Vợ bảo, mồm anh hôm nay thối quá. Ông chồng cán bộ có thể đáp, theo quan điểm cá nhân thì không hoàn toàn thối. Ông cán bộ nhà thơ báo <em>Văn nghệ</em> cũng &#8220;<em>theo</em> <em>quan điểm cá nhân</em>&#8221; mà đánh giá vụ bê bối của chính cá nhân mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Rằng lời tố cáo cưỡng dâm &#8220;<em>không hoàn toàn đúng đâu</em>&#8220;. Như thể ngoài cưỡng dâm hay không cưỡng dâm còn một khả năng nữa là không hoàn toàn cưỡng dâm. Có lẽ nạn nhân của vụ không hoàn toàn cưỡng dâm cũng không hoàn toàn có thai. Trong mô thức vận hành thi ca, tư duy dường như không đóng vai trò đáng kể; thậm chí phần lớn nhà thơ Việt quan niệm rằng tư duy cản trở cảm xúc mà cảm xúc mới là nhất, ăn nhau ở dạt dào cuồn cuộn, ở thiết tha nhức nhối, khắc khoải se lòng hoặc xé lòng. Chưa ai khen Nguyễn Du thông minh, có lập luận sáng tỏ vững chắc. Tôi không là người duy nhất bỏ phiếu cho thi ca hưởng quy chế tối huệ, ưu đãi đặc biệt, thiết nghĩ tuy có chút mê muội nhưng nhìn chung nó vô hại, rốt cuộc thì nhân loại đâm đầu vào những thứ kinh hoàng và mất thời gian hơn nhiều. Nhưng trước một nhà thơ không hoàn toàn cưỡng dâm thì xã hội nên đặt thơ ca sau rào chắn, đó là chỗ quá nguy hiểm cho lý trí thông thường. Song thực ra ông cũng là nạn nhân hay sản phẩm của một môi trường, nơi người dân thì đơn giản phạm tội, trong khi cán bộ chỉ &#8220;sai phạm&#8221; vì &#8220;thiếu trách nhiệm&#8221; &#8211; tức không vô trách nhiệm mà không hoàn toàn có trách nhiệm &#8211; hay &#8220;buông lỏng quản lý&#8221; – tức vẫn có quản lý nhưng không hoàn toàn. Tôi đã định đề nghị xử lý vụ nhà thơ cán bộ không hoàn toàn cưỡng dâm này là sai phạm do thiếu trách nhiệm giám sát dục tính và buông lỏng quản lý khuy quần. Song Ban Chấp hành Hội Nhà văn &#8211; mà ông nhà thơ là ủy viên! &#8211; vừa quyết định <a href="https://infonet.vietnamnet.vn/gioi-tre/nong-tren-mang/hoi-nha-van-viet-nam-gui-thu-cho-nha-tho-da-thao-phuong-sau-khi-nhan-don-chi-phuong-to-cao-ptbt-luong-ngoc-an-cuong-dam-hon-20-nam-truoc-408637.html?fbclid=IwAR2pSoY2m2vHRpDp-q1HgIbDod2hcbqB1Gii3OyXWj92ikw3r_hczcMbY5c">vô can</a>, lý do là không có thẩm quyền và không đủ cơ sở.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi đã khó nín cười trước những lời &#8220;không có ý kiến&#8221; của ông nhà thơ, song đến lời cuối, khi ông lấp lửng &#8220;<em>như thế nào thì chưa nói vội</em>&#8221; thì hết cười mà lạnh người. Như thể ông đang có tất cả thời gian trên đời để ngồi đó rung đùi, chờ thời điểm thích hợp sẽ tung ra ngón chí tử để dư luận ngã ngửa và đối phương cứng họng. Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào nhé. Xem hồi sau sẽ rõ. Tiếng Việt quả thật kỳ diệu. Ba chữ &#8220;<em>chưa nói vội</em>&#8221; dựng nên một diện mạo, một không khí, những liên tưởng và hình dung kịch bản khác hẳn &#8220;chưa nói được&#8221;, &#8220;chưa thể nói&#8221; hay thậm chí &#8220;chưa vội nói&#8221;. Thực ra chỉ một chữ &#8220;<em>vội</em>&#8220;, ở chính xác một vị trí, đã bóc trần một tính cách. Những người đàn ông như thế sẽ làm tất cả để nạn nhân của họ phải chùn lòng. &nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph">(Tuần báo <em>Trẻ</em>, 14/4/2022) &nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Có hẹn với Pushkin</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6465</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 17 Mar 2022 18:30:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Nga]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Ukraine]]></category>
		<category><![CDATA[Lenin]]></category>
		<category><![CDATA[MacDonald's]]></category>
		<category><![CDATA[Moskva]]></category>
		<category><![CDATA[Pushkin]]></category>
		<category><![CDATA[Putin]]></category>
		<category><![CDATA[Stalin]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6465</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài &#8220;Moskva, tình yêu của tôi&#8220;, tên bộ phim mà có lẽ mọi người Việt miền Bắc thế hệ tôi đều biết đã giúp tôi chịu đựng thủ tục du lịch Mạc Tư Khoa hơn mười năm trước. Với Nga, tấm hộ chiếu quyền lực của Đức chỉ là tếp giấy lộn in [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">&#8220;<em>Moskva, tình yêu của tôi</em>&#8220;, tên bộ phim mà có lẽ mọi người Việt miền Bắc thế hệ tôi đều biết đã giúp tôi chịu đựng thủ tục du lịch Mạc Tư Khoa hơn mười năm trước. Với Nga, tấm hộ chiếu quyền lực của Đức chỉ là tếp giấy lộn in chìm hình đại bàng. Bạn không thể là một thường dân vui chân ghé đại sứ quán Nga ngự trên 1.500 mét vuông lãnh thổ Liên Sô cũ tại đại lộ trọng yếu nhất Berlin cách Cổng Brandenburg chưa đầy 300 mét, bảo mình có hẹn với Pushkin là được đóng cộp một thị thực. Nước Nga thích làm khó, bạn phải chứng tỏ mình xứng đáng bị hành hạ. Yêu thì phải trả giá, tình cho không biếu không là tình dối trá, tình vứt đi. Nhưng khi tôi hạ quyết tâm hoàn thành cả chục điều kiện thị thực, trước hết là xin gấp một giấy mời từ Pushkin, thì té ra <em>không có gì là thật và mọi thứ đều có thể</em>, đúng như tên <a href="https://www.nytimes.com/2014/11/30/books/review/nothing-is-true-and-everything-is-possible-by-peter-pomerantsev.html">cuốn sách của Peter Pomerantsev</a> về nước Nga triều đại Putin. Hãy trả một khoản lệ phí đủ lớn cho một văn phòng cò mồi nào đó là tất cả xong hết, ngay trong ngày, nếu Pushkin không ký giấy mời thì Tolstoy. Проблем? Нет!</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây là cuộc hò hẹn đầu tiên của tôi với Moskva. Lần chạm mặt thứ nhất không chủ định. Tôi thuộc lứa du học sinh có lẽ cuối cùng sang châu Âu bằng tàu liên vận. Chặng đầu Hà Nội &#8211; Đồng Đăng, đường sắt quê hương sau chiến tranh, như đã biết. Chặng thứ hai tàu Trung Quốc, toa hạng nhất, chăn gối phẳng phiu thơm phức, bàn ăn trải khăn trắng, đồ sứ mỏng, nhân viên mặc đồng phục nghiêm chỉnh, mặt lạnh như băng nhưng phục vụ hoàn hảo, chúng tôi là khách quốc tế. Chặng thứ ba tàu Liên Sô, chúng ta là bạn bè vô sản. Buồng vệ sinh xin mời tự dọn, giường chiếu tự thu xếp, ăn xong tự rửa chén rồi ra nghe nhân viên hát <em>Ka-chiu-sa</em> với <em>Ka-lin-ka</em> đệm ghi-ta sôi nổi. Trước chặng cuối đi Đông Âu, chuyển tàu ở Moskva, anh trai một bạn cùng nhóm, sinh viên Lomonosov, đón chúng tôi về ký túc xá ăn cơm với bắp cải luộc và xúc xích mỡ cắt nhỏ. Tôi tự nhủ, thiên đường cũng chỉ thế thôi, sau những ngày ăn món Tàu ngập dầu và món Nga súp, bánh mì, súp. Mạc Tư Khoa như thế nào, tôi không biết. Hình như cả nhóm có ra Quảng trường Đỏ. Hình như có xem tượng ông này ông nọ, tháp chuông này tháp chuông kia.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lần này tuổi tôi đã gấp ba lần trước, nước Nga đã qua hai thập niên giã từ quá khứ Sô-viết và thế hệ người Việt học khóa cuối ở đó đã giã từ quá khứ bán mì gói để bước vào Danh sách Forbes. Ở thời điểm tôi đến, Moskva đã vượt qua New York để trở thành thủ phủ của tỉ phú và sánh vai 5 thành phố đắt đỏ nhất thế giới. Tiệm ăn xuất sắc và cắt cổ không thiếu, phần lớn là <em>haute cuisine</em>, có cả vài nhà hàng <em>avant-garde</em> biểu diễn ẩm thực phân tử cho loại khách không còn trưng Lacoste nhưng đeo Hublot. Song lựa chọn còn lại là những quán xá nặng nề ngao ngán hoặc những căng-tin thiếu tất cả nhưng thừa phũ phàng. Nên màu vàng chữ M của McDonald’s chưa bao giờ và ở đâu lại rực rỡ trong mắt tôi như nhìn từ Tượng đài Pushkin với dòng thơ khắc &#8220;<em>Giữa thời tàn khốc, tôi hát khúc tự do</em>&#8220;, điểm hẹn truyền thống của giới đối kháng ở Moskva xã hội chủ nghĩa, Moskva &#8220;dân chủ định hướng&#8221; và Moskva &#8220;chuyên chế hậu hiện đại&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chi nhánh McDonald’s hoành tráng nhất quả đất ấy khai trương ngày 31/1/1990, như một cử chỉ vuốt mắt cho Liên Sô đang hấp hối, với sức chứa gần 1.000 khách trên tổng diện tích 2.200 mét vuông, 28 quầy phục vụ, 630 nhân viên tuyển từ 27.000 đơn xin việc, ngày mở hàng bán hết 31.000 suất Big Mac với khoai tây chiên và Coke, giá 5 rúp, tức nửa ngày lương công nhân. Trong giá rét xám xịt của mùa Đông nước Nga, chữ M vàng rực ấy còn chấn động người Moskva hơn sự kiện Bức tường ở Berlin xa xôi sụp đổ. Tôi thuộc phe chống đối công cuộc McDonald’s hóa nhân loại; hễ có dịp là tôi đay nghiến những cục bột mềm oặt kẹp thịt tiệt trùng tha hóa đến gai vị giác cuối cùng trên lưỡi, túi khứu giác cuối cùng trong mũi, sợi thần kinh lang thang cuối cùng ở thực quản và giọt dịch vị cuối cùng của dạ dày con người. Song trong năm ngày ở Moskva tôi cho thành phố này một ngoại lệ. McDonald’s ở đây thuộc về nhân quyền, hơn cả thiên đường là bữa cơm với bắp cải luộc và xúc xích mỡ cắt nhỏ ở ký túc xá Lomonosov 34 năm trước.</p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-3.png" alt="" class="wp-image-6469" width="602" height="393"/></figure>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-2.png" alt="" class="wp-image-6468" width="424" height="563" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-2.png 308w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-2-226x300.png 226w" sizes="auto, (max-width: 424px) 100vw, 424px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cũng được thưởng thức bếp hoài niệm Sô-viết trong một quán thiết kế bằng các toa tàu cũ, bàn ghế đĩa chén và thức ăn thẳng thừng chửi vào mặt khách, rằng đã ngu đến mức tự tìm vào chốn này thì gắng chịu: Bạn xứng đáng bị hành hạ. Dịch vụ tưởng nhớ một quá khứ còn chưa xa ấy ở cạnh ga Kurskaya, không thuộc những bến <em>metro</em> tráng lệ nhất nhưng cũng đủ là một cung điện nguy nga dưới lòng đất. Vừa cải tạo nâng cấp xong, dòng chữ &#8220;<em>Stalin dạy chúng ta trung thành với nhân dân, truyền cảm hứng cho chúng ta làm việc và hành động</em>&#8221; trên vòm tiền sảnh, lời trong Quốc ca Liên bang Sô-viết nguyên thủy, thời khử Stalin bị tiêu hủy, lại hiện ra huy hoàng. Người Nga rồi sẽ quên Lenin, quên luôn cả lăng mộ xấu xí của ông trên Quảng trường Đỏ. Tôi đến đó chỉ thấy lèo tèo vài du khách, vào cửa miễn phí. Còn Stalin, như Ivan bạo chúa, sẽ sống mãi, cho một nước Nga vĩ đại trở lại. Song nhân viên các nhà ga <em>metro</em>, thành tựu vĩ đại bất tử của đế chế Sô-viết, không được Stalin truyền nhiều cảm hứng. Họ phần lớn là những phụ nữ luống tuổi, phờ phạc mệt mỏi và cáu kỉnh. Bạn đừng mong họ thân thiện. Toàn bộ dáng vẻ của họ đã xác định: Không có phép màu. Như toàn bộ kiến trúc trường phái Stalin, nhất định phải đồ sộ hùng vĩ, biểu thị sức mạnh và sự ưu việt, những cung điện phi thường dành cho nhân dân này không chờ ở bạn một tình yêu, mà đòi sự thần phục.&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-1.png" alt="" class="wp-image-6467" width="470" height="353" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-1.png 360w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-1-300x225.png 300w" sizes="auto, (max-width: 470px) 100vw, 470px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Ở Bảo tàng Pushkin, cũng những phụ nữ luống tuổi mệt mỏi nói năng nhát gừng ấy. Họ gác ngôi đền nghệ thuật lừng danh như đứng quầy mậu dịch ban phát hàng quốc doanh phân phối thuở trước. Đàn ông Nga hình như không làm việc, còn <em>job</em> của các cô gái trẻ là trang điểm thật kĩ, mặc đầm thật bó, đi giày thật cao và tỏa thật đậm mùi nước hoa ngọt ngào mà người Nga ưa thích. Dọc những bức tường ở đường vào các trung tâm thương mại, nhiều lần tôi gặp hình vẽ một thiếu nữ Nga như vừa bước ra từ ca-ta-lô, tóc lượn sóng vàng óng, chót vót quyền lực cạnh một quý ông thấp bé cau có, tóc rất hói. Từ chiều cao thời đại, nàng dễ dàng vòng tay này qua vai chàng, hai ngón kiều diễm mơn man hạ xuống, nhón chiếc thẻ tín dụng từ túi áo ngực bạn quý, tay kia không còn chỗ cho những LV, Dior, Chanel, Hermès. Ở nước Nga <em>không có gì là thật và mọi thứ đều có thể</em>, nữ quyền là tự do quyết định có một tấm thân ngà ngọc mà lại biết trích dẫn Pushkin hay chỉ vỏn vẹn trông vào nhan sắc, nghe nói là tài nguyên dồi dào nhất ở đất nước mênh mông này. Ngoài khí đốt và dầu hỏa. Chiếc lò sưởi trong căn phòng thuê qua Airbnb của tôi cũng khẳng định nhận thức ấy, nó tuyệt đối đáng tin cậy vì chỉ cung cấp một lựa chọn: bạn có thể mở cửa sổ cho bớt nóng. Tiền sưởi tính trọn gói, rẻ như biếu không, chẳng việc gì phải mất công thay thế một hệ thống đã tận tụy cống hiến từ Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Để hoàn thiện một trải nghiệm, tiếp viên trưởng trong chuyến bay của tôi về Berlin với Aeroflot cũng là một phụ nữ Nga đứng tuổi mà mọi cử chỉ đều lấy lệ, đều bất đắc dĩ, đều như ra giá rằng mình chỉ làm đủ gói phận sự cơ bản, thêm chút niềm nở phải nâng hạng. Muốn thân ái thì trả giá.</p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image.png" alt="" class="wp-image-6466" width="436" height="436" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image.png 365w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/03/image-300x300.png 300w" sizes="auto, (max-width: 436px) 100vw, 436px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không <em>upgrade</em> lên thương gia. Moskva, tình yêu không của tôi. Trước Đại sứ quán Nga ở Berlin những ngày này tràn đầy người biểu tình. 850 tiệm McDonald’s ở Nga đã đóng cửa. Không sao cả, Điện Kremlin tuyên bố ngay kế hoạch triển khai thương hiệu Nga thay thế: дяди вани, <em>Cậu Vanya</em>. Lần sau tôi xin hẹn với Chekhov. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://baotreonline.com/van-hoc/le-cheo/co-hen-voi-pushkin.baotre">Tuần báo<em> Trẻ</em></a>,&nbsp; 17/3/2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Cuộc chiến quỷ ám</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6462</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 11 Mar 2022 09:17:33 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Belinsky]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Ukraine]]></category>
		<category><![CDATA[Fyodor Dostoyevsky]]></category>
		<category><![CDATA[Ivan Turgenev]]></category>
		<category><![CDATA[Putin]]></category>
		<category><![CDATA[Solzhenitsyn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6462</guid>

					<description><![CDATA[Cuộc chiến quỷ ám Phạm Thị Hoài Trong câu chuyện vô tận về mối quan hệ phức tạp giữa Nga và phương Tây, các nhà văn Nga ngoài vai trò đồng tác giả còn là những nhân vật tiêu biểu. Sa hoàng, Sô-viết, hậu Sô-viết, Putin hay hậu Putin, thời nào chiến tuyến cũng và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Cuộc chiến quỷ ám</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong câu chuyện vô tận về mối quan hệ phức tạp giữa Nga và phương Tây, các nhà văn Nga ngoài vai trò đồng tác giả còn là những nhân vật tiêu biểu. Sa hoàng, Sô-viết, hậu Sô-viết, Putin hay hậu Putin, thời nào chiến tuyến cũng và cũng sẽ hằn sâu giữa giới trọng Nga (<em>russophile</em>) hay trọng Slav (<em>slavophile</em>) và giới thân phương Tây.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Biểu tượng quyến rũ nhất của khuynh hướng thân phương Tây cho đến nay vẫn là Ivan Turgenev: Tài năng, danh tiếng, quảng giao, học thức, thành thạo sáu ngoại ngữ, chưa kể giàu sang quý tộc và một ngoại hình nổi bật với chiếc mũi hoàn hảo trên gương mặt khả ái và chiều cao gần hai mét. Đối trọng của ông về mọi phương diện là Dostoyevsky, xuất thân trong khốn khó, vóc dáng khắc khổ, râu thưa, tóc mỏng, da thiếu nắng, má hóp, mắt nhìn bất an, thần thái bồn chồn và thường xuyên chạy nợ. Hành trình của Dos là từ cực tả đến bảo thủ và thậm chí cực hữu, của Turgenev là từ hư vô đến cấp tiến rồi phóng khoáng ôn hòa. Dos thậm mộ đạo, Turgenev ít nhiều vô thần. Dos táo tợn cực đoan, Turgenev khoan dung điềm tĩnh. Dos cục cằn đầy kịch tính, Turgenev lịch lãm nhẹ nhàng. Dos cường độ, Turgenev sâu lắng. Dos khinh bỉ phong cách, bất chấp kỹ thuật, coi ngôn ngữ chỉ là phương tiện và nếu đang cháy túi thì viết ào ào, miễn bán được bản thảo. Turgenev kỹ lưỡng từng câu chữ, khổ sở mãi về một chiếc bàn tròn ở câu trước bỗng có hình bầu dục ở câu sau trong một tác phẩm của Dos. Dos sục xuống <em>tầng hầm</em> của tâm hồn Nga, tìm ra đầu dây cháy chậm của những quả bom người – những thân phận bị đọa đày và châm ngòi nổ. Turgenev mở cánh cửa sổ Nga ra thế giới, phối hiện thực với trữ tình và cho nét u buồn đặc trưng của Nga một vẻ bi quan hiện đại. Song xung đột bất hủ giữa hai vì tinh tú thuộc hàng rực rỡ nhất trên bầu trời văn chương Nga này đến từ câu hỏi &#8220;Con đường nào cho nước Nga?&#8221;, vấn đề thiêu đốt và chia rẽ giới tinh hoa Nga chậm nhất từ giữa thế kỷ 19.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong tác phẩm <em>Khói</em> (1867), Turgenev để nhân vật Potugin của mình phát biểu: &#8220;<em>N</em><em>gười Anh gặp nhau thì thảo luận về thuế trước bạ hoặc cáp điện ngầm dưới biển, người Đức bàn về Schleswig-Holstein và tiến trình thống nhất nước Đức, người Pháp không thể không đề cập chuyện tình ái, còn người Nga thì lập tức tranh cãi về &#8216;Vai trò và tương lai của nước Nga&#8217;. Họ gặm, họ mút, họ nhai cái vấn đề bất hạnh này như trẻ con ăn cao su – và luôn dẫn đến cùng một kết quả</em>.&#8221; Song Dostoyevsky thì khác, ông đã trả lời câu hỏi đó bằng hai đáp án trái ngược.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chàng thanh niên Dos bị bắt, kết án tử hình, ân xá vào phút chót trên pháp trường và lưu đày ở Siberia. Tội của ông là đã đọc bức thư nổi tiếng của Belinsky gửi Gogol trong một buổi họp mặt của Nhóm Petrashevsky, gồm các trí thức trẻ chống đối chế độ Sa hoàng. Belinsky, nhà phê bình văn học sáng chói những năm bản lề ấy thất vọng sâu sắc về bước ngoặt bảo thủ của Gogol sau thành công của <em>Những linh hồn chết</em> mà ông từng nhiệt thành ngưỡng mộ. Toa thuốc mà Gogol kê cho con bệnh là nước Nga, với những thảo dược Nga truyền thống như thần bí, khổ hạnh và sùng tín, theo Belinsky là chẳng những vô tác dụng mà độc hại, bởi nước Nga cần được điều trị bằng liệu pháp Âu hóa, bằng văn minh, khai sáng và nhân văn. &#8220;<em>Nước Nga không cần những bài giảng đạo (nó đã nghe quá đủ!), không cần những lời cầu nguyện (nó đã tụng quá nhàm!), mà cần sự đánh động ý thức của người dân về phẩm giá con người bị chôn vùi trong rác rưởi và ô uế suốt nhiều thế kỷ &#8211; nước Nga cần và phải áp dụng thật nghiêm khắc những thứ quyền và luật phù hợp với lẽ công bằng và lý trí lành mạnh chứ không phải phù hợp với giáo lý nhà thờ. Nhưng tiếc tay, nước Nga chỉ trình ra bộ mặt ghê tởm của một quốc gia không có đảm bảo nào cho cá nhân, danh dự và sở hữu của con người, một trật tự cảnh sát cũng không có nổi, chỉ thuần túy là một nhà nước trong tay đám sai nha trộm cắp và cướp bóc!</em>&#8220;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mươi năm sau, qua những khổ sai, quân dịch, bệnh tật, túng quẫn, chờ đợi một cú huých cho sự nghiệp, Dos đoạn tuyệt với các lý tưởng cực tả thời trẻ để tốt nghiệp bước ngoặt bảo thủ của số phận mình, có phần ít thần bí hơn Gogol, nhưng cũng triệt để quay lưng với các trào lưu khai sáng, cải cách và hiện đại hóa xã hội, chỉ còn cố thủ ở những &#8220;giá trị Nga&#8221; ăn sâu trong đời sống chất phác, tâm hồn trong sáng và đức chịu đựng vô tận của nông dân Nga, kết tinh trong Giáo hội Chính thống Nga mà ông giao phó sứ mệnh cứu rỗi không chỉ dân tộc mà toàn nhân loại. Dos nhiều lần thăm thú các kinh thành châu Âu, lần cuối hơn bốn năm lang thang trốn nợ, sống ở phương Tây mà như chưa bao giờ rời khỏi nước Nga, không ngoại ngữ, không giao lưu, không hội nhập, không hiếm khi thua trắng ở các sòng bạc và chỉ sống bằng nước trà. Cảm tình ban đầu của ông với phương Tây chuyển dần thành ác cảm, rồi ác cảm trở thành nỗi ghê tởm để củng cố niềm tin về con đường riêng của nước Nga, luận thuyết về đặc cách Nga, một kiểu <em>Russian Exceptionalism</em> mà sau này các nhà lập thuyết của Chủ nghĩa Putin, từ Aleksandr Solzhenitsyn, Aleksandr Dugin đến Vladislav Surkov, sử dụng như một nền tảng nhận thức. Phương Tây trong quan niệm ngày càng bảo thủ của Dos là hiện thân của chủ nghĩa vật chất suy đồi hời hợt, của sùng bái tiến bộ mù quáng, của tự do vô luân và vô đạo. Nước Mỹ xa xôi mà ông không thực sự tiếp cận cũng trở thành đối tượng căm ghét, chưa kể thái độ bài Do Thái, bài Ba Lan và bài Thổ không giấu diếm – để bài Do Thái giáo, Cơ-đốc giáo và Hồi giáo, ba tôn giáo lớn mà ông phỉ nhổ vì kình địch với Chính thống giáo Nga.&nbsp; &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đối tượng căm ghét tất yếu của ông cũng là Turgenev, người đồng nghiệp lẫy lừng có tất cả những gì Dos không sở hữu và hiện thân của tất cả những gì Dos dị ứng. Họ chia tay nhau không đội trời chung sau lần Dos, cháy túi như thường lệ, đến biệt thự của Turgenev ở Baden-Baden vay tiền đánh bạc và giận dữ vì chỉ mượn được một số tiền quá nhỏ. Chín năm sau ông mới trả khoản nợ ấy, nhưng trong <em>Lũ người quỷ ám</em>, tác phẩm lớn cuối cùng của mình, đã kịp dựng một chân dung Turgenev kệch cỡm qua nhân vật Karmazinov, một nhà văn ăn phải bả phương Tây nay đã hết thời, đạo đức giả và mù tịt về những biến động chính trị xã hội tại Nga. Song Turgenev vẫn rơi nước mắt ôm hôn kẻ thù của mình sau những lời đấu dịu đôi chút với phương Tây của Dos trong diễn văn khánh thành tượng đài Pushkin ở Moskva, bởi ngoài Pushkin, ông là &#8220;<em>thiên tài mực thước</em>&#8221; duy nhất của một nước Nga đầy những vụ tự thiêu và các thái cực hoang dã như nhận định của Dmitry Merezhkovsky. Vài tháng sau Dostoyevsky qua đời.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cũng đã say sưa đọc những tiểu thuyết đầy nhân vật lạ lùng, tình tiết gay cấn và giáo huấn mạnh mẽ của Dos đúng như lời Joseph Conrad, rằng ở chốn hội chợ văn chương, đám đông chỉ đổ xô đi xem một con chim sơn ca hai mỏ hay một gã quái thai khổng lồ, cổ chằng dây nịt ngựa, cười toe toét với khán giả. Chậm nhất, với Nabokov trong hành trang, tôi dễ dàng bỏ lại Dos trên sân ga. Song trong những ngày của cuộc chiến quỷ ám này, tôi lại buộc phải nghĩ về Dos và sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử từ Sa hoàng, Sô-viết, hậu Sô-viết, Putin hay hậu Putin, thời nào câu hỏi nước Nga đi về đâu dường như cũng và cũng sẽ nghiêng về câu trả lời của Dos. Rốt cuộc, một đồng nghiệp nổi tiếng khác của ông, Aleksandr Solzhenitsyn, sau hai mươi năm lưu vong ở phương Tây, cũng trở về để cảnh báo hiểm họa một nước Nga trên bờ vực thẳm nếu tiếp tục con đường thân phương Tây của Yeltsin, và – một lần nữa – đề xướng một viễn cảnh Toàn cõi Nga, Toàn cõi Slav, Đại Á-Âu, với nhà thờ Chính giáo và sứ mệnh cứu rỗi một nhân loại đã sa đọa bởi một phương Tây tham lam, tha hóa, dối trá, ẻo lả, phù phiếm, suy tàn. <a>Cho đến khi qua đời năm 2008, nhà văn cựu ly khai </a>trở thành vị minh sư mà viên cựu sĩ quan KGB Vladimir Putin một lòng ngưỡng mộ. Cuộc chiến ở Ukraine hôm nay theo đúng chương trình hành động mà tác giả của <em>Quần đảo ngục tù</em> đề nghị trong hàng loạt bài viết về việc tái thiết một đế chế Nga, ít nhất gồm Đại Nga, Tiểu Nga (Ukraine) và Bạch Nga (Belarus).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ở cõi bên kia, Dos hẳn đẹp lòng. Càng ngày tôi càng thấm nỗi bi quan u buồn của Turgenev. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Berlin, 07/3/2022 &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Việt Báo, 11/3/2022: https://vietbao.com/a311417/cuoc-chien-quy-am)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Mưa Thuận Thành</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6457</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 21 Feb 2022 20:20:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Hoàng Cầm]]></category>
		<category><![CDATA[Mưa Thuận Thành]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6457</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Tôi có thể giữ được chủ quan về&#160;Mưa Thuận Thành [1] hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của&#160;Về Kinh Bắc, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi có thể giữ được chủ quan về&nbsp;<em>Mưa Thuận Thành </em><a id="_ftnref1" href="#_ftn1">[1]</a><em> </em>hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của&nbsp;<em>Về Kinh Bắc</em>, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong ngăn kéo <a id="_ftnref2" href="#_ftn2">[2]</a> mà chỉ cái tên của nó đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh thần đặc trưng, là điều mà đa số các tập thơ hiện nay không làm nổi. Nhiều người sành điệu rỉ tai nhau, rằng ông là một trong số hiếm hoi những thi sĩ thực thụ còn tồn tại. Tên ông, ngay sinh thời, dường như đã được nối vào danh sách không dài lắm của những tên tuổi được mụ thời gian tính khí rất thất thường đồng ý lưu lại. Nhưng tác phẩm của Hoàng Cầm lại đến với công chúng muộn mằn, và phải chở trên lưng một quá khứ nguy hiểm. Nguy hiểm cho chính ông đã đành, cho người đọc cũng nguy hiểm chẳng kém. Tôi có giữ được lòng mình, hay cũng vì đủ thứ lý do nằm ngoài bản thân tác phẩm mà phải chi ra một vài món tình cảm và nhận thức nào đó cho những huyền thoại ấy, cho quá khứ ấy? Nguy cơ là lớn. Nhưng tôi hy vọng vào khoảng cách giữa các thế hệ. Hoàng Cầm và tôi là người cùng thời, nhưng ông có trước tôi một thời đại không lặp lại nữa, hay dùng chữ của ông: một&nbsp;<em>gia phả</em>&nbsp;tinh thần mà dù đã được&nbsp;<em>rũ bụi</em>&nbsp;thì tôi cũng không thể đơn giản làm quen.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước ông ít lâu, những người trẻ tuổi đang háo hức&nbsp;<em>nhóm dậy</em>&nbsp;một&nbsp;<em>cuộc cách mệnh về thi ca</em>&nbsp;đã tấn công không thương tiếc kể cả thi sĩ sáng danh Tản Ðà,&nbsp;<em>người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ</em><a id="_ftnref3" href="#_ftn3"> </a><a id="_ftnref3" href="#_ftn3">[3]</a>, nhân danh một hồn thơ mới của một thời đại mới, bất chấp ngọn roi quật lại cũng phũ phàng của một chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đầy uy tín. Ðã qua lâu rồi cuộc nội chiến vĩ đại, kéo theo những hậu quả ăn chặt vào lòng ngôn ngữ Việt và chiếm một vị trí có thể gọi là bành trướng trong lịch sử thơ Việt ấy. Những người trẻ tuổi của các thế hệ tiếp theo không khởi xướng &#8211; hoặc không có cơ hội khởi xướng &#8211; một phong trào thơ ca nào tương tự về tầm vóc như thế nữa. Chúng ta đành ghi nhận tính khoan dung giữa các trào lưu và phong cách trong lịch sử thơ Việt từ đó đến nay, nếu quả thật nửa thế kỷ qua thơ Việt &#8211; ở miền Bắc trước và ở cả nước sau thống nhất – đã có nhiều hơn là một trào lưu duy nhất, một phong cách duy nhất. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các thế hệ vẫn có thật, và hơn nữa: khoảng cách giữa các thời đại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy thì trước hết, tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa cách. Thật lạ lùng, thực ra hầu hết những gì tạm gọi là chất liệu làm nên thế giới thơ ông đều còn nguyên, thực ra không xa vời, không siêu nhiên hoang đường gì hết, mà hồn thơ ông vẫn là một người khách xa, không dễ cho tôi bày tỏ đúng cách lòng trân trọng, chứ chưa nói đến việc cởi mở tâm tình. Trong khi đó, chẳng hạn cái thế giới Chiêm Thành mộng mị ma ảo của họ Chế đã&nbsp;<em>điêu tàn</em>&nbsp;từ lâu, nhưng Chế Lan Viên thuở ấy với tôi lại là gần gũi. Không phải là vấn đề ngôn ngữ, dù Hoàng Cầm có một hệ lời tinh vi và lắt léo, đôi khi lắt léo tới mức người biết đọc thơ ông cũng không nhất thiết phát hiện ra những lỗi in sai trầm trọng, vì cái lý thông thường của các con chữ, cái lý của một nghĩa gói trong một chữ, ở trường hợp ông rất nhiều khi chẳng giúp được gì. Cái hệ lời&nbsp;<em>ới hời vi vút sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê tê vời vợi</em>&nbsp;ấy lại đi đôi với một âm vận rất riêng, dường như đã được gọt rũa tính toán cho không còn một chút ngẫu nhiên nào lọt lưới, đồng thời cũng dường như chỉ cảnh vẻ thế thôi, chẳng mấy bận tâm, nên lắm chỗ cứ ngang phứa lên, phá kỷ lục của cả những tay chơi ngang thượng thặng, nhưng khác xa loại thơ xuôi tai, loại thơ có đổi thanh đổi vận, có xuống hàng và có thu xếp hòm hòm một số lượng từ ngữ nào đó cho một tiết tấu nào đó. Tất nhiên là Hoàng Cầm cầu kỳ. Ðấy có vẻ như một phản ứng trước xu thế giản dị hoá, giản đơn hoá, bình dân hoá, rồi thô thiển hoá trong thơ Việt từ nhiều chục năm nay, sau khi nền thơ ca bác học đầy điển tích sâu xa và niêm luật khe khắt bị chôn bởi thơ tiền chiến, rồi đến lượt mình, thơ tiền chiến lại bị lấp đến thắt lưng bởi thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bất kỳ câu nào của ông cũng tiêu tao yểu điệu, tuy nhiều chỗ chỉ là một kiểu chơi không thấm thía và thuyết phục lắm, không làm người đọc bàng hoàng bởi một sự phi thường nào đó phát lộ qua vài con chữ, một kiểu chơi thường gặp ở những nghệ sĩ không nhất thiết chủ trương nghệ thuật buộc phải tải một cái gì đó ngoài chính nó và đương nhiên, người làm ra nó:&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Ðón chị hồn chênh/lệch bóng đêm&#8230;&nbsp;</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Vùi trong trắng-xoá vĩnh hằng thơ ngây&#8230;&nbsp;</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Ở Yên Kỳ sao con vẫn thiếu/Một nơi nằm yên/Mấy kỳ nguôi quên</em>&#8230;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Và cũng không phải cái thường được gọi một cách bí ẩn và hàm hồ là những ẩn ức nào đó ở Hoàng Cầm. Xem ra đấy có vẻ như một liên hệ dễ dãi với quê hương Kinh Bắc của ông. Như đã nói, thực ra Kinh Bắc ấy, với những chùa chiền hội hè lăng miếu dân ca huyền thoại và những người nam người nữ tương đối rụt rè trong nhục cảm, không xa lạ gì với phần đông người Việt còn sống đến hết thế kỷ hai mươi này. Những sản phẩm tinh thần thuần túy thành phố lớn chưa thống trị chúng ta. Còn đô thị cổ với không khí đặc trưng của nó như trong thơ Hoàng Cầm, chứ không phải làng quê Việt Nam truyền thống, thì chưa lùi xa vào dĩ vãng đến thế. Vậy mà sao ông vẫn mang một vẻ đẹp xa cách, mặc dù ba phần tư&nbsp;<em>Mưa Thuận Thành</em>được viết trong thời gian gần đây, có bài thậm chí cuối năm ngoái.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hoàng Cầm không phải một thi sĩ thời thế để người đọc có thể tìm kiếm tức thì sự cảm thông gần gũi qua những bày tỏ tâm huyết về xã hội và cuộc đời. Ông không đơn giản tới mức cứ đau đời từ trang này sang trang khác. Ông cũng không chỉ bảo cho ai, rằng thực ra cái Đẹp trốn ở đâu. Không hùng tráng, không khắc nghiệt, không cười cợt, rất ít triết lý, không có chính kiến. Song thật dễ chịu khi thi sĩ không nhảy bổ ra từ mỗi góc thơ để thét vào mặt tôi hoặc thầm thì sâu sắc vào tai tôi, rằng cuộc đời thì đầy rẫy điều đáng phàn nàn, kết cục chỉ riêng tác giả là biết đau đớn, hoặc căng thẳng hơn: biết đau đớn một cách thẩm mĩ nhất. Không như vậy. Thế giới tình cảm của Hoàng Cầm trong&nbsp;<em>Mưa Thuận Thành</em>, dù gồm nhiều mảng rất khác nhau, chỉ xót xa, phiền muộn, yểu điệu, yếu ớt, tinh vi, nhiều mặc cảm, nhiều nữ tính. Có một cậu thiếu niên cầm&nbsp;<em>lá diêu bông</em>, lá hy vọng hờ, lá hư không, đi suốt cuộc đời thơ ông, cậu thiếu niên xưng Em,&nbsp;<em>em đứng nhìn theo, em gọi đôi</em>&nbsp;cho một đời lẽo đẽo cô đơn đa tình, dẫu sau này, cũng trong cùng một tập thơ, ngôi thứ và các đại từ nhân xưng có được phân bổ lại, phù hợp với các quy ước chung hơn. Ở Hoàng Cầm không có dấu hiệu gì của phản kháng, tức giận, bùng nổ, hiếu chiến. Trí thông minh không được huy động để đối phó với những nỗi buồn. Bản năng cũng được kìm nén. Chỉ êm dịu một lẽ chấp nhận thoáng chút xót xa. Thế giới ấy, tôi khó chia sẻ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ðiều duy nhất có thể giúp tôi cắt nghĩa câu hỏi nêu ở phần trên là trường liên tưởng rất đặc trưng Hoàng Cầm.&nbsp;<em>Em thì Em ngắt quãng tân hôn/Theo chị lùa mưa đuổi nắng buồn/ Hai đứa lung linh lơi yếm áo/Thuyền trăng dềnh/sã cánh cô đơn</em>&#8230; Với tôi, những&nbsp;<em>lung linh lơi, trăng dềnh, sã cánh cô đơn, biếc thời gian, cõi mưa nhung, sạm màu cô đơn, điệu kèn hư vô</em>&#8230; là những thứ không còn mấy sức gợi cảm. Chúng đã mất tia sáng tạo loé lên ở một thuở ban đầu nào đó từ lâu. Nhiều câu thơ khác của ông cũng đứng chênh vênh giữa ranh giới của khám phá và sáo mòn, làm đau tim và đau đầu chính độc giả của riêng ông, thậm chí làm những người ngưỡng mộ ông vô điều kiện có thể rối loạn khả năng cảm thụ:&nbsp;<em>Luỹ tre gầy nhuốm sương&#8230; Nến khuya loang vũng máu&#8230; Chuông sớm có nghiêng về mộng cũ</em>&#8230;, rồi&nbsp;<em>khói tím, hương tím, hoa tím, bóng tím, chuông buông tím</em>&#8230; Những tín hiệu đó xa lạ với lớp trẻ ngày nay, vẫn hiếu kỳ như mọi lớp trẻ, nhưng ưa tốc độc cao, thích sòng phẳng, chuộng hiệu quả và ghét mùi mẫn. Lần đầu đọc thơ ông, tôi hơi bối rối trước những từ ngữ không ngờ có thể đặt cạnh nhau, những hình ảnh không ngờ có thể tiếp nối nhau để xuất hiện những thi tứ không ngờ và một nhạc điệu không ngờ. Tôi không bắt được cái cơ chế hoạt động trong ông để sản sinh ra những điều ấy. Tiếp tục đọc ông, tôi vẫn bối rối, nhưng lần này vì không dám chắc tất cả những thứ độc đáo bất ngờ đó có được hình thành trên cơ sở của một trường liên tưởng khác thường, với khả năng hấp thụ và đàn hồi lớn, hay một phần đáng kể nào đó có thể chỉ là một lối chơi công phu, quá công phu nữa so với hiệu quả, vì rất có thể người chơi đã quan niệm hiệu quả theo cách khe khắt nhất của riêng mình. Nếu quả như vậy, vẻ đẹp xa cách của ông sẽ được chiêm ngưỡng như người ta thường chiêm ngưỡng các vị cao thủ miên man bên những ván cờ mà đường đi nước bước ít ai có đủ tâm trí và thời gian để hiểu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng bất kể thế nào, khả năng liên tưởng kỳ lạ của Hoàng Cầm vẫn là điều đáng quan tâm hơn cả so với những phẩm chất khác. Chính nó đã quyết định từng câu từng chữ có vị Hoàng Cầm. Ở những chỗ không có nó, tôi không nhận ra Hoàng Cầm, mặc dù cũng chẳng có gì để chê hay khen:&nbsp;<em>Có nét buồn khôi nguyên/Chìm sâu vào đằng đẵng/Có tiếng ca ưu phiền/Chìm sâu vào lẳng lặng</em>&#8230; Nhưng ngay lập tức, ở khổ sau, liên tưởng xuất hiện, tuy không xuất sắc lắm:&nbsp;<em>Và dai dẳng em ơi/Là cơn say khát lá/Cứ thon mềm xanh lả/Trong men quê bồi hồi</em>&#8230; Chính nó đã gọi về cho ông những cảm xúc đang lang thang ở đâu đó, đã xâu chuỗi những hình ảnh, đã lảy ra những từ ngữ, nhạc điệu không thể có nổi ở một trường liên tưởng nông cạn, nghèo nàn, hoặc tầm thường hơn. Không có nó thì những bài thơ tuyệt vời của ông:&nbsp;<em>Cây tam cúc, Lá diêu bông, Theo đuổi, Về với ta, Chùa Hương</em>&#8230; sẽ chỉ là những câu chuyện rời rạc, không xứng đáng với tâm trạng đằng sau. Nhưng đấy là một mạch liên tưởng khó nắm bắt, lắt léo, đột ngột nhảy cóc, đột ngột mất hút rồi lại vụt trở về như không có gì cần giải thích. Tôi có lẽ nằm ở một mạch liên tưởng khác, trong đó những đường ngang ngõ tắt của cảm xúc và suy tư vẫn được chỉ dẫn bằng một tấm bảng nào đó của lô-gích. Bởi thế, chưa tìm được đường gần gũi với thơ Hoàng Cầm hơn chăng?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có thể say mê thơ Hoàng Cầm, cũng có thể khó chịu, hoặc cả hai một lúc. Cảm giác nước đôi ấy không có đối với số đông thi phẩm Việt Nam. Cũng có thể thuần tuý thán phục tài thơ ông, học ở ông, thậm chí chịu ảnh hưởng của ông mà vẫn giữ được một khoảng cách với ông. Ông cũng là người đi một mình, chẳng choán đầy ai, chẳng ai choán đầy ông, và bất chấp tất cả sự đa cảm đa mang, vẫn cô độc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Xuân Diệu, Tố Hữu&#8230; có những bài thơ và câu thơ hay, nhưng không dựng nổi một không gian tinh thần, một vương quốc thơ dẫu bé nhỏ đến mấy nhưng là của riêng mình. Chế Lan Viên với thật nhiều hứa hẹn và ân sủng cũng chỉ chớm làm được điều ấy. Cùng với Hàn Mặc Tử, Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, có thể phần nào Nguyễn Bính&#8230; trước ông, và Trần Dần, Ðặng Ðình Hưng, nửa sau của Lê Ðạt&#8230; cùng thời, Hoàng Cầm là một trong số không nhiều lắm những người lập được cho mình một vương quốc thơ riêng, với nền móng, bản sắc và các nghi thức không thể trộn lẫn. Tập&nbsp;<em>Mưa Thuận Thành</em>&nbsp;không cần đề tên tác giả, vì chắc chắn đó là Hoàng Cầm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có những tác giả mà ai cũng kính trọng và không ai đọc, trừ những người có việc phải đọc. Có những tác giả chỉ bất tử bằng các huyền thoại bên ngoài tác phẩm. Tôi hy vọng đấy không là trường hợp Hoàng Cầm. Tác phẩm của ông càng rũ đi được những hào quang phụ càng tốt.&nbsp;<br><br><em>Hà Nội, tháng Tư 1991&nbsp;</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>(Hiệu đính cho bản đăng trên <a href="https://vietbao.com/a311176/mua-thuan-thanhhttps:/vietbao.com/a311176/mua-thuan-thanh">Việt Báo ngày 18 tháng Hai 2022</a>, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hoàng Cầm)</em></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1" id="_ftn1">[1]</a> Nhà Xuất bản Văn học, Hà Nội, 1991</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref2" id="_ftn2">[2]</a> <em>Về Kinh Bắc</em> (1959-1960) được chính thức xuất bản lần đầu năm 1994, Nhà Xuất bản Văn học, Hà Nội.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref3" id="_ftn3">[3]</a> Hoài Thanh, <em>Một thời đại trong thi ca</em> (1941)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Heinrich Heine – Lòng ái quốc của tôi</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6455</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 19 Feb 2022 15:01:22 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Heinrich Heine]]></category>
		<category><![CDATA[Lòng ái quốc]]></category>
		<category><![CDATA[Nước Đức. Một cổ tích mùa Đông]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6455</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài dịch Heinrich Heine (1797-1856) là một trong những tác giả quan trọng và gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử văn học Đức. Sinh thời, nhiều tác phẩm của ông bị cấm hoặc kiểm duyệt tại Đức; bản thân ông bị truy bức và sống lưu vong 25 năm tại Pháp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài dịch</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Heinrich Heine (1797-1856) là một trong những tác giả quan trọng và gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử văn học Đức. Sinh thời, nhiều tác phẩm của ông bị cấm hoặc kiểm duyệt tại Đức; bản thân ông bị truy bức và sống lưu vong 25 năm tại Pháp cho đến khi qua đời. Tác phẩm trụ cột của ông, trường ca &#8220;<a href="https://www.projekt-gutenberg.org/heine/wintmrch/wintmrch.html"><em>Nước Đức. Một cổ tích mùa Đông</em></a>&#8221; phê phán sắc bén và giễu cợt sâu cay một nước Đức trước Cách mạng 1848, ngủ kĩ trong khuôn khổ chính trị, văn hóa và xã hội chật hẹp, tỉnh lẻ, thủ cựu của một quá khứ đã lỗi thời so với một nước Pháp đầy không khí tự do của một thời đại mới. Bị coi là tác phẩm gây hấn của một kẻ lang thang mất gốc phản bội Tổ quốc, một kẻ chuyên báng bổ và bôi đen bằng miệng lưỡi độc địa, trường ca này lập tức bị thu hồi, cấm phổ biến và tác giả bị lệnh truy nã. Đoản văn sau đây là &#8220;Lời nói đầu&#8221; của tác giả cho ấn bản mà ông đã lường trước là sẽ bị kiểm duyệt hủy diệt nhiều đoạn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phạm Thị Hoài</p>



<p class="wp-block-paragraph">_______</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tác phẩm thơ này tôi viết tháng Giêng năm nay tại Paris, và ngọn gió tự do ở nơi đây đã ùa vào một số khổ thơ mạnh hơn mức tôi mong muốn. Ngay sau đó tôi đã giảm bớt hoặc loại bỏ những thứ khó thích hợp với khí hậu Đức. Vậy mà tháng Ba, khi gửi bản thảo đến nhà xuất bản ở Hamburg, tôi vẫn bị yêu cầu xem lại hàng loạt chỗ cần cân nhắc. Buộc phải làm cái việc khốn khổ là chỉnh sửa, nên một số âm điệu nghiêm khắc chắc đã bị nén xuống hơn mức cần thiết hoặc đã bị những tiếng chuông của sự hài hước có thể quá vui nhộn át đi. Trong cơn vội vã bức bối, tôi lại xé đi những chiếc lá vả che vài ý tưởng trần trụi, và có lẽ đã khiến tai ai đó quá nhạy cảm dễ vỡ bị tổn thương.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thật đáng tiếc, nhưng tôi tự an ủi rằng nhiều tác giả tầm vóc lớn hơn cũng từng phạm những lỗi tương tự. Về chuyện phẫu thuật chỉnh sửa, tôi khỏi nhắc đến Aristophanes, vì ông ấy là kẻ ngoại đạo mù dở, và công chúng thành Athens tuy được hưởng một nền giáo dục kinh điển nhưng ít hiểu biết về luân thường. Cervantes và Molière dễ cho tôi dựa vào hơn; ông trước viết cho giới quý tộc của cả hai vương quốc, ông sau viết cho vua và triều đình Versailles! À, tôi quên, chúng ta đang sống ở một thời rất tư sản, và đáng tiếc tôi đã thấy trước rằng bài thơ tội nghiệp của tôi sẽ khiến vô khối thiếu nữ con nhà có học ở vùng sông Spree hay thậm chí sông Alster phải nhăn những chiếc mũi ít nhiều đều khoằm cả!</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng tôi còn thấy trước một điều đáng tiếc hơn nữa, đó là sự la ó từ đám cầm cờ đạo đức<a href="#_ftn1" id="_ftnref1">[1]</a> của dân tộc, những kẻ đang sát cánh chia sẻ những ác cảm của chính quyền, hưởng trọn tình yêu và sự kính trọng của kiểm duyệt và nắm quyền định đoạt trên báo chí, nơi để tấn công đối thủ, mà đối thủ của họ lại chính là đối thủ của các ông chủ cao nhất của họ. Chúng ta sẵn lòng chống lại mối hiềm thù của đám đầy tớ hăng hái mặc chế phục đen đỏ vàng đó. Tôi đã nghe cái giọng thắm mùi bia của họ: &#8220;Ngươi lại còn chế nhạo cả màu sắc của dân tộc, thằng khinh rẻ Tổ quốc, thằng thân Pháp, ngươi định biếu không sông Rhein cho bọn Pháp chắc!&#8221;. Các vị hãy yên tâm. Tôi sẽ coi trọng và tôn kính màu sắc của các vị nếu chúng xứng đáng, nếu chúng không còn là một trò rỗi hơi hay rập đầu khúm núm. Hãy cắm lá cờ ba màu đen đỏ vàng đó lên đỉnh cao của tư tưởng Đức, biến nó thành cờ hiệu của nhân loại tự do là tôi sẵn sàng dâng trọn tâm huyết mình cho nó. Hãy yên tâm, tôi yêu Tổ quốc cũng không thua các vị. Vì tình yêu ấy, mười ba năm qua tôi đã sống đời lưu vong, và cũng vì chính tình yêu ấy tôi lại trở về chốn lưu vong, có lẽ sẽ vĩnh viễn, mà chắc chắn chẳng khóc than hay cắn răng chịu đựng. Tôi làm bạn với người Pháp cũng hệt như làm bạn với tất cả những ai miễn là tốt và có lý trí, và vì bản thân tôi không ngu và tệ đến mức phải mong cho đồng bào Đức của tôi và người Pháp, hai dân tộc tinh tuyển của cõi nhân văn, ghè đầu nhau để Anh và Nga hưởng lợi và toàn thể đám lãnh chúa và thày tu trên trái đất này cười thầm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Các vị hãy yên tâm, không bao giờ tôi cắt sông Rhein cho Pháp, đơn giản vì sông Rhein là của tôi. Vâng, là của tôi, trên cơ sở quyền tự nhiên bất khả chuyển nhượng, tôi là đứa con còn phơi phới tự do hơn của sông Rhein tự do, chiếc nôi thơ ấu của tôi đặt bên bờ, và tôi không thấy vì sao sông Rhein lại thuộc về ai khác ngoài những đứa con của vùng sông nước ấy. Còn Elsaß và Lothringen<a href="#_ftn2" id="_ftnref2">[2]</a> thì tất nhiên tôi không dễ cho sáp nhập vào Đế chế Đức như ý các vị, vì dân hai vùng ấy gắn chặt với Pháp bởi các quyền được hưởng từ sự chuyển đổi thể chế nhà nước, bởi các quyền bình đẳng và thiết chế tự do rất dễ chịu với tâm trí tư sản song vẫn còn nhiều điều khó tiêu hóa cho bao tử của đám đông. Dẫu thế nào, dân Elsaß và Lothringen sẽ trở về với Đức, nếu chúng ta hoàn thành công cuộc mà người Pháp đã mở ra, nếu chúng ta vượt qua họ trong hành động như đã vượt qua trong ý nghĩ, nếu chúng ta vươn đến những hệ quả cuối cùng của công cuộc đó, nếu chúng ta đập tan sự nô dịch ở tận nơi ẩn náu cuối cùng của nó là thiên đường, nếu Chúa Trời ngụ bên trong con người nơi trần thế được chúng ta giải thoát khỏi sự hạ nhục, nếu chúng ta trở thành cứu tinh của Chúa, nếu chúng ta đem phẩm giá trả lại cho dân nghèo bị truất gia tài hạnh phúc, cho thiên tài bị nhạo báng và cho cái Đẹp bị ô uế, như các bậc thầy vĩ đại của chúng ta từng nói và hát lời tụng ca và như mong muốn của chúng ta, học trò của họ &#8211; nếu được như vậy thì không chỉ Elsaß và Lothringen mà toàn nước Pháp sẽ ngả về ta, toàn châu Âu, toàn thế giới – toàn thế giới sẽ thành Đức! Những khi dạo bước dưới rặng sồi, tôi thường mơ về sứ mạng ấy và quyền năng phổ quát như thế của nước Đức. Đó chính là lòng ái quốc <em>của tôi</em>. &nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi sẽ trở lại chủ đề này trong cuốn sách sắp tới, bằng quyết tâm tuyệt đối, bằng sự triệt để không nhân nhượng, và chắc chắn bằng sự trung thành. Tôi sẽ biết tôn trọng lời phản biện quyết liệt nhất nếu nó xuất phát từ một xác tín. Cả sự thù hằn thô lỗ nhất, rồi tôi sẽ kiên nhẫn tha thứ; thậm chí tôi sẽ đáp lại sự ngu ngốc nếu nó thành thực. Nhưng tôi dành toàn bộ sự khinh bỉ im lặng cho hạng tôm tép vô lại, vì khổ sở đố kị hay độc địa bẩn thỉu cá nhân mà tìm cách hủy hoại danh tiếng tôi trước công luận, bằng cách dùng chiếc mặt nạ của lòng yêu nước hay thậm chí của tôn giáo và đạo đức. Ở khía cạnh này, tình trạng vô chính phủ của giới báo chí văn chương và chính trị Đức đôi khi được khai thác tài tình đến mức tôi phải hết lòng thán phục. Quả thật, nhân vật Schufterle<a href="#_ftn3" id="_ftnref3">[3]</a> không hề chết mà còn nguyên đó và từ nhiều năm nay đứng đầu một băng đảng được tổ chức chặt chẽ của đám giặc cướp văn chương, hoành hành trong những khu rừng Bayern là làng nhật báo của chúng ta, ẩn núp trong mỗi bụi cây, sau từng chiếc lá và tuân theo tiếng huýt khẽ nhất của tên chỉ huy xứng đáng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối cùng, xin lưu ý rằng &#8220;<em>Cổ tích mùa Đông</em>&#8221; là phần cuối trong bộ &#8220;<em>Những bài thơ mới</em>&#8221; mà Hoffmann &amp; Campe vừa phát hành. Nhưng để ra một ấn phẩm riêng, nhà xuất bản phải gửi bản thảo cho các cơ quan giám sát soi thật kĩ, những sửa đổi và hủy diệt mới là kết quả của sự thẩm định bất khả kháng này. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hamburg, ngày 17 tháng Chín 1844</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Tuần báo <em>Trẻ</em>, 17/02/2022)</p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1" id="_ftn1">[1]</a> Tiếng Đức trong nguyên bản: <em>Pharisäer</em>, tương đương trong tiếng Việt là <em>Pharisêu</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref2" id="_ftn2">[2]</a> Tên tiếng Pháp là Alsace và Lorraine, hai vùng lãnh thổ trải qua nhiều tranh chấp giữa Đức và Pháp, phần lớn thuộc về Pháp sau Cách mạng Pháp 1789.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref3" id="_ftn3">[3]</a> Schufterle là một tên cướp hết sức đốn mạt trong vở kịch <em>Lũ cướp</em> (Die Räuber) của Friedrich Schiller.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gốc</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6451</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 06 Feb 2022 15:06:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Gốc]]></category>
		<category><![CDATA[Tiếng Việt]]></category>
		<category><![CDATA[tự hào dân tộc]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6451</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Mỗi lần nghe nhắc, mất gốc là nghệ sĩ mất nguồn sáng tạo, tôi lại có cảm giác không yên ổn. Như thể mình đang là một công dân đứng đắn của quốc gia nghệ thuật mà thỉnh thoảng đội bảo vệ cứ gõ cửa, hỏi mình có cần họ giúp gì [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong><strong></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Mỗi lần nghe nhắc, mất gốc là nghệ sĩ mất nguồn sáng tạo, tôi lại có cảm giác không yên ổn. Như thể mình đang là một công dân đứng đắn của quốc gia nghệ thuật mà thỉnh thoảng đội bảo vệ cứ gõ cửa, hỏi mình có cần họ giúp gì không. Cũng gần giống cảm giác như khi bị nhắc, rằng nghệ thuật muốn thế nào cũng phải phát sinh từ hiện thực. Tôi vô cùng biết ơn gốc rễ, hiện thực, mọi quê hương và căn cứ địa khác của nghệ thuật, cũng như biết ơn đội bảo vệ sốt sắng, song trong thâm tâm thì mong các quý vị đó đừng ở chơi quá ba ngày. Phần đông các nghệ sĩ không sáng tạo gì hết. Một số ít sáng tạo trong một giai đoạn ngắn. Một số vô cùng ít sáng tạo tương đối lâu dài. May ra đếm trên đầu ngón tay được những nghệ sĩ suốt đời sáng tạo trong lịch sử nhân loại. Như vậy tìm ra nguồn cơn của sáng tạo thì khó và điều đó mãi mãi là bí ẩn, chứ một lần nữa cho sự không sáng tạo thêm một nguyên cớ nào có ích gì. Nhà văn Việt ở bên ngoài có thể cho rằng mình không viết nổi, vì thiếu nước Việt chẳng hạn. Nhà văn Việt ở bên trong, nếu viết cũng không nổi, có lẽ vì quá thừa nước Việt chăng?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi vốn tin rằng theo bất kỳ một nghĩa nào người ta cũng không thể mất gốc. Nếu không có, chưa bao giờ có một gốc rễ nào đó, thì mất nó khác nào mất con cá ở ngoài lưới, một con cá thật to. Những thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại, tuy được mệnh danh là người Mỹ, người Pháp, người Đức&#8230; gốc Việt, nhưng chữ <em>gốc</em> này cùng lắm chỉ tiết lộ những đặc trưng chủng tộc nào đó chứ không phải đặc trưng văn hoá. Những thế hệ ấy bắt rễ trong văn hoá của các  quốc gia mà họ sinh trưởng, họ không thể đánh mất văn hoá Việt, là thứ họ không thực sự sở hữu. Cái <em>gốc</em> thứ hai này mới đáng kể. Thậm chí cái <em>gốc</em> thứ nhất, vận vào họ, tôi cho là đã khiên cưỡng. Chẳng những bản năng thứ hai mà bản năng tự nhiên ở những thế hệ ấy cũng đã thay đổi. Da họ phản ứng với ánh nắng và độ ẩm nhiệt đới khác da người Việt, răng họ mắc hay không mắc những bệnh khác răng người Việt. Họ không rung đùi. Không lê dép loẹt quẹt. Không nhai chóp chép. Không ngồi xổm. Không xỉa răng tung tóe và kháo chuyện ầm ĩ nơi công cộng. Không chen lấn. Không sợ công an. Không mang những cái <em>gene</em> thuần Việt như vậy. Chúng ta thường cảm động trước những cố gắng tìm hiểu về Việt Nam của họ và gọi đó, một cách đầy thiện cảm và cũng đầy mơ hồ, là những cố gắng &#8220;tìm về cội nguồn&#8221; và lại càng nhiệt tình khích lệ họ viết tiếng Việt. Trong phần lớn các trường hợp ăn giải khuyến khích như vậy, phẩm chất văn chương &#8211; mà biểu hiện hiển nhiên nhất là ở chất lượng ngôn ngữ &#8211; xếp hàng cuối cùng. Tôi không muốn làm kẻ phá đám khuyến Việt, song thương tiếng Việt như thế cũng khổ cho tiếng Việt lắm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Quyết định viết bằng một ngôn ngữ nào là kết hôn với nó cả đời, hưởng nó mà cũng chịu đựng nó, thậm chí cắn răng mà chịu, đúng theo nghĩa đến chết mới chia ly. Cuộc hôn nhân thủ cựu, hà khắc, trói buộc này dĩ nhiên không phải là phòng thí nghiệm hay chuyến du lịch. Ở đa số những tác giả thử viết bằng tiếng Việt nói trên, tôi có cảm tưởng đôi bên còn chưa cầm tay nhau, trong khi rất có thể họ đã ăn nằm như thế nào đó với một bản ngữ khác. Cảm giác chưa cầm tay nhau đương nhiên rất phỉnh nịnh và quyến rũ, khiến người chưa vỡ tiếng Việt có thể lâng lâng bay như trên lưng ngựa Phù Đổng, trong khi người dày dạn lại như bò lê dưới gánh nặng mà ngôn ngữ ấy có thể trút xuống mỗi thành viên đơn lẻ của mình. Không cần phải quẩy trọn gánh ấy mới là mang quê hương theo, tôi biết vô số người đã trút quá nửa gánh ấy xuống dọc đường di tản mà vẫn còn nguyên là người Việt. Nhưng cưỡi ngựa mà xem hoa như nói trên thì ít liên quan đến việc tìm về cội nguồn Việt. Cách đây không lâu tôi đọc bản dịch một truyện ngắn của một tác giả gốc Việt viết tiếng Anh. Bản tiếng Việt chỉ cho thấy đấy là văn dịch, không tiết lộ một văn phong riêng tư gì đã đành, mà cố hình dung bản gốc tôi cũng chẳng tìm được một điều gì nhất thiết liên quan đến Việt tính, song truyện ngắn đó được giới thiệu đại loại là nghệ thuật của một thế hệ tuy đã dùng ngôn ngữ khác, nhưng vẫn &#8220;man mác tâm hồn dân tộc&#8221;. Tôi hy vọng dân tộc Nga không soi <em>Lolita</em> để tìm dấu vết tâm hồn mình. Còn Kafka? Tiệp, Áo, Đức hay Do Thái giành được bản quyền tâm hồn dân tộc ở đó?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu một gốc rễ nào đó từng tồn tại thì đánh mất nó cần công phu vất vả lắm. Vốn liếng của một cộng đồng văn hoá cấp cho mỗi người khi vào đời khác với món gia tài của cha mẹ để lại. Khả năng hoàn toàn phá sản ở trường hợp thứ hai có thể xảy ra qua đêm, nhưng không dễ gì thành trắng tay ở trường hợp thứ nhất. Người ta tự nhiên có nó, ít nhất như mang mẩu ruột thừa sót lại từ thuở tổ tiên gặm cỏ. Lắm người phải cắt đi mới sống được, còn lại không mấy ai dành cho nó một nửa ý nghĩ. Như các vua Hùng trong mỗi ngày đi làm, đóng thuế, kẹt xe, nghe tin bạn bè trong nước vừa bị bắt và viết vô vọng vài trang vô tăm tích của một người Việt nơi đất khách. Tôi mang nó, biết rõ nó nằm ở chỗ nào, và hài lòng rằng nó chưa bao giờ viêm. Nhưng tôi không hình dung được con đường &#8220;tìm về&#8221; mẩu ruột thừa ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Lấy ví dụ một người sinh trưởng trong tiếng Việt. Là ngôn ngữ của một xứ phương Nam, nơi hoả vượng mà vạn vật khuếch trương hương vị như cách lý giải của người xưa, tiếng Việt giàu vốn từ chỉ tỉ mỉ từng sắc thái, cấp độ của muôn loại mùi chẳng hạn. Hẳn cũng vì hoả vượng, mà những mùi khó chịu cũng được cơ hội bành trướng. Mùi phân mèo thì chua, phân gà hôi, phân trâu hắc, phân lợn nồng, phân trẻ con thum thủm, phân người lớn thối, còn mồm ai đó thì thối hoắc. Mùi và tình trạng thực phẩm hỏng trong bếp Việt mới thực đa dạng. Cá thì tanh, thịt thì ôi, cơm thì khê, rau thì oi khói, dưa thì khú, mắm thì khắm, gạo thì hẩm, trứng thì ung, khoai thì ủng, cháo thì vữa, canh thì thiu, lạc thì mốc, mỡ thì khét lẹt&#8230; Sau này người ấy sống hẳn ở một xứ lạnh, hoả chẳng vượng, vạn vật không phát hết mùi, mũi xứ người chắc cũng nhạy không kém mũi xứ ta, nhưng tiếng nước người cho chân thối, cá thối, tiền thối, chính trị cũng thối cả loạt, muốn phân biệt phải dùng thêm từ mô tả, không có chữ nào, chỉ bằng chính nó, thoả mãn cái biết của khứu giác như trong <em>tiếng ta</em>. Một lúc nào đó, người ấy thậm chí có thể quên cái vỏ âm thanh của những từ Việt chỉ mùi, nhưng bản thân những mùi đã từng có một tên riêng ấy, từng là những thực thể đặc thù ấy, trong sâu thẳm không dễ gì hoà chung làm một với <em>thối</em> và chỉ <em>thối</em>. Giữ được mùi quê như thế, thụ động và ở tít một nơi ẩn khuất nào đó trong lòng, theo tôi đã là bảo quản gốc gác. Với người viết, ai biết giữa một mùi mong manh đã mất tên và một nền tảng nhận thức được mệnh danh chắc nịch, cái gì nhiều sức khuấy động hơn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Cộng đồng Việt nhỏ bé ở bên ngoài lại có một phẩm chất đặc biệt: nó bảo tồn rất nhiều khía cạnh văn hoá Việt mãnh liệt và cuồng nhiệt hơn ở chính quốc. Một lúc nào đó, tôi e rằng các học giả muốn truy tìm dấu tích lịch sử dân tộc Việt, thay vì đi Hà Nội có lẽ phải đến Quận Cam. Cội rễ có thể bị bật tung tại chính chỗ phát sinh, nhưng lại dai dẳng sống sót ở những vùng biên xa xôi nhất. Việt Nam hải ngoại là một vùng biên như thế. Xin lấy già nửa thế kỷ lưu lạc của văn chương tiền chiến làm ví dụ. Lấy lời than năm 1917 của Phạm Quỳnh, một trong những nhà khuyến Việt nhiệt thành mà bi đát nhất, làm mốc, rằng Quốc ngữ khi ấy còn sài đẹn ấu trĩ như tiếng bi be của đứa lên ba, khiến bậc cao sĩ &#8220;<em>ngồi hầu chuyện các văn-nhân thi-sĩ nước Tàu nước Tây vẫn còn sướng hơn</em>&#8220;, và &#8220;<em>trong khi họp-tập năm ba anh em ngồi với nhau, bàn những chuyện thiết-tha, nói những điều tâm-sự, mà đương câu chuyện phải pha một hồi tiếng Tây hay điểm mấy câu tiếng Tàu</em>&#8220;, thì tiếng Việt không đầy hai thập kỷ sau của văn chương tiền chiến là một thành quả vĩ đại. Hai thập niên sau nữa nó đã ngắc ngoải, và chậm nhất là sau Hiệp định Genève, miền Bắc đã kết thúc thời kỳ quá độ ngôn ngữ, để các thế hệ sau đó có thể yên tâm mà nói giọng hiện thực xã hội chủ nghĩa thuần khiết. Thế hệ tôi quả là miệng không uống giọt sữa nào, bút không chấm giọt mực nào của tiền chiến. Lại hai thập niên sau, nếu nước Việt không tái thống nhất, có lẽ tôi chẳng có dịp thử nếm mùi vị của một quá khứ không xa ấy. Cả một nền văn hoá tiền chiến theo chân người-Bắc-54 di cư mà cố thủ trong lòng hồi cổ, và sinh sôi trên mảnh đất Nam bộ vốn không quá khắt khe. Rồi lại hai thập niên sau nữa, Nam bộ ấy đã đổi khác, muốn gặp văn chương tiền chiến phải tiếp tục di tản, giạt mãi tới vùng chót, bám gót người Việt hải ngoại. Ở tít nơi hạ nguồn này, một thành quả từng là vĩ đại mãi mãi là vĩ đại. Một nửa thế kỷ chen vào giữa xua đuổi không có giá trị gì. Tôi từng ngẩn ngơ, khi đọc thơ của một tác giả hải ngoại cùng lứa, thấy <em>xuân mộng, hồn mơ, cõi tiên, quan san, tống biệt, hận thu, đêm liêu trai, trăng mất ngủ, gió về đâu, sầu mấy kiếp, lệ vơi, tình rơi, đời ơi, trời hời</em>…, như lạc vào bảo tàng văn học. Như vậy cũng có thể phỏng đoán, chẳng hạn tiếng Việt hiện thực xã hội chủ nghĩa nếu có mất mát tại chính quốc, chắc còn chỗ trú lâu dài nơi người Bắc tị nạn đời mới tại Đông Âu. Bảo hoàng hơn vua là tính cách muôn thuở của tỉnh lẻ. Càng xa nguồn càng bị trói không giãy nổi khỏi nguồn. Như thể văn chương Việt hải ngoại đau ruột thừa triền miên mà không dám cắt phăng cái mẩu nợ nần ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vào chính lúc này, khi xã hội Việt Nam ở bên trong đang lên cơn truyền thống dân tộc, như nó đã từng lên những cơn kích động kỳ lạ khác mà không sẵn <em>rơ-le</em> tự ngắt, liệu một nhà văn Việt ở bên ngoài có nên mạnh dạn vứt đi chiếc cân tiểu ly thường thủ sẵn trong tay áo, bên này là dân tộc, bên kia là thế giới, hay không. Cái dụng cụ tinh tế ấy chưa từng dùng được cho một tác phẩm nặng cân nào của văn học Việt đương đại. Vả lại, cái đầu của nhà văn Việt thì hoan nghênh một sự hài hoà kết hợp, mà lòng thì nghiêng về truyền thống hơn. Văn chương Việt ra ngoài nước ắt có sứ mệnh làm một <em>nền-văn-học-đau-lòng-con-cuốc-cuốc</em>, lại càng viết bằng bụng nhiều hơn bằng đầu, yêu cái đã có hơn đam mê cái chưa có, ngoái nhìn cội rễ xa ngái hơn khao khát những vùng đất lạ ở sát nách, chăm bẵm những lý tưởng nghệ thuật của cha ông mình để lại như con đẻ, còn lý tưởng của cha ông kẻ khác là con ghẻ, bằng mặt mà không bằng lòng. Tôi không dám cho thế là dở. Nếu cái đã có đủ đồ sộ thì ở tù trong đó chắc cũng được sung sướng. Có lẽ nhiều người mãn nguyện như thế hơn tôi tưởng. Khi đọc D. H. Lawrence chẳng hạn, tôi không bất giác coi ông là nhà văn Anh dù ông viết tiếng Anh về nước Anh, sau này vỡ lẽ rằng ông cả đời lưu lạc. Còn khi đọc một số đồng nghiệp Việt ở hải ngoại, tôi bất giác cho rằng họ chưa bao giờ rời nước Việt, mặc dù các nhân vật của họ đi gần khắp thế giới, chỉ trừ đi Phi đen. Văn học Việt hải ngoại không thiếu Việt Nam. Mà thiếu thế giới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngay cả sự thiếu thốn tiếng Việt ở bên ngoài, theo tôi cũng là một trở ngại cần thiết. Chúng ta đáng được cái <em>handicap</em> này thử thách hơn những chướng ngại khác từng biết. Mỗi người cầm bút đều hơn một lần than thầm, hoặc kêu ầm, về sự bất lực của ngôn ngữ, rằng cái gì mà ngôn bất tận ý với bất tòng tâm tòng tình. Như thể điều mình muốn diễn đạt vượt quá sức tải của ngôn ngữ. Tôi không công nhận cái bi kịch nghề nghiệp đó. Ngôn ngữ cũng như thời gian, là vô cùng và vô lường, nhưng ai cũng có một phông thời gian và một kho từ vựng ít nhất là vừa vặn cho chính mình. Vốn liếng ấy không thể bất cập nhu cầu của bản thân, mà chỉ bất cập nhu cầu của kẻ khác. Nếu chỉ thuần túy sống trong môi trường ngôn ngữ Việt, dù có là một thiên tài cũng chỉ đi đến hết cái giới hạn của tiếng Việt hiện có, hay nói cách khác, lên đến đỉnh cao của những nhu cầu diễn đạt hiện tại của dân tộc. Những nhu cầu ấy, có trời chứng giám, tự biết chừng mực của mình. Trong suốt lịch sử văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam, không một nhà lập ngôn quan trọng nào của chúng ta không cùng một lúc đứng vững cả hai chân, một trong tiếng Việt, và một trong ít nhất một ngôn ngữ khác. Chính sự bất lực tạm thời và tất yếu của tiếng Việt trước nội dung cần diễn đạt của một cộng đồng ngôn ngữ khác như chúng ta hằng chứng kiến trong cuộc sống lưu lạc, vâng, chính nó là cái may trong cái rủi của nhà văn Việt xa xứ. Ta hãy xem hắn có những cơ hội gì.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hắn có thể vừa bị cuốn theo ông chủ ngôn ngữ mới, vừa trung thành trong giới hạn cho phép với bà chủ cũ, là vốn liếng tiếng Việt mang theo. Trong trường hợp này, sớm muộn hắn cũng rời bỏ văn chương tiếng Việt. Mỗi năm viết dăm bảy trang là cố gắng cuối cùng của hắn, để chăm sóc một kỷ niệm về tiếng Việt hơn thực sự dùng tiếng Việt. Rồi hắn sẽ thử viết bằng ngôn ngữ mới. Bằng một ngoại ngữ. Và có cảm tưởng mình cũng không tồi. Dường như sự tầm thường của hắn trong tiếng Việt có thể biến mất trong ngoại ngữ, chí ít hắn trở nên khúc chiết và ít bay bướm hơn. Tuy mỗi khi trở về với tiếng Việt hắn lại xoàng như cũ, nhưng điều đó không quan trọng, vì chẳng cộng đồng văn chương nào thiếu bóng những thành viên như thế. Quan trọng là, hắn không còn đặt kỳ vọng ở tiếng Việt, và đấy là sự giải phóng: giải phóng hắn, để hắn tự do đi tìm một ngôn ngữ khác. Và giải phóng tiếng Việt. Khỏi một mối tình hờ. Công cuộc giải phóng này không thể xảy ra ở Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hoặc hắn quyết liệt tẩy chay cái ngôn ngữ lạ mặt kia ngay từ đầu, và trong thế phòng thủ đơn độc cũng có thể kiêu hãnh mà đi hết giới hạn đã định của mình. Văn giới Việt Nam hải ngoại biết không ít những cuộc đi nhẵn nẻo đường cùng như vậy. Giãy chết cũng có thể hùng tráng, và tang lễ hoàn toàn có thể đẹp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Hoặc hắn phải nhảy vọt. Vượt khỏi một lãnh thổ ngôn ngữ, một giai đoạn ngôn ngữ, một số phận ngôn ngữ cho trước. Tôi tin rằng, sinh lực của Việt ngữ phụ thuộc vào những thành tựu vượt rào như vậy, chứ không nhất thiết còn hay mất ở việc vốn từ bên ngoài có bị tiêu lẹm, có kém cập nhật chút ít so với ở Việt Nam.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tiếng Việt trong nước hiển nhiên có những cách nảy nở ngoạn mục của nó, và công trình ngôn ngữ của một tập thể cả trăm triệu người nhất định là trên tầm cỡ của một cố gắng cá nhân. Ngôn ngữ chính thống không mấy tiến bộ, vẫn <em>nhiệt liệt quán triệt đẩy mạnh phát huy</em> như đã biết đến hết tập cuối, song phần còn lại rực rỡ hơn bao giờ. Tôi có cảm giác, người Việt chưa từng ăn nói lắm kiểu sinh động, hấp dẫn, khôi hài, giàu liên tưởng và mắc những lỗi ngôn ngữ tuyệt vời như trong vòng vài thập niên vừa rồi. Nôm hiện đại đang ở đỉnh cao, tuy vẫn không phải là ngôn ngữ lý tưởng để suy tư trừu tượng hay thúc đẩy luận lý, nhưng dồi dào để diễn đạt những tâm tình và kinh nghiệm trực quan của con người và thời đại. Nếu muốn thì gần như bất kỳ nhà văn Việt hải ngoại nào cũng có thể mỗi năm về nước để vỗ béo tiếng Việt đã gầy guộc chút ít của mình. Song nhu cầu Việt ngữ của văn giới hải ngoại xem ra không cấp thiết đến mức như vậy. Tiếng Việt của miền Nam trước bảy lăm mang theo đến giờ còn dùng đủ và thậm chí là chốn cố thủ cuối cùng cho một ý thức phản kháng nào đó. Nếu ngày mai, lý do lưu vong của chúng ta không còn nữa, liệu có bao nhiêu nhà văn Việt đang sống ở hải ngoại, chỉ vì cái nghiệp của tiếng Việt, chỉ vì e &#8220;mất nguồn sáng tạo&#8221;, e &#8220;mất gốc&#8221; mà quyết định trở về?</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phần mình, tôi ra khỏi Việt Nam vài năm trước, công việc cho phép gặp vô số nhà văn sống lưu lạc, đến mức tôi có cảm tưởng rằng du mục là một trong những điều kiện nghề nghiệp của một nhóm văn sĩ càng ngày càng đông đúc. Quê hương họ là những cuộc hành trình. Phản bội quê hương là dừng lại quá lâu một chỗ. </p>



<p class="wp-block-paragraph">(Đăng lần đầu trong tạp chí <em>Việt</em> do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn chủ biên, số 2/1998, phát hành tại Úc. Hiệu đính tháng 2/2022.)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Các vua Hùng đã có công</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6439</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 03 Feb 2022 18:38:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa-Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Bách chưng]]></category>
		<category><![CDATA[bánh giầy]]></category>
		<category><![CDATA[các vua Hùng]]></category>
		<category><![CDATA[cháo lòng]]></category>
		<category><![CDATA[Lang Lèo]]></category>
		<category><![CDATA[phở]]></category>
		<category><![CDATA[Tết]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6439</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Trong các món Tết, tôi ngại nhất bánh chưng. Ẩm thực và văn chương có nhiều tương đồng, bánh chưng là một thứ văn xuôi thô, nặng, dềnh dàng, xơi một góc đã nghẹn và hứa hẹn từ phần còn lại là bội thực. Lá gói lạt buộc hì hục, nấu như [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong các món Tết, tôi ngại nhất bánh chưng. Ẩm thực và văn chương có nhiều tương đồng, bánh chưng là một thứ văn xuôi thô, nặng, dềnh dàng, xơi một góc đã nghẹn và hứa hẹn từ phần còn lại là bội thực. Lá gói lạt buộc hì hục, nấu như kháng chiến trường kỳ, song công phu vất vả thế vẫn chưa hết. Cái kiệt tác của ẩm thực dân tộc ấy đầy nguy cơ nhão nhoét, thiu, mốc, sống, sượng, chưa kể động thái <em>lại gạo</em> khét tiếng, cộng thêm bước bóc bánh nên gọi chân thành là tra tấn và thực tế chắc chắn là chỉ sau một đũa xắn nó sẽ mất trắng tổng thể nghệ thuật và mỗi phút một hết cả xanh lẫn rền để cuối bữa chỉ còn là một di tích lạnh lẽo, xám xịt, tả tơi trên mâm cỗ. Văn bánh chưng là văn to nhưng không lớn, rắc rối nhưng không phức tạp, lớp trong lớp ngoài nhưng không đa tầng, nghiêm nhưng không cẩn. Đã thế lại là văn cúng cụ, nhất định phải đặt lên bàn thờ. Bao nhiêu nhân chi sơ tính bản hiếu, thiên văn, địa lý, hiền triết và biện chứng phương Đông, âm dương, ngũ hành, tâm linh, nhân sinh, văn minh lúa nước…, nhồi cả vào một món bánh, biểu tượng ẩm thực cổ truyền của người Việt.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi vừa ghét biểu tượng vừa lãnh đạm với truyền thống, nhất là mấy thứ đã trở thành chứng chỉ bắt buộc để tốt nghiệp những chương trình ôn cố tri tân, xướng danh dân tộc. Dân tộc nào? Lang Lèo &#8211; sau này là Hùng Chiêu vương, ở ngôi 200 năm, như để nêu bật hàm lượng sự thật trong huyền sử &#8211; tức vua Hùng thứ bảy của chúng ta có một sở trường: nghe thần nhân mách bảo. Thần linh ban thơ dẫn lối, chính xác hơn hoa tiêu Google thời mới, cho ông đi Tam Đảo tìm tiên nữ về làm vợ. Trước đó ông đã thành công rực rỡ với một sự giúp đỡ siêu nhiên khác: Thần cũng báo mộng, bảo làm một cái bánh hình vuông tượng trưng cho đất, một cái bánh hình tròn tượng trưng cho trời. Thì ông làm. Cứ thế mà theo và thắng lớn. Khỏi cần phân tích, cân nhắc, phản biện. Không hỏi lại, dù chỉ một câu đơn giản: <em>Trời tròn</em> thì còn dễ hiểu, nhưng xin lỗi, <em>đất vuông</em> là thế nào? Đời sau cũng cứ thế mà ăn theo ào ào, <em>trời tròn đất vuông</em>. Các vua Hùng đã có công nói thế. Thời miệt mài theo đòi <em>Thi vân Tử viết</em> rồi dĩ nhiên lút cổ trong <em>Dịch</em>, một lúc nào đó tôi cũng gặp những dòng như &#8220;<em>Tròn mà ở ngoài là Dương, vuông mà ở trong là Âm, tròn thì động mà là trời, vuông thì tĩnh mà là đất</em>&#8220;, &#8220;<em>Trời tròn mà xoay, bao bọc ngoài đất, đất vuông mà đứng im, bị nhốt trong trời</em>&#8221; trong bản dịch của Ngô Tất Tố và được ông lưu ý rằng vuông tròn ở đây không phải cái hình kỷ hà, mà là cái tinh thần, cái đức tròn của Càn, cái đức vuông của Khôn. Hay cái đạo của đất trời, như lời Tăng Tử: &#8220;<em>Thiên đạo viết viên, địa đạo viết phương, phương viết u nhi viên viết minh</em>&#8221; (<a href="https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%A4%A7%E6%88%B4%E7%A6%AE%E8%A8%98/%E6%9B%BE%E5%AD%90%E5%A4%A9%E5%9C%93"><em>Đại đái lễ ký</em>, <em>Tăng Tử thiên viên</em></a>). <em>Thiên viên địa phương</em>, trời tròn đất vuông, rõ ràng có một xuất xứ sâu, xa và trừu tượng hơn những hình hài cụ thể trong quan niệm dân gian Việt Nam. Song tranh đua xuất xứ là môn thể thao rất được người Việt ưa chuộng. Những vận động viên cừ khôi nhất của chúng ta không ngừng nâng cao thành tích bảo hộ chỉ dẫn địa lý Lạc Việt cho các sản phẩm bị phương Bắc chiếm đoạt, san định rồi công cụ hóa, từ Nghiêu Thuấn, Thương Chu đến Dịch lý, Tam tài, Âm dương, Nho giáo… Không nghi ngờ gì nữa, người Việt đã phát minh ra phương Đông.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song vuông tròn thế nào thì chiếc bánh tét hình ống dài cũng không kém bản sắc dân tộc và rốt cuộc chẳng ai khen một miếng bánh ngon vì đậm đà hồn nước. Tôi không hề biết có thứ gia vị tên gọi như vậy trong nồi bánh chưng thuở nhỏ, nhưng đã bồn chồn khổ sở, quyết không đi ngủ vì lo nếp, đậu, thịt đang sôi lụp bụp kia chỉ là một giấc mơ, chúng là những cao lương mỹ vị quá phi thường để có thể cứ thế mà thành hiện thực. Vài chục năm sau, chúng là những bom tấn <em>cholesterol</em> mà tôi ngần ngại hơn thương nhớ. Tôi chỉ dành hoài niệm cho một bát phở chó. Ở một quán lá, ven thị xã Hải Dương đầu thập niên bảy mươi. Trong ba lần tôi gãy tay &#8211; vì nhảy dây, trèo cây và tập đi xe đạp của người lớn &#8211; trạm xá huyện đầu hàng lần cuối. Cha tôi nẹp cẳng tay hình chữ U của con gái bằng lá chuối và hai chiếc đũa cả, lót ba-ga xe đạp bằng khăn mặt và mo nang, đèo tôi lên bệnh viện tỉnh. Ba tiếng đồng hồ trên con đường lở loét gập ghềnh, mưa thì trơn, nắng thì bụi. Rồi ông dừng lại, đưa tôi vào một quán lá ven đường. Ông ngồi nuốt nước bọt, hút thuốc vấn, nhìn con ăn. Sự kỳ diệu của bát phở đầu tiên trong đời khiến tôi ước ao lại gãy tay vượt tuyến thêm lần nữa, lại ba tiếng đồng hồ ngồi sau lưng bố đến thiên đường. Những nhà hàng Michelin tôi đã đặt chân có thể để lại vài gợi ý, nhất là về các món khai vị, và cảm giác chủ đạo là vừa cắt phăng một góc thẻ nhà băng, nhưng thiên đường ẩm thực gồm toàn mì chính yểm trợ cho một nồi xương chó đã phôi pha đến phân tử <em>protein</em> cuối cùng trong cái quán ăn lùng bùng lốp xe thải trên mái đã vĩnh viễn neo vào ký ức, dù tôi thường tránh những bến cảng quá an toàn của kỷ niệm, vì những lần làm đau người khác lẽ ra ta nên đóng khung treo vào hồi ức, song phần mềm bộ nhớ của trí óc thường xóa hết, chỉ giữ chặt những lần người khác làm ta đau.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ lúc phở có chút danh ở năm châu, mỗi người Việt lập tức thành một vệ binh phở trong cuộc thánh chiến phở, rủa xả chỉ trích không thương tiếc những kẻ dám xúc phạm phở, xúc phạm văn hóa ẩm thực truyền thống, xúc phạm dân tộc, xúc phạm con người và đất nước Việt Nam, như thể các vua Hùng đã có công nấu phở. Người ta hay đi tìm tiêu chí phân biệt các dân tộc. Phương Bắc duy lý, phương Nam duy tình. Phương Tây cá nhân, phương Đông tập thể. Dân tộc thâm thúy và dân tộc hời hợt. Dân tộc èo ợt và dân tộc cương cường. Dân tộc thấp hèn và dân tộc thượng đẳng. Tôi chỉ nhìn ra tiêu chí quan trọng nhất: những dân tộc thường xuyên thấy mình bị xúc phạm và những dân tộc biết lúc nào đáng bị tổn thương. Bát phở <em>cháo lòng</em> ở Palawan với tôi không hề là một sỉ nhục. Trái lại, là một sự mở lòng tuyệt đẹp của người dân hòn đảo hồn hậu ấy trước thảm cảnh của thuyền nhân Việt Nam. Phở, hủ tiếu, mỳ, hay bất kỳ món gì mang tên <em>cháo lòng</em> sẽ gia nhập văn hóa ẩm thực Philippines và là niềm tự hào ở đó, như bản thân phở đã từng là Tàu, là Pháp, hay là cả hai trước khi là niềm tự hào của người Việt. Như cà phê sữa, bánh mỳ và tà áo dài, những gì nổi tiếng nhất gắn với <em>lifestyle</em> Việt ngày nay đều thành công khi kính nhi viễn chi các vua Hùng. Truyền thống giàu sức sống nhất của người Việt là hỗn dung, sáng tạo và hư cấu truyền thống.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khác với phở, bánh chưng chưa bao giờ cần bảo hộ. Các dân tộc Đông Nam Á đều dùng lá để gói nếp, đậu, thịt và nhiều thứ khác rồi cũng chưng cũng luộc, không có nhu cầu xâm phạm và xúc phạm chiếc bánh Lang Lèo. Ở tiệm ăn Việt khắp năm châu nó không xuất hiện, như mặc định rằng mình khó chinh phục người ngoài. Bánh chưng là kỳ vọng của thời lo thiếu ăn đang nhường chỗ cho thời sợ thừa cân. Là hiện thân của một nền ẩm thực với kỹ thuật nấu nướng đơn giản, quy trình chế biến thuần tuyến tính, nguyên vật liệu thông dụng, khẩu vị bỗ bã đại trà và tập quán sinh hoạt đơn sơ, chưa bao giờ phát triển đến đỉnh cao để có thể <em>decadent</em>, sành điệu và đồi trụy, như nghệ thuật nấu ăn của Pháp và Trung Hoa, hai cường quốc ẩm thực đã đô hộ bếp Việt để cho nó những tiềm năng lý tưởng nếu nó biết tự giải phóng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong các món Tết, bánh chưng ít cơ hội tự giải phóng nhất. Người anh em song sinh của nó, bánh giầy, đã từ lâu được giải linh, bỏ gánh nặng biểu tượng trời tròn sau lưng mà vui sống kiếp nhẹ tênh món ăn vặt hàng ngày đầu ngõ. Tôi đã thử giải phóng bánh chưng bằng cách giải cấu trúc, giải huyền thoại, xếp đặt lại, gửi một lời ngưỡng mộ đến tâm hồn ẩm thực Ý-Nhật và cảm ơn công nghệ nấu <em>sous vide</em>. Không có gì kỳ bí. Văn chương và ẩm thực đều chỉ là thấu hiểu bản chất từng vật liệu và sử dụng chính xác. Tôi không cần một lần nữa phát minh ra phương Đông và không cần thỉnh ý các vua Hùng.</p>



<figure class="wp-block-image size-large is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-12-01-17.31.39-1024x768.jpg" alt="" class="wp-image-6442" width="764" height="573" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-12-01-17.31.39-1024x768.jpg 1024w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-12-01-17.31.39-300x225.jpg 300w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-12-01-17.31.39-768x576.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-12-01-17.31.39-1536x1152.jpg 1536w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-12-01-17.31.39-2048x1536.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 764px) 100vw, 764px" /></figure>



<figure class="wp-block-image size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="768" height="1024" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-11-18-10.48.54-768x1024.jpg" alt="" class="wp-image-6441" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-11-18-10.48.54-768x1024.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-11-18-10.48.54-225x300.jpg 225w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-11-18-10.48.54-1152x1536.jpg 1152w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-11-18-10.48.54-1536x2048.jpg 1536w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/02/2021-11-18-10.48.54-scaled.jpg 1920w" sizes="auto, (max-width: 768px) 100vw, 768px" /><figcaption>(<em>Ảnh: Bánh chưng của tác giả</em>)</figcaption></figure>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>, 3/2/2022</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Dần &#8211; Ghi 1954-1960</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6428</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 17 Jan 2022 17:11:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tư liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Cải cách Ruộng đất]]></category>
		<category><![CDATA[Ghi 1954-1960]]></category>
		<category><![CDATA[Nhân văn-Giai phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Dần]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6428</guid>

					<description><![CDATA[Ghi chú cho lần tái bản năm 2022 Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Ghi chú cho lần tái bản năm 2022</strong></p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img loading="lazy" decoding="async" width="668" height="1024" src="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-668x1024.jpg" alt="" class="wp-image-6430" srcset="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-668x1024.jpg 668w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-196x300.jpg 196w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-768x1178.jpg 768w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-1001x1536.jpg 1001w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-1335x2048.jpg 1335w, https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Bia-Tran-Dan-Ghi-1954-1960-scaled.jpg 1669w" sizes="auto, (max-width: 668px) 100vw, 668px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Ghi 1954-1960</em> của Trần Dần được tái bản đúng dịp tưởng niệm 25 năm ngày ông qua đời. Tôi đã biên tập và hiệu đính bản in năm 2001, bổ sung một số chú thích và chỉnh sửa một số chi tiết căn cứ trên những hiểu biết ngày càng được mở rộng trong thời gian qua, hi vọng có thể chính thức thay thế những phiên bản trôi nổi không rõ nguồn gốc trên mạng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi tin rằng Trần Dần rất vui lòng thấy cuốn sách này trở thành sở hữu chung của cộng đồng độc giả tiếng Việt mà ông đã góp phần gây dựng bằng tài năng và số phận khác thường của mình.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Trần Dần- Ghi 1954-1960</em>, bản PDF (517 trang, 3,75 MB) có thể tải miễn phí tại đây:</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Tran-Dan_Ghi-1954-1960_Ban-2022.pdf">https://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2022/01/Tran-Dan_Ghi-1954-1960_Ban-2022.pdf</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">hoặc trên Tủ sách Trẻ: <a href="https://tusachtre.com/product/ghi-1954-1960/">https://tusachtre.com/product/ghi-1954-1960/</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph">Berlin, 17/1/2022</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài&nbsp; &nbsp;&nbsp;</strong><strong></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Còn lại cuối ngày</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6421</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Dec 2021 18:24:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Báo chí và truyền thông]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa-Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Facebook]]></category>
		<category><![CDATA[Goncourt]]></category>
		<category><![CDATA[J. Brodsky]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6421</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Bạn bè và trang phục hóa ra không khác xa. Chúng ta thường đứng trước những tủ kệ xếp chật tình bạn để cuối cùng thấy mình không có gì để mặc. Để lao vào sắm tiếp giày dép, quần áo, khăn, túi, mũ, vớ và những phụ kiện linh tinh khác. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Bạn bè và trang phục hóa ra không khác xa. Chúng ta thường đứng trước những tủ kệ xếp chật tình bạn để cuối cùng thấy mình không có gì để mặc. Để lao vào sắm tiếp giày dép, quần áo, khăn, túi, mũ, vớ và những phụ kiện linh tinh khác. Thứ nào cũng thiết yếu, trong cả những ngày bó gối ngồi nhà vì dịch bệnh, đi đổ rác là một sự kiện xứng đáng tô son mặc đầm. Thứ nào cũng kiến tạo diện mạo, bồi bổ dung nhan, dẫn lối trong một thế gian lầm lạc. Nếu cần một chỗ dựa, vịn khăn lụa mà đứng dậy những phút ngã lòng cũng không phù phiếm hơn nương vào một tình bạn ảo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bạn trên phây. Thời thơ ngây, tôi kết bạn trong một tích tắc. Tậu trang phục cũng trong một nút bấm để sờ đến chúng cùng lắm một lần trong đời. Rõ ràng tôi không cần 5000 chiếc váy để hạnh phúc. 500 cũng quá sức chịu đựng, có thể gây rối loạn nhân cách, dạng ái kỷ, dạng ám ảnh cưỡng chế, thậm chí dạng BPD. Có ngày tôi thử vài ba kiểu khổ sở rồi lại cởi bỏ để chọn đúng một trong vài thứ đã mặc đi mặc lại vừa ý. Có hôm tôi phát hiện mấy bộ cất kĩ cho những dịp đặc biệt chẳng bao giờ xảy ra, như những tình bạn phòng xa, dự trữ cho tình huống nào đó. Những tình bạn xếp xó. Những tình bạn người ta có, mình cũng phải có. Những tình bạn bỏ thì thương, nương thì tội. Những tình bạn khoác một lần là rách. Những tình bạn xỏ vào để thêm chút chiều cao dù chịu bao đau đớn. Những tình bạn choáng lộn ở kẻ khác, ta ướm vào trông như hề. Những tình bạn may đo, rất vừa một lúc để lúc sau đã xộc xệch. Những tình bạn như một bộ đồng phục, một điều ước trung lập an toàn. Những tình bạn khan hiếm và những tình bạn ế. Những tình bạn dè sẻn và những tình bạn hoang phí. Những tình bạn bị thanh lí ồ ạt như núi hàng thời trang đem đốt, nhà sản xuất phải giữ giá. Thị trường tình bạn cũng điên rồ và khắc nghiệt như thị trường thời trang.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi luôn xót tình bạn hơn tình yêu. Tình yêu đã hiếm, tình bạn còn hiếm hơn. Tình yêu phi vụ lợi chỉ có trong tiểu thuyết, tình bạn phi vụ lợi ít ra cũng tồn tại trong nhóm có thu nhập tương đương. Tình bạn có thể lau những giọt nước mắt của ái tình và thậm chí thành ái tình, nhưng chiều ngược lại không bao giờ thành và những cuộc hôn nhân tan tành thường vì thiếu tình bạn chứ không phải vì không đủ tình ái. Tình bạn là một tình yêu trừ bớt đòi hỏi và cộng thêm lí trí. Tình yêu mua bằng tiền vẫn có chút giá trị, ít nhất cho một phía, tình bạn thì không. Tình yêu có thể đâm sau lưng nhưng tình bạn nếu đâm thì đâm thẳng từ trước mặt. Tình yêu có thể cần những chất bón khủng khiếp như ghen tuông, hạ nhục, khinh bỉ mà chỉ một giọt nhỏ là đủ làm tình bạn tiêu tan. Khoảng cách giữa bạn tình thường quá hẹp để đủ chỗ cho tình cảm len chân, giữa bằng hữu thì một đại dương không phải là quá lớn. Tình bạn rộng lượng, tình yêu chỉ tha thứ. Tình bạn cũng ghi sổ nhưng tình yêu thì tính nợ. Hai kẻ thù cùng săn một con mồi rất có thể làm bạn, hai tình nhân rất có thể thành những con mồi rồi thành kẻ thù.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Kết bạn với một người viết là chịu rủi ro lớn. Di sản của hai anh em nhà Goncourt, ngoài giải văn học lâu đời và danh giá nhất của Pháp do viện hàn lâm cùng tên trao tặng, là 7.000 trang nhật ký với trên dưới 5.000 nhân vật cùng thời, trong đó không ít là những bạn bè văn nghệ sĩ nổi tiếng: Từ người bạn thân nhất, Alphonse Daudet, với thói trụy lạc (&#8220;sống để dâm dật&#8221;) đến người bạn khá thân, Gustave Flaubert (&#8220;Thực ra cậu ta có chút gì đó tỉnh lẻ và khoe mẽ. Trí tuệ cũng thô và nhờn như cơ thể. Vô cảm trước những thứ tinh tế. Chỉ nhạy cảm với những trò làm màu. Nói chuyện chẳng có ý tưởng gì hay ho, nghĩ ra điều gì thì trình bày ầm ĩ trịnh trọng. Vụng về khủng khiếp, ì ạch trong mọi chuyện, lúc đùa cũng thế, lúc cường điệu cũng thế, lúc nhại ai cũng thế. Tính cách vui vẻ kiểu trâu bò hoàn toàn vô duyên.&#8221;), qua những nhà thơ quen sơ (&#8220;Thần tượng của giới trẻ bây giờ là ai? Baudelaire, Villiers de l&#8217;Isle-Adam, Verlaine – cả ba rõ ràng là có tài: một tay phóng túng bạo dâm, một gã nghiện rượu, một kẻ sát nhân đồng tính.&#8221;) hay một nữ sĩ lớp trước danh tiếng (&#8220;Cái sự mồm mép rỗng tuếch tên gọi George Sand này, vớ vẩn, thuần túy không là gì cả, duyên chẳng có trí tuệ cũng không.&#8221;). Trong vai những <em>whistleblower</em> của thế kỷ 19, họ ghi chép như bị quỷ ám, lưu giữ không kiêng nể, bật mí không chùn tay để cuối ngày còn lại chẳng ai dám hay muốn ngồi chung bàn họ nữa. Văn nghệ là bạn bè hội hè và văn nghệ là cô đơn. Không có gì bầy đàn mà đứng một mình và đứng bên lề xã hội hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi cũng từng hội hè. Cũng từng đề huề anh em văn nghệ một nhà, vặn hai chữ &#8220;mua vui&#8221; của cụ Nguyễn cho vừa những nhu cầu của tình huống. Cho đến lúc có phây-búc. Phây thị phi và gió tanh mưa máu. Phây xây bong bóng và mở cống xả. Phây sến sẩm, sặc sụa và sục sôi. Phây câu <em>view</em> và cầu <em>like</em>. Phây kết nối để chia rẽ và càng chia rẽ càng kiếm lời. Phây giải phóng để chiếm đóng thị trường ngôn luận. Phây mỗi ngày sống một cuộc xuống đường để phây hữu mỗi ngày một chết chìm trong đời ảo. Phây hút cạn và khạc nhổ giọt chất xám cần thiết cuối cùng để người ta đọc và hiểu nhiều hơn 1000 ký tự. Phây cho tất cả một cơ hội tham dự để phân rã xã hội thành từng búi lẻ loi bối rối. Phây xóa bỏ mọi biên giới để dựng những pháo đài cách âm. Phây mở đường cho đại đồng để nhân loại thả nổi những bản năng ghê răng nhất. Phây bênh vực sự thật để lan tỏa <em>fake news</em>. Phây minh bạch để đi đêm với những quyền lực hắc ám. Phây khai sáng để thao túng dư luận. Phây chặn những vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng để cộng đồng ngày càng tu luyện kỹ năng chỉ điểm. Phây chống gian lận để chúng ta ngang nhiên bán chác quảng cáo lừa đảo. Phây bảo mật cá nhân để chúng ta tự nguyện phơi bày mọi xó xỉnh riêng tư và đánh mất ý thức cuối cùng về ứng xử nơi công cộng. Phây mở rộng tầm với để thu hẹp tầm nhìn. Phây tương tác để khai thác nguồn tài nguyên khổng lồ là sự điên rồ của lòng ham hố và hỉ nộ sân si ái ố. Phây quảng bá tình yêu để thù hận nở rộ. Và thuật số của phây về tình bạn khiến tình bạn chỉ còn là một nút bấm, nhẹ khôn kham, dễ khôn cùng, vô nghĩa khôn kể.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bi kịch của trên một trăm triệu người sử dụng tiếng Việt là không có nền tảng nào khả dĩ thay thế. Những người từng bị phây rút phép thông công chẳng những không bất bình ly khai mà chỉ mong ngày được &#8220;soi xét&#8221;, được &#8220;khôi phục&#8221;, được &#8220;cởi trói&#8221;, và trong khi nín nhịn chờ đợi thì lập thêm vài tài khoản mới để không phút nào phải xa phây. Ừ thì nó bê bối, nó độc hại, nó lợi nhuận bỉ ổi, nó kiểm duyệt, nhưng chiếc mề-đay nào chẳng có hai mặt và muốn thế nào nó cũng cung cấp một không gian độc lập tương đối và phương tiện kết nối trong một môi trường toàn trị. Muốn thế nào nó cũng hơn truyền thông quốc doanh. Điều này ứng với một hiện tượng văn chương: Joseph Brodsky không thực sự là nhà thơ của đám đông, nhưng một ẩn dụ rút từ bài &#8220;<a href="https://brodskiy.su/pismo-rimskomu-drugu-iz-martsiala/?lang=ru">Gửi một người bạn ở Roma</a>&#8221; của ông lại được truyền tụng rộng rãi ở nước Nga hậu cộng sản: với ông thì đứa ăn cắp vẫn dễ chịu hơn thằng hút máu. Người ta cũng bực bội khổ sở trước những ngón móc túi kiểu tư bản ở đó, một chủ nghĩa tư bản đến muộn nên vội vàng như chẳng kịp và bất chấp mọi giá trị; song thà như vậy còn hơn bị hút sạch xương tủy kiểu cộng sản như đã biết. Vậy thì để đồng tiền đè bẹp còn hơn bị kìm kẹp bởi hệ tư tưởng. Phây cũng bịt mồm nhưng không chặn ngõ nhà bạn. Phây treo tài khoản nhưng không tống bạn vào tù. Thà liếm gót đại tư bản Hoa Kỳ xịn còn hơn bó thân về với tiểu triều đình Đông Lào rởm. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song hai mặt của tấm mề-đay phây ngày càng hòa làm một, quyền lực của siêu cường quốc tế với hai tỉ rưỡi thần dân này ngày càng vượt mọi tầm kiểm soát và xu hướng toàn trị của nó ngày càng rõ rệt. Đứa ăn cắp và thằng hút máu, độc tài thị trường và độc tài tư tưởng <a href="https://www.washingtonpost.com/technology/2021/10/25/mark-zuckerberg-facebook-whistleblower/">đang trở thành đồng minh</a>. Ngày chúng ta một cổ hai tròng đã gần lắm. Và tình bạn, bạn trên phây, ở một thời đại dần hết thơ ngây để bước nhanh vào vòng u ám cũng không có gì xán lạn. Hai năm vừa rồi tôi đã chia tay nhiều người bạn. Phần lớn lặng lẽ, không đau thương, các bên thậm chí chẳng nhận ra mất mát. Có lẽ tôi không cần xót tình bạn hơn tình yêu: Một tình bạn có thể kết thúc là một tình bạn chưa bao giờ bắt đầu, còn tình yêu nhiều khi bắt đầu để kết thúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy thì, xin tạm biệt</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bạn trên phây</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thời thơ ngây </p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuối ngày còn lại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Tuần báo <em>Trẻ</em>, 2/12/2021)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trang, Ken, Vị</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6415</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Nov 2021 11:07:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Chính trị Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Kiểm duyệt]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Ken Saro-Wiwa]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Đoan Trang]]></category>
		<category><![CDATA[phim Vị của Lê Bảo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6415</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Tôi chưa được xem phim Vị của Lê Bảo, nhưng biết nó kể về một người đàn ông Nigeria bỏ lại đứa con trai nhỏ ở quê hương đến Việt Nam mưu sinh. Sự nghiệp cầu thủ xuất khẩu đứt ngang; anh sống cùng bốn người phụ nữ Việt trung niên và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi chưa được xem phim <em>Vị</em> của Lê Bảo, nhưng biết nó kể về một người đàn ông Nigeria bỏ lại đứa con trai nhỏ ở quê hương đến Việt Nam mưu sinh. Sự nghiệp cầu thủ xuất khẩu đứt ngang; anh sống cùng bốn người phụ nữ Việt trung niên và một con heo trong xóm nghèo Sài Gòn; sáu động vật hoang sơ cộng sinh, chung chạ và xa lạ trong một địa đàng ổ chuột trần truồng và trần trụi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một câu chuyện như thế chưa từng được kể. Người nước ngoài ở Việt Nam được kể khi làm doanh nhân, làm chồng người mẫu và hoa hậu; xoàng hơn cũng phải biết hát nhạc Trịnh, viết những bài dí dỏm hay ấm áp tình người bằng tiếng Việt chuẩn không cần chỉnh trên báo quốc doanh; Tây mang trái tim ta, Tây làm gương đi nhặt rác, Tây săn áo dài, Tây phải lòng Hà Nội, Tây nghiện nước mắm, Tây mê hầu đồng, mê phố cổ, mê cả tranh cổ động<em> agitprop</em>, và tất nhiên Tây sám hối Mỹ Lai, Tây hàn gắn vết thương, Tây phản tỉnh. Toàn Tây da trắng. Tây cơ nhỡ đi bán chuối chiên hay cầm bảng xin tiền cũng da trắng: Cộng đồng không dậy sóng rủ lòng với da đen. Da đen, với người Việt là nhọ, hôi, lười, lừa và ma túy, cả cái của quý huyền thoại cũng chỉ dành cho các mẹ hết đát khát tình. Và da đen ở Việt Nam là Nigeria.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhà văn Nigeria tôi đọc trước hết không phải là Wole Soyinka, người Châu Phi đầu tiên nhận Giải Nobel Văn chương mà chúng ta năm nào cũng hỏi đúng một câu bao giờ mình đến lượt. Mà là Ken Saro-Wiwa, tác giả cuốn tiểu thuyết phản chiến phi thường <em>Sozaboy: A Novel in Rotten English</em>, cương quyết viết bằng thứ tiếng Anh rởm, lởm khởm, tiếng Anh rác, một pha trộn giữa tiếng Anh <em>pidgin</em> thô sơ và tiếng Anh bồi gập ghềnh của dân bản xứ ít học hành, để thỉnh thoảng xen vào chút tiếng Anh chuẩn mực như một đối chiếu kín đáo<a href="#_ftn1">[1]</a>. Lựa chọn táo bạo đó mê hoặc tôi từ dòng đầu tiên. Với vốn liếng tiếng Anh cũng <em>rotten</em> của mình, tôi ròng rã đánh vật với bản gốc và bản dịch tiếng Đức để kinh ngạc về chưa đầy hai trăm trang, hạnh phúc vì tài năng, can đảm và sự nhất quán trọn vẹn của một đồng nghiệp. Một cuốn sách khó nuốt, sinh ra để trượt mọi giải thưởng và để là một kiệt tác. Một cách kể không thể chân xác hơn về một hiện thực lụn bại, đổ gãy, bạo liệt, nát bét, tha hóa, mông muội và khắc khoải hy vọng, là Nigeria những năm 80 và cả hiện nay. Hay Việt Nam. Hay cả Việt Nam và Nigeria cộng hưởng, như ở <em>Vị</em>. Ngôn ngữ không phải là công cụ tiếp cận, ngôn ngữ là bản thân hiện thực. Ngôn ngữ không phải là hình thức, ngôn ngữ chính là và thuần túy là nội dung.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngoài dầu mỏ và cầu thủ bóng đá, tài nguyên đáng kể nhất của Nigeria là các nhà văn. Ken Saro-Wiwa dễ dàng giành một chỗ đứng ở đẳng cấp quốc tế cùng những cây viết danh tiếng của đất nước ông: Chinua Achebe, Ben Okri, Chimamanda Ngozi Adichie, Teju Cole… Song hai mươi năm viết văn, làm báo, làm phim và xuất bản với ông chỉ là một chặng đường cần thiết trong một hành trình lớn: cuộc đấu tranh cho quyền sống của bộ tộc ông, cộng đồng Ogoni, trước một trong những thảm họa hủy diệt môi trường khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại. Trong vòng bốn thập niên, vùng đất màu mỡ của người Ogoni ở châu thổ sông Niger, diện tích trên dưới 1.000 km2, tức không bằng một phần ba thành phố Hà Nội ngày nay, bị khoan nát để cung cấp cho tập đoàn dầu khí đa quốc gia Shell 80% sản lượng dầu mỏ của cả lãnh thổ Nigeria và nhận về một môi trường ô nhiễm gấp ba lần ở Vịnh Mexico năm 2010 sau sự cố tràn dầu thế kỷ. Ngoài những giếng dầu, toàn bộ không gian sinh tồn còn lại bị phá hủy. Tham nhũng và bạo lực hoành hành. Nội chiến triền miên. Người Ogoni chỉ còn là những tồn tại mong manh, làm phiền cho lợi nhuận khổng lồ của liên minh giữa tài phiệt ngoại quốc và quân phiệt trong nước. Nhà văn Ken Saro-Wiwa trở thành nhà hoạt động, <a href="http://www.mosop.org/">người sáng lập và lãnh đạo phong trào</a> bảo vệ môi trường <a href="http://www.waado.org/nigerdelta/RightsDeclaration/Ogoni.html">vì quyền sống của đồng bào</a> ông. Lần cuối ông bị bắt là tháng Năm 1994 và hơn một năm sau bị khép án tử.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước đây tôi thường lấy câu mở đầu bất hủ của <em>Anna Karenina</em> vận vào các quốc gia: Hạnh phúc thì mọi đất nước đều giống nhau, bất hạnh thì mỗi nơi một kiểu. Song thực ra nhiều quốc gia hội đủ những yếu tố để rập cùng một khuôn bất hạnh. Màu da là thứ duy nhất phân biệt sự bất hạnh Việt với sự bất hạnh Nigeria. Trong hàng trăm nhà hoạt động bị bắt và kết án tù nhiều năm qua ở Việt Nam, những người từng tham gia hoạt động bảo vệ môi trường chiếm tỉ lệ lớn. Trong những hành vi cấu thành tội danh &#8220;tuyên truyền chống nhà nước&#8221; mà Phạm Đoan Trang bị quy kết <a href="https://drive.google.com/file/d/1hxR0ujo9SE5inz_M9fR5SNlZSLsCnfkp/view">theo cáo trạng</a> ngày 30/8/2021 có việc &#8220;làm ra, tàng trữ, lưu hành &#8220;một tài liệu bằng tiếng Anh, &#8220;<a href="https://the88project.org/wp-content/uploads/2019/08/AnOverviewOfTheMarineLifeDisasterInVietnam-Final.pdf">Báo cáo về thảm họa môi trường biển ở Việt Nam năm 2016</a>&#8220;, thảm họa Formosa mà chúng ta đã dần quên, như đã quên Bauxite Tây Nguyên ồn ào một thuở. Trang cũng dễ dàng giành một chỗ đứng ở đẳng cấp cao nhất của các nhà báo ở Việt Nam. Song người phụ nữ tài năng ấy đã dành cây bút của mình cho một hành trình lớn hơn, như đồng nghiệp Ken Saro-Wiwa, cũng ở một quốc gia mà tài nguyên thiên nhiên là một lời nguyền thay vì là một ân huệ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nói lời sau cùng trước tòa, Ken Saro-Wiwa phát biểu:</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thưa quý tòa,</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tất cả chúng ta đều đứng trước lịch sử. Tôi là một con người của hòa bình và ý tưởng. Kinh hoàng trước sự đói nghèo nhục nhã của những người dân sống trên mảnh đất trù phú này, đau đớn vì họ bị chính trị gạt ra ngoài lề và bóp nghẹt về kinh tế, phẫn nộ vì đất đai của họ, tức di sản tối hậu của tổ tiên bị tàn phá, mong muốn bênh vực quyền sống và quyền được có cuộc sống tử tế của họ và quyết tâm mang lại cho toàn bộ đất nước này một hệ thống công bằng và dân chủ, bảo vệ mọi người dân và mọi nhóm sắc tộc, cho tất cả chúng ta cơ hội xứng đáng để đến với văn minh nhân loại, tôi đã cống hiến tài nguyên trí tuệ và vật chất, cống hiến chính cuộc đời mình cho một sự nghiệp mà tôi tuyệt đối tin tưởng và khiến tôi không chùn lòng trước mọi cưỡng bức và đe dọa. Tôi hoàn toàn không nghi ngờ thành quả cuối cùng của sự nghiệp ấy, bất kể những thử thách và gian nan mà tôi và những người cùng chí hướng có thể gặp phải trên hành trình của chúng tôi. Cả nhà tù lẫn cái chết đều không thể ngăn cản chiến thắng cuối cùng của chúng tôi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mười ngày sau, ông và tám nhà hoạt động cùng chí hướng bị treo cổ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phong trào do Ken Saro-Wiwa khởi xướng dẫu sao đã đánh động được công luận quốc tế. Sau ông, thêm một nhà hoạt động môi trường và nhân quyền Nigeria, cũng một nhà văn, ông Nnimmo Bassey, được trao Giải Right Livelihood<strong> </strong>(Giải Nobel Hòa bình Thay thế). Đầu năm nay, một tòa án Hà Lan buộc chi nhánh Nigeria của tập đoàn Shell phải trả 95 triệu Euro bồi thường cho nông dân vùng châu thổ sông Niger sau 13 năm khiếu kiện. Vài tuần sau, Tòa án Tối cao Vương quốc Anh ra một quyết định quan trọng khác: cho phép một tòa án tại London thụ lý đơn kiện Shell của 40.000 người Nigeria. Và quan trọng hơn cả: Nigeria đã chuyển sang thể chế dân chủ năm 1999. Tuy còn rất khiêm tốn nhưng về những phương diện căn bản như đa nguyên và tự do báo chí, đất nước của những người da đen nhọ, hôi, lười, lừa và ma túy như chúng ta quan niệm đã bỏ xa Việt Nam. Nếu ở Nigeria hiện nay, Trang chắc chắn không ngồi tù, <em>Vị</em> hiển nhiên không bị cấm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song chiến thắng cuối cùng còn xa lắm. Như người Việt, người Nigeria cũng chưa thôi vất vưởng lưu lạc, chết ngạt trong <em>container</em> đông lạnh nơi đất khách hay sống mòn trong một địa đàng ổ chuột trần truồng và trần trụi ở xứ người.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Tuần báo <em>Trẻ</em> ngày 11.11.2021)</p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1">[1]</a> Sau đây là một ví dụ, qua tường thuật của nhân vật kể chuyện, chàng thanh niên Mene: &#8220;<em>The man with fine shirt stood up. </em><em>And begin to talk in English. Fine fine English. Big big words. Grammar. Fantastic. Overwhelming. Generally. In particular and in general. Haba, God no go vex. But he did not stop there. The big grammar continued. &#8216;Odious. Destruction. Fighting&#8217;. I understand that one. &#8220;Henceforth. General mobilisation. All citizens. Ablebodied. Join the military. His Excellency. Powers conferred on us. Volunteers. Conscription&#8221;. Big big words. Long long grammar. &#8216;Ten heads. Vandals. Enemy&#8217;. Everybody was silent. Everywhere was silent like burial ground. Then they begin to interpret all that long grammar plus big big words in Kana. In short what the man is saying is that all those who can fight will join army. My heart begin to cut. Plenty. Join army? For what? So I am now a soza. No. No. I cannot be soza. Soza for what? Ehn? I begin to shout. No. No. The man with fine shirt was looking at me. The policeman was coming to me: Is he coming to take me to be soza? The policeman was coming. My heart was cutting, beating like drum. Tam tum. Tam tum tum. Then I see that it is not just one policeman but many sozas. Plenty of them with gun pointing at me. My heart was beating. Tam tum, tam tum tum. I don&#8217;t want to be soza. So as I see them coming with their gun, I jumped out of that church and started to run. Then I heard Chief Birabee and the others shouting &#8220;Hold am! hold am!&#8221; They were shouting from every side. Then the sozas started running after me. Pursuing me. I ran and ran like a dog. Still the sozas pursued me, pointing their gun</em>.&#8221;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tôi sẽ bầu cho Đảng</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6412</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 23 Sep 2021 09:15:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Thế giới]]></category>
		<category><![CDATA[Angela Merkel]]></category>
		<category><![CDATA[Bầu cử ở Đức]]></category>
		<category><![CDATA[Die Partei]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6412</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Cuộc bầu cử lần này ở Đức gắn với sự kết thúc của một kỷ nguyên: Kỷ nguyên Merkel. Mười sáu năm, thế giới chỉ ra khỏi khủng hoảng này để bước thẳng vào khủng hoảng khác, nhưng nước Đức dường như vẫn khá ổn, thất nghiệp ít, nghỉ phép nhiều, phúc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Cuộc bầu cử lần
này ở Đức gắn với sự kết thúc của một kỷ nguyên: Kỷ nguyên Merkel.
Mười sáu năm, thế giới chỉ ra khỏi khủng hoảng này để bước thẳng vào
khủng hoảng khác, nhưng nước Đức dường như vẫn khá ổn, thất nghiệp
ít, nghỉ phép nhiều, phúc lợi xã hội cao, nợ công thấp, khắp nơi
đều phẳng phiu ngăn nắp &#8211; trừ thủ đô Berlin vì lý do nguyên tắc quyết
chăm sóc một sự nhếch nhác gồ ghề nhất định. Trong cuộc sát hạch
siêu hình do một con virus vô hình chủ khảo hai năm nay, Đức cũng lấy được
một chứng chỉ không đến nỗi tệ. Y tế vững chãi, an sinh tương đối chu
toàn, kinh tế còn nội lực khá thâm hậu, hệ đề kháng toàn diện của
xã hội còn hoạt động hữu hiệu, chưa kể thành công kỳ diệu với vắc-xin
của BioNTech. Tuy cũng lúng túng, cũng mắc sai lầm, cũng từng lâm vào
những tình thế không xứng đáng với tầm vóc và trình độ của mình
nhưng Đức thời Covid chỉ vấp phải những khổ ải ít nhiều xa xỉ so
với phần lớn các nước khác. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Song kỷ nguyên
nào rồi cũng vào hồi kết. Cả những người hài lòng với <em>Mutti</em>,
Mẹ Merkel, cũng lờ mờ nhận ra rằng có thể gói thuê bao &#8220;Ổn
định, thịnh vượng, nhân văn&#8221; mang dấu ấn hình thoi bốn nhiệm kỳ của
bà lại chính là một chướng ngại đáng kể để quốc gia này bứt phá
vào một tương lai đầy thách thức mà duy trì nguyên trạng, dù là một
nguyên trạng khá ổn, không thể là giải pháp. <em>Status quo</em> là phản
nghĩa của cải cách. Có lẽ hơn ai hết, chính bà Thủ tướng nổi tiếng
về lý trí tỉnh táo đã nhận ra giới hạn của bản thân và hai năm
trước, ít khoa trương như thường lệ, giản dị tuyên bố sẽ rời khỏi
chính trường, khiến cuộc bầu cử lần này bỗng bất đắc dĩ giàu kịch
tính hơn khả năng tiêu hóa thông thường của người Đức cho phép.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi mến mộ
bà, trước hết vì bà là người ít chia động từ ở thể giả định nhất
trong các nhà lãnh đạo ở Đức. Mark Twain tính ra rằng người có khiếu
ngoại ngữ chỉ cần 30 tiếng đồng hồ để học tiếng Anh (trừ phát âm
và chính tả), 30 ngày để học tiếng Pháp, nhưng 30 năm để học tiếng
Đức. Tôi xin phép bổ sung là trong 30 năm ấy thì 29 năm đã mất đứt để
học thể giả định (<em>Konjunktiv</em>), trong đó 15 năm cho thể giả định
I và 14 năm cho thể giả định II. Phỏng theo Phạm Quỳnh, thể giả định
còn thì tiếng Đức còn, tiếng Đức còn thì nước Đức còn. Tránh được
thể giả định mà không đẩy nước Đức đến bờ diệt vong là một nghệ
thuật đáng nể. Một nghệ thuật khác của bà cũng chinh phục tôi vô
điều kiện: bà định hình đầu tóc áo xống của mình trong một nốt
nhạc để không bao giờ còn phải bận tâm vào đó nữa. Ngoại hình của
phụ nữ chưa bao giờ hết là đề tài đàm tiếu, chỉ trừ ở thánh địa
của Taliban. Nữ quyền có chăng chỉ phun một lớp bụi giảm đau cho siêu
lợi nhuận của ngành thời trang đỡ nhức nhối. Phong cách Merkel, với
mái tóc úp xuống như chiếc mũ bảo hiểm an toàn mà thân thiện, với
những bộ <em>jacket</em> chỉ khác nhau ở màu sắc và số khuy cài, là kết
tinh của sự tối giản thông minh cho một người đàn bà trong một môi
trường mà những con đực <em>alpha</em> trước sau vẫn chen chân khuynh
loát.&nbsp; </p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng mười sáu
năm là quá đủ. Tôi đã vui vẻ chia tay kỷ nguyên Merkel, dù không thấy
hồi tiếp theo trên sân khấu chính trị Đức có gì hấp dẫn. Mọi nhân
vật đang muốn sắm vai chính ở đó đều là những diễn viên hạng nhì. Hay
hạng ba, như ông Laschet, ứng viên thủ tướng của liên minh bảo thủ cánh
hữu CDU/CSU, có thể là một chủ quán rượu bình dân xuất sắc, vỗ vai
người này, bẹo má người kia, nháy mắt, vén môi, thậm chí lắc hông
nếu cần, thường trực nụ cười mời thêm một ly, luôn thủ sẵn trên lưỡi
một mẩu tiếu lâm đã cống hiến ngàn lần cho cùng một cử tọa, một
tuyên ngôn chẳng chết ai trừ quán rượu bên cạnh, và vừa buột miệng
đã lè lưỡi, không phải để xin lỗi mà chỉ vì không dám tin vào sự
táo tợn của chính mình: chú nhóc chạy bàn đã thế chân ông chủ quán
rượu. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước bức hí
họa không thể tin nổi ấy, ứng viên của phía kia, đảng cấp tiến cánh
tả SPD, ông Scholz, trông như một thiên tài, nhất là khi nghệ thuật
hùng biện của ông là kiệm lời, nhường cơ hội nói hớ cho các đối
thủ chính trị. Nếu lý tưởng của chính khách Đức là vô vị thì ông
là chính khách lý tưởng nhất. Như món cá lát tẩm bột đông lạnh <em>Fischstäbchen</em>
mà người Đức ưa dùng. Ông lại biết gói sự vô vị ấy như một nội dung
vô giá vào một hình thức bình thản dễ chịu đượm màu lão luyện
chính trường của một Phó Thủ tướng Đức đương nhiệm. Song năng khiếu chủ
yếu, khiến ông vượt qua mọi đối thủ trong trận chiến tranh cử, là
từng bước hóa thân thành Merkel tập 5 hay Angela đệ nhị. Bắt đầu bằng
hai bàn tay chụm hình thoi, như Angela Merkel. Một hứa hẹn không có
những cải cách sâu rộng. Ưu tiên bảo toàn nguyên trạng. Không làm ai
đau. Không ai phải sợ chỉ riêng mình chịu thiệt.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Góc thứ ba
trong tam giác quyền lực đang xô đẩy chuyển động, tôi không rõ là góc
nhọn hay góc bẹt. Ứng viên của Đảng Xanh, bà Annalena Baerbock, trong
một khoảnh khắc màu nhiệm đã kéo đảng này vọt lên dẫn đầu, bỏ lại
đằng sau cả hai đảng lớn truyền thống trước khi lại tụt xuống bởi một
chuỗi tai tiếng như đạo vài đoạn văn, tô hồng vài nét tiểu sử hay
quên khai một khoản thu nhập be bé. Toàn chuyện &#8220;nhỏ như con
thỏ&#8221; so với những cái xác bốc mùi mà đa số các chính khách
đều giấu ở đâu đó trong tầng hầm nhà mình, nhưng lại nhanh chóng cào
xước lớp da thường được bôi kem đạo đức <em>organic</em> của Đảng Xanh. Song
thiện cảm rất giới hạn của tôi cho nhân vật này có lẽ ăn sâu hơn. Tôi
chán phè những ông bà lãnh đạo, lĩnh vực nào cũng vậy, chỉ khác
nhau cái mác hay màu sắc, tọa độ, còn lại đều là những khuôn hình khép
kín hãnh tiến giống hệt nhau, đều thuộc lòng những nội dung bờ la bờ
lô, đều luyện kỹ những phép tu từ hứa hẹn phần thắng, đều đã qua
đủ khóa tiếp thị các giá trị đóng gói trong những bao bì ngày càng
trương phồng. Tôi không tin vào một cử động nào trên gương mặt người
phụ nữ 40 tuổi, trẻ trung hoạt bát, diện những đôi giày bắt mắt, có
giọng nói hơi chói và điệu cười hơi máy móc ấy. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhưng không ai
phải quá lo cho công chúng Đức, dù kịch cọt trên sân khấu chính trị
hiện không mấy ngoạn mục. Liên minh cánh hữu có thắng thì những
thành tựu dân chủ xã hội vẫn còn nguyên. Liên minh cánh tả có lên
thì kinh tế cũng không đổ cái rụp và người giàu không phải khóc xin
người nghèo rủ lòng thương xót. Đảng Xanh chưa lên ngôi thì đa số dân
chúng, nhất là giới trẻ, vẫn ngày càng chín muồi cho một nền chính
trị xanh. Bóng ma cộng sản vẫn nằm im trong câu mở đầu bản <em>Tuyên
ngôn</em> của Marx và Engels, dù đảng cực tả Die Linke có bước vào nội
các. Và nước Đức còn xa mới là một quả bom dân túy, dù đảng cực
hữu AfD sẽ lại chiếm một số ghế quốc hội. Chính trị Đức 52 năm
nghiêng về chân phải, 20 năm nghiêng về chân trái, nhưng trọng lượng
chính thực ra dồn vào trung điểm thăng bằng. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Vậy nên tôi kê
cao gối rồi cuối tuần tới sẽ đi bầu cho một trong 47 đảng tham gia
tranh cử: <a href="https://www.die-partei.de/">Die Partei</a>, đảng Đảng.
Người sáng lập và chủ tịch Đảng nguyên là tổng biên tập tạp chí
trào phúng lừng danh <a href="https://www.titanic-magazin.de/index.php?id=index"><em>Titanic</em></a>, người anh em
Đức của tạp chí Pháp <em>Charlie Hebdo</em>. Sứ mệnh cao quý của Đảng
là cười vào mặt chính trị bằng vũ khí nhọn hoắt của châm biếm,
giễu tuốt, chọc tuốt, báng bổ tuốt, giơ tuốt ngón tay thối, chẳng
kiêng nể bất kỳ ai bất kỳ điều gì kể cả chính mình. <a href="https://www.die-partei.de/regierungsprogramm/">Chương trình hành động của Đảng</a> năm nay là trục xuất các chính khách tham nhũng về Azerbaijan; giới hạn đón nhận người tị nạn ở mức không cao hơn biển
Địa Trung Hải đón nhận; hoãn chiến tranh với Nga và Trung Quốc vì
nguồn lực thời dịch bệnh có hạn, tạm thời chỉ khạc đạn vào
Erdogan, Bolsonaro, Orban và Sebastian Kurz; cấm <em>photoshop</em> để dân
chúng khỏi chết sốc khi chẳng may chứng kiến bộ mặt thật của các
chính khách ngoài đời… Chủ tịch Đảng, ông Martin Sonneborn, hiện là
nghị sĩ nhiệm kỳ thứ hai tại Nghị viện châu Âu. Một Đảng viên đang
là nghị sĩ Quốc hội Đức. Hàng chục Đảng viên khác đang là dân biểu
tại các địa phương. Số phiếu bầu cho Đảng từ lần tranh cử đầu tiên
năm 2003 đã tăng từ một vạn lên nửa triệu, dự tính năm nay sẽ lên năm
trăm triệu. Hiện Đảng có 52.000 Đảng viên, xu hướng tăng nhanh hơn mức đồng
Euro mất giá. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Đức thường bị coi là dân tộc hiếu thắng. Đảng cũng thế, Đảng luôn đúng. Đức thường bị coi là dân tộc không biết đùa. Đảng không đùa. Đảng nghiêm túc sửa lưng chính trị. Hoặc phơi lưng, bất đắc dĩ đành gãi lưng, nhưng quyết không kỳ lưng chính trị. Tôi sẽ bầu cho Đảng. </p>



<p class="wp-block-paragraph">(Tuần báo <em>Trẻ</em> 23/9/2021) </p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Hiểu Ba – Khác biệt giữa nhân và phi nhân</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6409</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 24 Jul 2021 21:05:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Marx và chủ nghĩa cộng sản]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Cao Hành Kiện]]></category>
		<category><![CDATA[Chư Cát Lượng]]></category>
		<category><![CDATA[Khổng tử]]></category>
		<category><![CDATA[Lỗ Tấn]]></category>
		<category><![CDATA[Lưu Hiểu Ba]]></category>
		<category><![CDATA[phim Hà Thương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6409</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài lược dịch Trước Sự kiện Thiên An Môn, Lưu Hiểu Ba là một học giả trẻ, vừa nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Sư phạm Bắc Kinh, nổi tiếng là tự tin, đầy tinh thần phê phán, thẳng thắn và không hiếm khi cực đoan, được mệnh danh là một &#8220;hắc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm
Thị Hoài lược dịch </strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trước
Sự kiện Thiên An Môn, Lưu Hiểu Ba là một học giả trẻ, vừa nhận bằng tiến sĩ tại
Đại học Sư phạm Bắc Kinh, nổi tiếng là
tự tin, đầy tinh thần phê phán, thẳng thắn và không
hiếm khi cực đoan, được mệnh danh là một &#8220;hắc mã&#8221; trên văn
đàn Trung Quốc và được nhiều cơ quan nghiên cứu ở nước ngoài chào
đón. <a href="http://www.open.com.hk/old_version/1011p68.html">Cuộc phỏng
vấn với tạp chí <em>Khai Phóng</em> ngày 27.11.1988</a>, khi
ông vừa thỉnh giảng tại Na Uy trở về và ghé qua Hong Kong vài ngày
để sau đó sang Mỹ theo lời mời của Đại học Hawaii, đã trở thành
nguồn tham khảo và trích dẫn quan trọng cho cả giới nghiên cứu về Lưu
Hiểu Ba lẫn phía lên án và kết án ông. Sau đây là tóm lược từ một
số câu trả lời của ông. </p>



<p class="wp-block-paragraph">________________</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về hệ thống giáo dục ở Trung Quốc</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không nhìn vào mảnh bằng mà nhìn vào con người cụ
thể, vì học vị không nói lên điều gì; 95% người tốt nghiệp đại học,
97% thạc sĩ và 98-99% tiến sĩ là đồ bỏ. Nhưng điều tôi quan tâm không
phải là chuyện học vị, mà là hệ thống giáo dục ở Trung Quốc, cả
trong quá khứ lẫn hiện tại. Kỹ năng và quy trình biến con người
thành nô lệ của hệ thống đó đã đạt tới đỉnh cao và thuần thục
nhất thế giới. Bản thân tôi từ tiểu học lên đến đại học như bị ép
chặt vào một thanh nẹp, lớn lên như một thân cây, tuy có dài ra thật nhưng
cành lá bị tuốt sạch. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về giới nghiên cứu Trung Quốc ở nước ngoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Quỹ nghiên cứu thuộc Đại học Oslo đã mời 5 vị khách Trung
Quốc thỉnh giảng, lần lượt là tôi, nhà thơ Bắc Đảo, đạo diễn Trần
Khải Ca, nhà văn Vạn Chi và nghệ sĩ Mễ Khâu. Tôi thấy 98% giới Hán
học ở Bắc Âu cũng là đồ bỏ, chất lượng nghiên cứu cực kỳ kém,
nhiều người nịnh bợ Bắc Kinh và tâng bốc những thần tượng được Trung
Quốc đề cao. Quan hệ của họ với Bắc Kinh rất thực dụng, họ không
phải là những học giả thực sự. Tôi chỉ coi trọng Pierre Ryckmans
(Simon Leys) ở Úc và John K. Fairbank ở Mỹ, đó là những người thực
sự quan tâm tới các vấn đề Trung Quốc mà vẫn giữ được khoảng cách
và sự tỉnh táo với chính quyền. Nhiều nhà Hán học ở Đức, Thụy
Điển và Bắc Âu không hiểu cả văn hóa của chính họ lẫn văn hóa Trung
Quốc. Cả trình độ tiếng Trung lẫn năng lực của các giáo sư Khoa Đông
Á ở Đại học Oslo đều lệch lạc. Tôi đã bảo họ rằng các vị ở đây nghiên
cứu văn học Trung Quốc đương đại cũng ở mức như chúng tôi ở Trung
Quốc nghiên cứu văn học Việt Nam hay văn học Triều Tiên mà thôi, và họ
không vui vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được họ mời mà lại
phát ngôn thiếu lịch sự như vậy. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về nền văn minh Trung Hoa nhân tranh cãi xung quanh bộ phim
truyền hình <em>Hà Thương</em> </strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo tôi, đối kháng chỉ có thể hình thành giữa hai thứ
tương đồng về sức mạnh nhưng bất đồng về phương hướng, trong khi nền
văn minh Trung Hoa đã lỗi thời, không có gì để đối đầu với phương Tây,
cho nên quan niệm về đối kháng với phương Tây chỉ cho thấy lòng tự
phụ thâm căn cố đế của dân tộc Trung Quốc. Điều cần thiết bây giờ là
thừa nhận sự lạc hậu và thất bại của mình, học lại từ đầu và
chân thành học hỏi người khác. Nhưng ý thức tiềm ẩn trong cả bộ phim
<em>Hà Thương</em> là đề xuất việc Tây phương hóa Trung Quốc, song trong
tương lai lại muốn Trung Quốc Hán hóa thế giới. Quan niệm của người
Trung Quốc là khi phương Tây mạnh thì Trung Quốc làm nô lệ, và đến
lượt mình, khi mạnh lên thì Trung Quốc sẽ muốn đè đầu phương Tây làm
nô lệ, theo phương châm học sức mạnh của bọn man di để chế ngự bọn man
di. Trung Quốc chửi kẻ khác là đế quốc, nhưng chính mình mới thực
là đế quốc nhất. Người Trung Quốc có thể thừa nhận rằng về vật
chất thì mình lạc hậu, máy móc không bằng người, quần áo không bằng
người, nhưng về tinh thần thì chẳng thua kém ai hết, còn đạo đức thì
đứng đầu thế giới luôn. Tôi cũng không thích lời bình và giọng điệu
trong phim này, vì đó là ngôn ngữ cứu thế, sở trường của Mao Trạch
Đông, thứ ngôn ngữ đã ảnh hưởng mạnh đến lý luận và tiểu thuyết
Trung Quốc đương đại.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về trí thức Trung Quốc</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tính hai mặt ở trí thức Trung Quốc rất mạnh, vì học
thuật cũng có giá trị thực dụng, trở thành học giả là có thể gặt
hái nhiều lợi ích thiết thực. Kẻ sĩ có được chỗ đứng trong xã hội
bằng hai cách. Cách thứ nhất là nhập thế, trở thành thành viên của
bộ máy quan liêu và hưởng thụ những lợi ích thực tế. Cách thứ hai
là danh hậu đắc lợi, kiếm danh trước để thu lời sau. Chư Cát Lượng
bày trò &#8220;tam cố mao lư&#8221; với kẻ cầm quyền để lưu danh tiếng,
ẩn là để hiện, thoái là để tiến, xuất thế là để nhập thế. Tôi
tuyệt đối không tin rằng sự lạc hậu của Trung Quốc là do một số vị
hôn quân nào đó gây nên, mà trước hết do tất cả mọi người, vì hệ
thống do con người tạo ra. Mọi tấn bi kịch Trung Quốc đều do chính
người Trung Quốc tự biên, tự diễn, tự dàn dựng và tự hân hoan thưởng
thức. Vì vậy đừng đổ lỗi cho ai khác. Trí thức không nên đóng vai
nạn nhân, một mình Mao Trạch Đông thì không thể làm nên cả cuộc Cách
mạng Văn hóa. Người Trung Quốc rất thiếu sáng tạo. Phương Tây có những
triết gia duy nghiệm, triết gia tư biện, triết gia tôn giáo, triết gia
phi lý và học giả luận lý kiệt xuất. Trung Quốc chẳng có gì ngoài
một đống hổ lốn lừa chẳng ra lừa, ngựa chẳng ra ngựa.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về Khổng tử và phương Tây</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Khổng tử tầm thường, Mạnh tử trí tuệ hơn, chỉ có Trang
tử là thiên tài. Từ quan điểm triết học, Khổng tử chẳng là gì cả,
Khổng giáo là một học thuyết nhập thế, lấy phục vụ chính trị làm
mục đích. Nhà Hán đã biến nó thành công cụ thống trị và lẽ ra sinh
mệnh của nó phải kết thúc ở nhà Hán, nhưng thật kỳ quái, bao nhiêu
năm rồi mà nó vẫn tồn tại. Nhưng đối diện với thế giới hiện đại
thì nó thực sự đã chết. Một số người ở phương Tây thích Khổng tử.
Không có gì lạ cả, vì đó là một xã hội đa nguyên. Nhưng trong một
xã hội nhất nguyên thì cả những thứ tốt đẹp nhất cũng thành vô
dụng. Nếu Trung Quốc là một chính thể đa nguyên, ai muốn tin vào Marx,
vào đạo Cơ-đốc hay vào Khổng tử xin cứ việc, tôi chẳng có gì phản
đối. Nhưng ở Trung Quốc hiện nay, tin vào Marx là đồng nghĩa với tin
vào một hình thái tư tưởng độc tài, vì chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc
là công cụ của giai cấp thống trị; nó là một cái gậy, không có
chút ý nghĩa lý luận nào.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Có những người đem thành tựu kinh tế của bốn con rồng
châu Á để chứng minh giá trị của Nho giáo. Thật vớ vẩn và thậm chí
vong ân bội nghĩa! Đài Loan, Hàn quốc và Singapore đều được Hoa Kỳ hỗ
trợ, Nhật Bản cũng vậy. Không có sự ràng buộc về nhân quyền theo quan
điểm của Mỹ thì có lẽ những nước đó chẳng có gì hết. Sự xấu xí
của phương Đông là ở đó, phương Đông đang đứng trước vấn đề giải
phóng con người. Trung Quốc là một cỗ máy chính trị, Nhật Bản là
một cỗ máy kinh tế, trong đó mỗi cá nhân chỉ là một con ốc vít.
Các vấn đề nhân quyền ở Đài Loan và Nhật Bản vẫn chưa được giải
quyết. Hương Cảng đã giải quyết các vấn đề nhân quyền ở cấp độ của
phương Tây hiện đại, nhưng chưa giải quyết các vấn đề của tự do ở
cấp độ hiện đại.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Không có gì phải bàn cãi, hiện đại hóa là chân lý tối
cao, nó bao hàm: sở hữu tư nhân, chính trị dân chủ, tự do ngôn luận
và thượng tôn pháp luật. Tây phương hóa triệt để là nhân bản hóa và
hiện đại hóa. Lựa chọn Tây phương hóa là để sống một cuộc sống của
con người. Khác biệt giữa Tây phương hóa và duy trì hệ thống của
Trung Quốc là sự khác biệt giữa nhân và phi nhân. Nói cách khác, nếu
muốn sống một cuộc sống nhân bản thì phải triệt để Tây phương hóa,
không có nhân nhượng và điều hòa gì hết. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về văn học Trung Quốc Đại lục</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Văn học Đại lục hiện nay không có gì hay cả. Không viết
được, chứ không phải không được phép viết. Ảnh hưởng của văn học
phương Tây chỉ hữu ích khi khơi dậy được sức sống nội tâm của các
tác giả Trung Quốc. Như Lỗ Tấn, chịu nhiều ảnh hưởng ngoại quốc,
song <em>AQ chính truyện</em> của ông tuyệt đối là của Trung Quốc. Hiện
nay có một số tác giả sao chép cả quan niệm lẫn cấu trúc của văn
học phương Tây, như <em>Trạm xe điện</em> của Cao Hành Kiện đã bệ nguyên kết
cấu của <em>Trong khi chờ Godot</em> và được coi là &#8220;cách tân&#8221;.
Kiểu thô tục cao cấp đó còn đáng sợ hơn bắt chước câu chữ. Văn học
tìm về cội nguồn cũng sao chép những quái sự li kỳ của <em>Trăm năm
cô đơn</em>, Trần Khải Ca và những người khác cũng lâm vào tình trạng
này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Về phần mình, tôi cũng phải nhặt nhạnh sự thông tuệ của
người khác, nhưng học một cách thiết thực, vì tôi lớn lên trong một
sa mạc văn hóa. Tôi phải cảm ơn Marx, vì <em>Tuyển tập Karl Marx </em>là cuốn
sách duy nhất tôi được đọc thời Cách mạng Văn hóa. Marx đã cấp cho
tôi rất nhiều chỉ dẫn về lịch sử triết học phương Tây và là cầu
nối duy nhất với &#8220;thế giới&#8221; thời đó. Tôi đã đọc <em>Toàn
tập Karl Marx</em> hơn 40 quyển và có thể trích dẫn thuộc lòng khá
nhiều đoạn. Các tác phẩm thời kỳ đầu của Marx rất được. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về chủ nghĩa Marx</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Với tôi, chấn động duy nhất từ Marx là thái độ phê phán
không thỏa hiệp. Phương pháp luận lịch sử của Marx cũng chứa đựng
một đạo lý nhất định, nhưng nhiều thứ khác thì vớ vẩn, chẳng hạn
sự phân tích cấu trúc xã hội phương Tây: kẻ bóc lột và người bị
bóc lột, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, quá đơn giản để thấy
được quan hệ tương hỗ, kiềm chế lẫn nhau giữa các giai tầng. Nói chính
xác thì khái niệm giai cấp hiện không thể áp dụng ở phương Tây được
nữa. Cách phân loại của Marx chỉ đúng với xã hội chuyên chế. Chủ
nghĩa cộng sản của Marx thực ra chỉ là một nhánh trong truyền thống
của phương Tây, từ nhà nước lý tưởng của Plato qua thiên đường trong
Kinh thánh, <em>Utopia</em> của More, Thái dương thành (<em>Civitas Solis</em><em>)</em> của Campanella đến chủ nghĩa xã hội không tưởng của
Pháp. Nhưng lý tưởng mác-xít khốn khiếp là ở chỗ nó thuyết giảng
rằng ngay ngày mai nó sẽ thành hiện thực: chủ nghĩa tư bản đã chuẩn
bị sẵn điều kiện vật chất tối hảo cho cuộc cách mạng dẫn đến chủ
nghĩa cộng sản. Các lý tưởng của Marx xem ra thật rẻ mạt. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về điều kiện cải tạo Trung Quốc</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Trung Quốc hiện chưa thoát khỏi nền văn minh nông nghiệp và
vẫn còn phải tu bổ khóa học về chủ nghĩa tư bản. Ngay cả khi một
vài nhà cầm quyền có hạ quyết tâm thì Trung Quốc vẫn không có khả
năng cải tạo về căn bản, vì đơn giản là thiếu nền móng. Điều kiện
duy nhất để Trung Quốc thực sự đạt tới một chuyển đổi lịch sử là
phải trải qua ba trăm năm chấp nhận làm thuộc địa. Hương Cảng được như
ngày nay là nhờ cả trăm năm thuộc địa. Trung Quốc rộng lớn hơn nhiều,
đương nhiên phải cần đến ba trăm năm. Nhưng liệu ba thế kỷ có đủ không?
Tôi vẫn hoài nghi lắm. Song đáng tiếc là lịch sử không còn cho Trung
Quốc một cơ hội như Hương Cảng nữa. Thời thuộc địa thực dân đã thuộc
về quá khứ. Chẳng còn ai sẵn sàng nhận lấy cái gánh nặng là Trung
Quốc.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Về Tổ quốc</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Marx viết trong <em>Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản</em>:
&#8220;Công nhân không có Tổ quốc. Người ta không thể cướp của họ cái
mà họ không có.&#8221; Tôi không quan tâm đến những lời gió bay ái quốc
hay phản quốc. Ai thích gọi tôi là đồ phản quốc thì tôi là đồ phản
quốc, đồ bất hiếu quật mộ tổ tiên, và tôi lấy đó làm tự hào.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Nguồn</strong>: <a href="http://www.open.com.hk/old_version/1011p68.html">Tạp chí <em>Khai Phóng</em> (Hong Kong) ngày 27.11.1988</a>. Nhan đề đoạn trích do người dịch đặt. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>, 22/7/2021 </p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Hiểu Ba &#8211; Đằng sau kỳ tích Trung Quốc</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6405</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 16 Jul 2021 23:12:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[kỳ tích Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[Lưu Hiểu Ba]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện Thiên An Môn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6405</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài dịch Tôi dịch bài viết này như một nén hương nhỏ tưởng niệm nhà văn và tù nhân lương tâm Lưu Hiểu Ba, qua đời vì bạo bệnh trong tù ngày 13 tháng Bảy bốn năm trước. Tất cả những gì ông nói về Trung Quốc đều có hiệu lực trọn vẹn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài dịch</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tôi dịch bài viết này như một nén hương nhỏ tưởng niệm nhà văn và tù nhân lương tâm Lưu Hiểu Ba, qua đời vì bạo bệnh trong tù ngày 13 tháng Bảy bốn năm trước. Tất cả những gì ông nói về Trung Quốc đều có hiệu lực trọn vẹn với Việt Nam, đất nước khôn nguôi căm ghét người láng giềng phương Bắc, để rồi không làm gì khác ngoài trở thành bản sao vĩnh cửu, tuy mờ và thu nhỏ, của chính kẻ thù truyền kiếp ấy. </em></p>



<p class="wp-block-paragraph">______________</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau
Thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu 1989, nền kinh tế Trung Quốc đã có những
thay đổi to lớn, mức độ vượt xa so với những năm tám mươi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Động
lực chính cho sự phát triển kinh tế cao độ này là nỗ lực của Đặng Tiểu Bình
nhằm nhanh chóng cứu vãn quyền lực cá nhân và tính chính danh của chế độ bị
sa sút nghiêm trọng do vụ thảm sát Lục Tứ. Đặng quyết tâm dùng kinh tế
để duy trì ổn định chính trị và đề xuất phương châm &#8220;phát triển là đạo lý
tối hậu&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi
bức màn xã hội ngột ngạt vừa được vén lên về mặt kinh tế, động lực
chính cho những thay đổi tiếp theo là mưu đồ trục lợi của các gia đình quyền quý,
tức những thế lực bắt đầu nổi lên từ đầu thập niên tám mươi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chính
sự tham lam của giới quyền quý này đã khuấy động dục vọng làm giàu của
con người, phát động giấc mộng kim tiền của toàn dân, thúc đẩy sự phát triển
bất thường và nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng trung bình
hàng năm trên 9% có thể gọi là một &#8220;kỳ tích kinh tế&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Đặc
sắc Trung Quốc</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuy
sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào thị trường hóa và tư hữu
hóa, nhưng thị trường kiểu Trung Quốc không phải là kết quả của thị trường
hóa nhà nước pháp quyền mà là kết quả của thị trường hóa quyền lực. Quyền
lực thành phương thức chủ yếu để phân bổ các nguồn lực; phân phối
quyền lực quyết định phân phối nguồn vốn. Tư hữu hóa kiểu Trung Quốc
không phải là tư hữu hóa hợp pháp và hợp đạo đức, mà là tư hữu hóa kiểu thổ
phỉ. Thị trường bất động sản được mở cửa từng bước biến thành sân chơi
riêng cho giới quyền thế, và thị trường tài chính do chính phủ kiểm soát biến
thành một thiên đường phương Đông cho giới quyền thế có thể giàu sụ qua
đêm. Sự xuất hiện đột ngột của nền kinh tế mới đã mở ra những cơ hội mới cho giới
quyền thế, và cũng tạo ra một tầng lớp phú ông trẻ tuổi gắn bó với quyền
lực.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đồng
thời, việc &#8220;chia nhỏ nồi cơm to bằng thìa riêng&#8221; trong quá trình
tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã khiến quá nhiều tài sản nhà nước chảy vào
túi một thiểu số nắm quyền hành; những ngành công nghiệp độc quyền mang
lại lợi nhuận cao hầu hết nằm trong tay một vài gia đình quyền thế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ngân
sách của chính quyền Trung cộng tăng nhanh tới mức không chỉ trên cả tốc
độ tăng trưởng đã rất cao của GDP, mà còn vượt xa tốc độ tăng thu nhập của
dân chúng. Ngày càng giàu và nhiều thế lực, giới quan chức vung tiền
ra khắp thế giới. Đồng thời, tốc độ tích lũy tài sản tư nhân của giới quyền
quý Trung Quốc có thể khiến bất kỳ nhà tư bản nào ở một quốc gia tư bản lâu đời
trở nên kém cỏi. Huyền thoại làm giàu qua đêm lan truyền trong những
gia tộc quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Cái
giá quá đắt</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Cái
giá phải trả của sự phát triển theo mô hình Trung Quốc là các quyền tự
do cá nhân cũng như quyền lợi và phúc lợi xã hội bị bỏ qua. Hưởng lợi từ sự
phát triển hiệu quả cao này chủ yếu là các nhóm quyền thế. Dân thường chỉ nhặt
nhạnh cơm thừa canh cặn sót lại. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Hoàn
toàn tương ứng với điều đó là quan điểm kỳ dị về nhân quyền, đặt quyền sinh
tồn lên hàng đầu, tức nhân quyền theo mô hình đặc sắc Trung cộng, nhằm phục
vụ sự ổn định của chế độ và lợi ích của giới cầm quyền.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đảng
Cộng sản Trung Quốc không ngần ngại sử dụng mọi nguồn lực để duy trì sự ổn định
chính trị. Sự băng hoại của ý thức hệ chính thống đã khiến chủ
nghĩa cơ hội cực đoan và chủ nghĩa thực dụng lên ngôi. Nhưng không hề
gì, chủ nghĩa nào cũng được, miễn là đặc quyền độc tài và của
cải cướp bóc được bảo toàn. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Sách
lược của Đảng</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Sách
lược thống trị của chế độ độc tài đầu sỏ được chia thành năm khía cạnh tương
hỗ nhau: </p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Thứ
nhất</em>, sử dụng
chủ nghĩa dân tộc như một liên kết ý thức hệ mới, gắn các khẩu hiệu chính thức
của chính sách ngoại giao cường quốc và sự trỗi dậy của các cường quốc với tinh
thần độc lập chống Mỹ, chống Nhật và chống Đài Loan. Đồng thời, hướng toàn bộ
xã hội quay trở lại thời đại hoàng quyền; các bậc đế vương vĩ đại và sự thịnh
vượng của nền văn minh Trung Quốc thời hoàng kim trở thành những chủ đề
chính của văn hóa đại chúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau
những đại loạn chính trị, sự phát triển của nền kinh tế được tuyên
truyền là nghỉ ngơi và dưỡng sức, là hứa hẹn về một tương lai sung túc, có
cơm ăn áo mặc trong một xã hội hài hòa, phiên bản mới của nền hòa bình và
thịnh vượng truyền thống, dựa trên đức trị với &#8220;bát vinh bát sỉ&#8221;
&#8211; tám điều vinh, tám điều nhục – nối tiếp truyền thống Nho giáo<a href="#_ftn1">[1]</a>.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Thứ
hai</em>, tiến mạnh theo
hướng &#8220;tất cả vì lợi nhuận&#8221; của chủ nghĩa tư bản nguyên thủy. Chính
quyền Trung cộng cổ động làm giàu. Lợi ích của toàn đảng chia thành lợi
ích của các phe cánh chính trị. Lợi ích của cả quốc gia chia thành lợi
ích của các tập đoàn đặc quyền. Còn lại miếng bánh cuối cùng thì chia
cho nhóm lợi ích của các gia đình và cá nhân quyền thế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đảng
Cộng sản Trung Quốc không còn húy kỵ việc theo đuổi lợi nhuận và cũng không
còn ngần ngại đứng ra đại diện cho đại tư bản. Lợi nhuận đã thay thế sự vận
động ý thức hệ, trở thành sợi dây gắn kết xã hội và thước đo lòng trung
thành chính trị cũng như thành tích công cán và hiệu quả điều hành
quản lý của các quan chức. Tình trạng tham nhũng, chiếm dụng công quyền để
tư lợi đã trở thành căn bệnh ung thư ăn sâu vào cơ thể của Đảng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Với
nhóm cầm quyền hiện tại, kim tiền là nền chính trị vĩ đại nhất. Tiền, để
đảm bảo sự ổn định của chế độ và lợi ích của giới quyền lực. Tiền, để bình
định các thành phố trung tâm và mua chuộc giới tinh hoa. Tiền, để thỏa mãn
lòng tham của những kẻ muốn giàu nhanh qua đêm và dập tắt sự phản kháng của những
tầng lớp dân chúng thiệt thòi. Tiền, để mặc cả với các nước phương Tây trong
chính sách ngoại giao. Tiền, để mua sự ủng hộ chính trị từ những nước nhỏ
bất hảo.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Thứ
ba</em>, chạy theo tiêu
thụ vật chất xa xỉ và văn hóa phù phiếm dễ dãi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Một
mặt, lĩnh vực tiêu dùng liên tục phóng ra những &#8220;vệ tinh giá trên trời&#8221;,
xe hơi nổi tiếng, đồng hồ nổi tiếng, biệt thự sang trọng và một văn hóa
tiêu dùng sôi động. Mặt khác, sự tầm thường hóa, đại chúng hóa được bọc
bằng lớp vỏ Chân Thiện Mỹ và phồn vinh giả tạo đã trở thành một ngành
công nghiệp cao sản và thống lĩnh thị trường văn hóa. Sự vui nhộn tiểu
phẩm và thư giãn nông cạn của nó phối hợp với sự ồn ào lên gân của các
chủ đề thấm nhuần ý thức hệ đã tạo ra một chủ nghĩa hưởng lạc được chế độ
độc tài chủ ý dung túng, phát tán một sự độc ác thô bỉ, lạnh lùng và
man rợ.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Thứ
tư</em>, mọi bất đồng
chính kiến ​​về chính trị đều bị nghiêm cấm, các hoạt động có tổ chức
của xã hội dân sự bị đặc biệt nghiêm trị.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Dưới
sự đàn áp khốc liệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với các tổ chức dân
sự tự trị, những cá nhân đã tách khỏi các tổ chức đảng và đơn vị nhà nước tuy
có một không gian riêng tư nhất định nhưng không thể hình thành một xã hội
dân sự có tổ chức và tự trị trong phạm vi công cộng mà lại một lần nữa bị phân
tán, bị nguyên tử hóa, không đủ khả năng hình thành một lực lượng dân sự độc
lập, có tổ chức, vì vậy không thể nói đến việc tranh giành quyền lực với nhà
nước và đảng cầm quyền được tổ chức cao độ.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Thứ
năm</em>, mua chuộc
giới tinh hoa trí thức. Sau ngày 4 tháng Sáu, đầu tiên chính quyền Trung
cộng dùng máu để trấn áp và uy hiếp giới tinh hoa trí thức, những người đã
đóng một vai trò to lớn trong phong trào phản kháng năm 1989, rồi sau đó
cám dỗ họ bằng lợi nhuận, và nhanh chóng biến giới trí thức thành những kẻ
khuyển nho dùng mông đít quyết định cái đầu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong
sâu thẳm, có thể họ bác bỏ ý thức hệ của chế độ hiện hành hoặc thậm chí khinh
bỉ chính quyền hiện tại, song những cám dỗ lớn của lợi ích hiện hữu và
nguy cơ khủng bố chính trị cao khiến họ phải gắn bó với chế độ hiện tại, công
khai bày tỏ thái độ thừa nhận và ủng hộ chế độ đó. Họ tích cực xích
lại gần quyền lực và tư bản, không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để hứng ơn mưa
móc, không còn ngại công khai biện hộ cho các tập đoàn quyền lực, và
không còn xấu hổ khi tự giác hành động như nghệ sĩ hóa trang tư tưởng của
chế độ tư bản. Tri thức, quyền lực và tư bản đã kết thành một liên minh lợi
ích tam vị nhất thể, cho phép giới tinh hoa trí thức nhanh chóng gia nhập
hàng ngũ giàu sang quyền thế.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Chi
phí xã hội</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Do
đó, những biến đổi cực đại trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc nhìn bề
ngoài tuy rộng lớn và sâu sắc, nhưng thực chất lại khập khiễng và hời hợt
mà đặc điểm chính là mở rộng về số lượng thay vì nâng cao chất lượng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Chất
lượng cuộc sống xã hội nói chung và chất lượng con người đã không được cải
thiện đồng bộ với tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nhanh chóng. Các tiêu chuẩn
đạo đức, sức sống tinh thần tư tưởng, phúc lợi xã hội và sự tham dự của
công chúng kém xa so với những năm tám mươi. Trung Quốc đang điên rồ chạy
theo một chủ nghĩa tư bản thân hữu ở dạng tồi tệ nhất.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Giới
chức sắc thì chia nhau tài sản của Đảng chuyển hóa từ cái gọi là tài sản nhà
nước một cách vô nguyên tắc; giới tinh hoa thì biện hộ cho quyền lực và tư
bản một cách vô liêm sỉ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sức
mạnh tổng hợp thực tế và đạo đức những năm tám mươi đến từ phe khai sáng
cởi mở trong nội bộ Đảng, giới trí thức tự do, giới trẻ đầy nhiệt huyết,
giới kinh tế tư nhân truy cầu đạo nghĩa và những người bất đồng chính kiến để
thúc đẩy cải cách chính trị nay đã biến mất. Duy nhất thay vào đó là một cải
cách kinh tế đơn thuần lấy lợi ích kinh tế làm chuẩn mực.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đằng
sau &#8220;kỳ tích kinh tế&#8221; đó là kỳ tích hủ bại của thể chế, kỳ
tích bất công xã hội, kỳ tích suy đồi đạo đức, và kỳ tích phung phí tương
lai. Đó không chỉ là một kỳ tích với chi phí kinh tế và chi phí nhân quyền cực
kỳ cao, mà cả với chi phí xã hội toàn diện không thể nào tính hết.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Nguồn</strong>: Bản tiếng Anh của bài viết
này, nhan đề &#8220;Behind the China Miracle&#8221;, đăng lần đầu trên BBC
ngày 04/11/2008, sau này được đưa vào tuyển tập <em>No Enemies, No Hatred</em>,
<a href="https://doi.org/10.4159/harvard.9780674063112.c20">Harvard
University Press, 2012</a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Dịch
từ bản tiếng Đức &#8220;Die Hintergründe des chinesischen
Wirtschaftswunders&#8221; trong <em>Ich habe keine Feinde, ich kenne keinen Hass</em>,
Fischer Verlag, Frankfurt am Main, 2013

Tuần báo <em>Trẻ</em>, số
ra ngày 15/7/2021

<br></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1">[1]</a> &#8220;Bát vinh bát sỉ&#8221; (<em>八荣八耻</em>) là <a href="https://zh.wikipedia.org/wiki/%E7%A4%BE%E4%BC%9A%E4%B8%BB%E4%B9%89%E8%8D%A3%E8%BE%B1%E8%A7%82">luận thuyết xã hội chủ nghĩa về danh dự và ô nhục</a> do Hồ Cẩm Đào đề xướng năm 2006 gồm tám điều vinh và tám điều nhục như sau: 1) Yêu tổ quốc là vinh, hại tổ quốc là nhục; 2) Phục vụ nhân dân là vinh, phản bội nhân dân là nhục; 3) Tôn sùng khoa học là vinh, ngu muội vô tri là nhục; 4) Chuyên cần lao động là vinh, lười biếng hưởng lạc là nhục; 5) Đoàn kết tương trợ là vinh, ích kỷ hại người là nhục; 6) Trung thực thủ tín là vinh, hám lợi vong nghĩa là nhục; 7) Tuân thủ kỷ cương pháp luật là vinh, vi phạm kỷ cương pháp luật là nhục; 8) Phấn đấu gian khổ là vinh, kiêu căng xa xỉ là nhục. (Chú thích của người dịch)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Hiểu Ba &#8211; Lẽ nào chúng ta không là kẻ đồng lõa?</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6402</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 13 Jul 2021 13:50:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa-Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Cách mạng Văn hóa]]></category>
		<category><![CDATA[Dư Thừa Vũ]]></category>
		<category><![CDATA[Lão Hiệp]]></category>
		<category><![CDATA[Lưu Hiểu Ba]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Trạch Hậu]]></category>
		<category><![CDATA[Tô Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Trương Ái Linh]]></category>
		<category><![CDATA[Vương Sóc]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6402</guid>

					<description><![CDATA[Hôm nay là tròn 4 năm ngày mất của Lưu Hiểu Ba. Ở Việt Nam sự nghiệp tư tưởng, văn hóa và chính trị của ông chưa bao giờ được đề cập. Tên ông chỉ được nhắc đến, khi truyền thông chính thống vạch trần âm mưu của phương Tây với Giải Nobel Hòa bình [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph">Hôm nay là tròn 4 năm ngày mất của Lưu
Hiểu Ba. Ở Việt Nam sự nghiệp tư tưởng, văn hóa và chính trị của ông
chưa bao giờ được đề cập. Tên ông chỉ được nhắc đến, khi truyền thông chính
thống vạch trần <a href="http://www.cadn.com.vn/news/91_40476_phuong-tay-co-am-muu-khi-trao-giai-nobel-hoa-binh-cho-luu-hieu-ba.aspx">âm
mưu của phương Tây</a> với Giải Nobel Hòa bình cho ông năm 2010, khi Việt
Nam <a href="https://nhandan.vn/chan-dung/trung-quoc-tu-hao-voi-no-ben-van-hoc-2012-389315/">chia
sẻ niềm tự hào của Trung Quốc</a> trước một Nobel thực sự xứng đáng
cho một người Trung Quốc khác &#8211; nhà văn Mạc Ngôn &#8211; năm 2012, khi <a href="https://www.vietnamplus.vn/bac-kinh-noi-gian-vi-my-dinh-doi-ten-duong-truoc-su-quan-trung-quoc/371371.vnp">Bắc
Kinh nổi giận</a> về đề nghị lấy tên ông đặt cho con đường trước cửa Đại
sứ quán Trung Quốc tại Hoa Kỳ năm 2016, và <a href="https://thanhnien.vn/the-gioi/ong-luu-hieu-ba-qua-doi-855175.html">khi ông
qua đời</a> năm 2017– vài dòng không một lời thương tiếc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Song độc giả Việt Nam có thể đọc ông
qua một tác phẩm do NXB Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2002<em>,</em> <em><a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=517&amp;rb=08">Người đẹp tặng
ta thuốc bùa mê</a></em>, bản dịch của Vũ Công Hoan, hơn 400 trang đối thoại
văn học giữa Lão Hiệp &#8211; bút danh của Lưu Hiểu Ba mà các nhà kiểm duyệt
Việt Nam chắc chắn không biết &#8211; và Vương Sóc, hai văn nhân cùng thế hệ,
cùng nổi lên như hai hiện tượng đặc biệt của văn đàn Trung Quốc từ giữa
những năm tám mươi. Đoạn trích sau đây là ý kiến của Lưu Hiểu Ba về văn
học Trung Quốc sau Cách mạng Văn hóa. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">___________</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ khi Cách mạng Văn hoá chấm dứt đến nay,
văn nhân Trung Quốc vẫn tựa lưng vào một vòng sáng hư ảo. Lúc mới đầu, vòng
sáng hư ảo này chiếu vào sự phản kháng và chống đối của các nhà phê bình, nhà
văn, ca sĩ và đạo diễn tiên phong. Bối cảnh lớn của hình thái ý thức Cách mạng Văn
hoá đã làm nổi bật hoặc thổi phồng tính chất sâu sắc và gay gắt của sự phản kháng
ấy. Dần dần các nhà tiên phong đã mất đi cái nền cho họ nổi bật, sự phản kháng
đã mất đi bối cảnh. Té ra chúng ta chỉ nói những lời người khác đã nói. Chúng
ta chẳng qua là &#8220;văn học tan băng&#8221; của Liên Sô, chẳng qua là nói những
điều mà các bậc tiền bối của thời Ngũ Tứ đã nói từ đời nào. Thế là chẳng ai tìm
được chỗ đứng, người thì đi tìm cội nguồn, kẻ thì lao vào văn hoá đại chúng,
người nữa thì chạy theo thời thượng mới nhất của phương Tây. Các đạo diễn tiên
phong, những nhà lý luận tinh anh cũng bắt đầu cải tà quy chính. Còn các nhà viết
tiểu thuyết thì cơ bản không có việc làm, liền quay sang viết các cảm thán cũ.
Ví dụ, lửa của Tô Ðồng<a href="#_ftn1">[1]</a> giống lửa của Dư Thu Vũ<a href="#_ftn2">[2]</a>. &nbsp;Tô Ðồng là phiên bản tồi của Trương Ái Linh<a href="#_ftn3">[3]</a>. Dư Thu Vũ là văn học tìm
về cội nguồn, là thông tục hoá thuyết văn hoá Trung Quốc cứu vớt loài người của
Lý Trạch Hậu<a href="#_ftn4">[4]</a>.
Còn có cả luồng tư tưởng &#8220;bản địa hoá&#8221; rất ầm ĩ hung hăng, đem chủ
nghĩa phương Ðông<a href="#_ftn5">[5]</a> và
việc phê phán chủ nghĩa thực dân phương Tây ra nói. Cách mạng Văn hoá vừa chấm
dứt là thời kỳ động đực của người Trung Quốc. Nếu một ngày nào đó thật sự có tự
do, có thể viết một cách không bị hạn chế, thì chúng ta còn viết được gì nữa?
Lúc đó mới thật sự mất ngôn ngữ, ngay đến đại giả dối cũng không có. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Trí thức, nhà văn Trung Quốc đứng trước một
vấn đề: khi đại nạn của dân tộc kéo dài nửa thế kỷ xảy ra mà tàn dư vẫn còn
thì phải đối mặt với nó bằng phương thức và tư thế dáng vẻ nào? Tôi cảm thấy sự
giả dối lớn nhất là thể hiện mình trước tiên, đặt mình vào vị trí của người lên
án và phán xét. Xưa nay chưa có ai hoặc rất hiếm có ai tự hỏi bản thân rằng ta
có dự phần vào việc gây ra đại nạn này không. Ta có phải là kẻ đồng lõa không?
Ta có phải chịu một phần trách nhiệm, dù chỉ từ khía cạnh đạo nghĩa không?
Không có sự xét hỏi tâm khảm mình này thì không có cái gì thật. Gột rửa sạch bản
thân thì coi như gột rửa sạch cho tất cả bọn đao phủ. Cho nên văn chương Trung
Quốc đều mang tính tô vẽ giả dối. Tô hồng bản thân cũng là tô hồng nỗi đau khổ,
tô hồng nỗi đau khổ có nghĩa là gỡ tội cho những kẻ gây nên đau khổ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thứ văn chương ấy cho một cảm giác rằng
chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng gian tà độc ác. Ta đã là người kiên trì
cho đến giây phút chó sủa trong bóng tối. Thứ này có hiệu quả lạ lùng lắm. Khi
đau khổ không được công khai thì người ta im lặng, chấp nhận, lạnh lùng tới mức
tê dại, tới mức thành người thực vật. Nhưng khi được công khai thì đau khổ trở
thành một thứ vốn liếng để chộp lấy quyền lực, địa vị xã hội và vinh quang, thậm
chí là viên gạch gõ cửa khoa cử. Ta là phái hữu từng chịu khổ nạn; ta là thanh
niên trí thức từng lên núi xuống làng; ta là ngưu ma quỷ thần từng bị đấu tố,
đã nằm chuồng bò&#8230; Vậy thì xã hội phải tôn kính ta, bù đắp cho ta, bồi thường
cho ta, ta có quyền đòi hỏi xã hội tất cả. Dựa vào cái gì cơ chứ? Dựa vào việc
ta đã từng chịu khổ, đã từng bị bức hại. Những người đã băng qua đồng cỏ núi
tuyết thì có huân chương trường chinh. Những người từng đào địa đạo, giật nổ lô
cốt giặc thì có huân chương kháng chiến. Những người đã đánh qua Nam Kinh thì
có huân chương giải phóng. Những người từng đánh giặc Mỹ thì có huân chương
&#8220;chống Mỹ viện Triều&#8221;. Vậy thì, ta từng chống &#8220;Bè lũ 4
tên&#8221;, từng gửi kiến nghị cho Đảng, đã trở thành phái hữu, thì ta phải
được huân chương phái hữu, huân chương ngưu ma quỷ thần. Ðể treo nó lên ngực nỗi
đau khổ của ta, để ai ai cũng biết ta đã từng chịu khổ, ta có quyền yêu cầu mọi
thứ và càng có quyền lên án người khác và tô hồng bản thân.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Sau 70 năm Bức màn Sắt của Liên Sô, dù
thế nào thì vẫn còn một quyển <em>Quần đảo Gulag</em>, vẫn còn có người sờ lên
ngực tự hỏi, ta phải chịu trách nhiệm gì bởi sự tồn tại của bức màn sắt đó. Vì
sao ta đã không làm gì khi có cơ hội chống lại, thậm chí một câu chất vấn đơn
giản, một động tác ôm cột điện hét to cũng không làm. Chúng ta là nạn nhân, điều
ấy là cái chắc. Lẽ nào chúng ta không là kẻ đồng lõa? Tối thiểu nên tự hỏi bản
thân như vậy. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Lúc Cách mạng Văn hoá mới bắt đầu, tôi
còn nhỏ, không có thứ cử chỉ mạnh mẽ của Hồng Vệ binh. Nhưng hồi tưởng lại
thì cảnh tàn nhẫn của cả xã hội cũng là từ trẻ con gây nên. Còn nhớ một việc rõ
nhất, tôi đã từng có lần tàn nhẫn với một ông già bằng tuổi bà nội tôi khi ấy,
lúc tôi mười một mười hai tuổi. Ông tên là Doãn Hải, đã đi lính Quốc dân Đảng mấy
ngày sau đó đào ngũ về nhà. Ông ở gác dưới nhà tôi, làm nghề cắt tóc nuôi
thân, tức là cầm một chiếc tăng-đơ sắt bóp bóp trong tay, phát ra tiếng kim loại
va vào nhau, ngân rất lâu mới dứt. Ông Doãn Hải và bà nội tôi có quan hệ với
nhau rất tốt. Cách mạng Văn hoá bùng nổ, ông trở thành phần tử có lịch sử phản
cách mạng. Bị con trai từ bỏ, ông không được cắt tóc nữa, bị buộc dọn khỏi
nhà, đến ở trong một gian nhà nhỏ mấy mét vuông của phòng nồi hơi khu tập thể
chúng tôi, vừa tối vừa ẩm, ngoài cái giường ra không còn chỗ nào nữa. Ông phải
đi bới rác kiếm sống. Trong khu nhà chúng tôi còn có một người đàn bà Nhật bị gọi
là &#8220;Ðông Phương&#8221;. Bà và ông Hải cùng bị chỉnh. Hàng ngày khi chúng
tôi, sáng xin chỉ thị, tối báo cáo bày tỏ lòng trung thành, nhảy điệu múa chữ
Trung, thì bà Ðông Phương và ông Doãn Hải phải đứng trước mặt cúi đầu nhận tội.
Ông Doãn Hải đầu cắt trọc, cạo bóng loáng. Một hôm tôi và mấy bạn nhỏ vừa đi vừa
tìm trò nô đùa, chợt nhìn thấy cái đầu trọc long lóc của ông Doãn Hải đang lục
bới trong đống rác, dưới nắng trời cái đầu trọc càng bóng loáng. Mắt tôi bừng
sáng lên, tìm được trò chơi rồi. Chúng tôi đi đến chỗ ông nói to: &#8220;Lão
Doãn Hải kia ngẩng đầu lên, thò cái đầu trọc ra, để ta búng vào trán mấy
cái&#8221;. Ông Doãn Hải nhìn tôi, đần mặt ra có vẻ cầu cứu. Ông bảo: &#8220;Cậu
Ba ơi, tôi và bà nội cậu ngang tuổi nhau, lại là hàng xóm láng giềng quen biết
cũ, trước đây thường hay cắt tóc cạo đầu cho mấy anh em cậu, xin cậu tha cho
tôi lần này&#8221;. Tôi đáp: &#8220;Không được, dứt khoát phải búng&#8221;. Ông
Doãn Hải lại van xin mấy câu, thấy không ăn thua, ông liền lùi một bước thoả
thuận: &#8220;Vậy thì nếu cậu định búng thật thì tôi quay đi, cậu búng vào gáy
có được không? Tôi bảo: &#8220;Cái lão già này khôn ranh láu lỉnh lắm, thảo nào
quy lão là có lịch sử phản cách mạng. Không được, hôm nay ta dứt khoát phải
búng vào cái trán bóng kia mới được&#8221;. Mấy bọn trẻ khác cùng vào hùa với
tôi, đá tung cái sọt đựng rác của ông, sấn sổ nói: &#8220;Không cho búng thì từ
nay về sau đừng hòng bới rác nữa&#8221;. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông Doãn Hải không biết làm gì hơn, đành cố
thò cái đầu ra giữa trời nắng gay nắng gắt, trán ông đọng những giọt mồ hôi
li ti. Tôi hoàn toàn không biết đó là một thứ làm nhục nhân cách hết sức ghê gớm.
Ông Doãn Hải ở độ tuổi có thể làm ông nội tôi, sống lương thiện, lại dí dỏm,
trước đây thường kể chuyện pha trò khi cắt tóc cho tôi. Nhưng lúc này, tôi
không cảm thấy gì, chỉ cảm thấy háu chơi. Tôi búng mạnh vào cái trán bóng lọng
lấm tấm mồ hôi của ông, mấy cậu bạn kia cũng búng theo. Cuối cùng ông Doãn Hải
cúi xuống, quay người đi, lưng quay về phía chúng tôi, vơ nhặt những thứ đồng
nát vương vãi ra đất. Bây giờ nghĩ lại, chắc chắn là ông khóc, khóc vì nỗi sỉ
nhục chảy vào tim. Trái tim con người, nếu biết chảy máu, thì nhất định chảy
vào lúc móng tay tôi búng lên trán ông Doãn Hải. Từ đó trở đi, hễ nhìn thấy
chúng tôi thì từ mãi đằng xa, ông Doãn Hải đã giơ cánh tay lên hô to: &#8220;Học
tập Hồng Tiểu binh! Kính chào Hồng Tiểu binh!&#8221;. Ông hô tới mức chúng tôi
cười phá lên. Lúc còn bé tôi đã làm khá nhiều việc tàn nhẫn như vậy. Hành vi
này không khác gì về thực chất với Hồng Vệ binh chuyên đi đánh đập cướp giật,
túm đầu người khác. Bọn chúng tôi có một thứ tàn bạo hung dữ không coi ai ra
người, vốn có ngay từ lúc còn nằm trong bụng mẹ. Ở thời đại con người như rau cỏ,
thì không ai trong chúng ta thoát được trách nhiệm, rửa sạch được mình đâu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">(Trích từ <em>Người đẹp tặng ta thuốc
bùa mê</em> của Vương Sóc và Lão Hiệp, bản dịch của Vũ Công Hoan, NXB
Văn hóa Dân tộc, 2002)<br></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1">[1]</a> Tô Đồng (Su Tong), tác giả
tiểu thuyết <em>Năm thê bảy thiếp</em> (<em>Thê thiếp thành quần</em>, 1990)
được Trương Nghệ Mưu chuyển thể điện ảnh thành bộ phim <em>Đèn lồng
đỏ treo cao</em> (1991) nổi tiếng. Tiểu thuyết <em>Con thuyền không bến
đỗ</em> đoạt giải Văn học châu Á của ông được dịch và xuất bản tại
Việt Nam năm 2011. Năm 2015, ông đoạt Giải Mao Thuẫn, giải thưởng văn
học danh giá hàng đầu Trung Quốc.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref2">[2]</a>
Dư Thu Vũ (Yu Qiuyu) là một nhà văn và học giả văn hóa Trung Quốc
hết sức thành đạt. Hai tác phẩm <em>Ngàn năm một tiếng thở dài</em>
và <em>Hành trình vô tận</em> của ông được dịch và xuất bản tại Việt
Nam năm 2018.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref3">[3]</a>
Trương Ái Linh (Eileen Chang, 1920-1995), nhà văn nữ xuất sắc với những tác phẩm
về Thượng Hải và Hong Kong những năm 1940, sống phần lớn cuộc đời và
mất tại Hoa Kỳ. Tác phẩm <em>Sắc, Giới</em> của bà được dịch và xuất
bản tại Việt Nam năm 2009.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref4">[4]</a>
Lý Trạch Hậu (Li Zehou), học giả và nhà tư tưởng, ảnh hưởng mạnh đến
trào lưu thoát giáo điều cộng sản ở Trung Quốc từ những năm tám mươi,
từng bị quản thúc sau Sự kiện Thiên An Môn, từ năm 1991 sống và giảng
dạy tại Hoa Kỳ. Danh tiếng của học giả trẻ tuổi Lưu Hiểu Ba hình thành
với tác phẩm <em>Phê phán sự lựa chọn – Đối thoại với Lý Trạch Hậu</em>
năm 1987. Một số công trình của Lý Trạch Hậu như <em>Bốn bài giảng mỹ
học</em>, <em>Trung Quốc tư tưởng sử luận</em> đã được dịch và xuất bản
tại Việt Nam. </p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref5">[5]</a> Trào lưu xuất phát từ <em>Orientalism </em>(1978)<em>, </em>tác phẩm nổi tiếng của Edward Said, học giả Hoa Kỳ gốc Palestine</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Văn tế văn sĩ</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6398</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 24 Jun 2021 16:55:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Edgar Allan Poe]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Xuân Khánh]]></category>
		<category><![CDATA[Trư cuồng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6398</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Một thời gian dài, tôi tâm niệm tự cáo phó là việc đương nhiên với một người viết. Con dấu tối hậu trên trang cuối tấm hộ chiếu ở cõi tạm này ta phải đích thân đóng, để chắc chắn đã làm chủ cuộc đời mình chí ít một lần, dù có [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Một thời gian dài, tôi tâm niệm tự
cáo phó là việc đương nhiên với một người viết. Con dấu tối hậu trên
trang cuối tấm hộ chiếu ở cõi tạm này ta phải đích thân đóng, để
chắc chắn đã làm chủ cuộc đời mình chí ít một lần, dù có thể đã
&#8220;buông lỏng lãnh đạo&#8221; nó ở tất cả các giờ phút trọng đại trong
kiếp tồn tại mà mình ngẫu nhiên tham dự và trình diễn. Chí ít một
lần giữ quyền đánh giá sự nghiệp của mình, ở thời điểm thân xác sắp
khao cho giòi bọ, tác phẩm chuẩn bị làm mồi cho thời gian. Dấu vết
tinh thần của không ít người viết còn sớm tàn hơn dấu vết thể xác. Song
một ngày, lướt qua những dòng văn điếu khi lại một tác giả vừa qua
đời, tôi bỗng nhẹ nhõm bỏ ngay ý định đó. Tự cáo phó là dại dột. Người
ở lại chắc chắn sẽ rộng lượng với tôi hơn tôi khi tôi ra đi. Không
phải vì nghĩa tử nghĩa tận gì đó linh tinh, mà vì trước cái chết
mọi thứ đều thành tương đối. Phần lớn lầm lỗi đều dễ thể tất và chiếc
quan tài giấy mực thường lớn hơn kích cỡ người xuống mồ. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Văn cúng nhà văn vì thế khá giống
nhau, rút cuộc thì đa số người viết đều loanh quanh trên dưới một mặt
bằng chung nào đó của tài năng và tầm vóc, để làm cái việc mà họ
hoàn toàn không mơ ước là tôn bật một thiểu số xuất sắc. Thiểu số
ấy có thể sống sót ngay cả khi bị bồi thêm vài cú chôn từ những phu
mộ văn chương chơi bẩn. Hai ngày sau khi Edgar Allan Poe qua đời, một <a href="https://www.eapoe.org/papers/misc1827/nyt49100.htm">bài viết ký
tên Ludwig xuất hiện trên tờ <em>New-York Daily Tribune</em></a> và sau đó
hàng loạt tờ khác đăng lại, tuyên bố rằng cái chết của Poe khiến
nhiều người bàng hoàng nhưng ít ai phải đau xót, vì đó là một thiên
tài điên loạn, tiểu sử thì bê bối, đời sống thì bệ rạc, tư cách
thì bê tha nghiện ngập, bản tính thì đố kỵ nhỏ nhen, kém thân thiện,
thiếu trung thực, lạnh lùng giễu cợt, khinh bỉ con người, trơ lì
trước đạo đức và danh dự, là nhà văn thì chỉ giỏi vẽ vời làm màu,
là nhà phê bình chỉ cắm đầu mổ xẻ câu chữ, là nhà thơ tuy có độc
đáo, song lại nhờ một sự nhạy cảm bệnh hoạn, một trí tưởng tượng mịt
mù u ám, và trên tất cả là một tham vọng thô lậu: thành đạt, để có
quyền cười nhạo cái thế giới đã khiến lòng tự phụ của mình bị
tổn thương. Bài báo ký cái tên lạ hoắc ấy hóa ra là của nhà phê
bình <a href="https://www.eapoe.org/geninfo/poegrisw.htm">Rufus Wilmot
Griswold</a>,
người thế chân Poe chủ biên một tạp chí văn chương, được chính ông giao
di cảo văn học của mình để quản lý, độc quyền xuất bản các tác
phẩm của ông và định đoạt cho ông một số phận văn học đáng ngờ bằng
một cuốn tiểu sử đầy ảnh hưởng và cũng đầy bịa đặt bỉ ổi. Song
một phần tư thế kỷ sau, Poe phục sinh và bất tử, bài cáo phó rắp
tâm hạ ông xuống một huyệt mộ văn học thảm hại cũng bất tử theo,
còn tác giả của nó rơi vào cõi vô tăm tích.&nbsp; </p>



<p class="wp-block-paragraph">Cho đa số cố lắm chỉ lên đến
thường thường bậc trung, công thức truy điệu là một&nbsp; pha trộn ít nhiều khéo léo giữa nỗ
lực bày tỏ lòng thành và nỗ lực tránh thành thật. Một nhà văn
xoàng ra đi thực ra là được giải thoát khỏi sự tầm thường khốn khổ
của cái nghiệp văn vẻ tự buộc. Thực ra là một an ủi trong nỗi đau ly
biệt, thậm chí một ân huệ cho văn chương. Song chúng ta không nói thế. Trong
văn tế, chúng ta đem hết chân tình trân trọng một con người đã miệt
mài trên con đường chữ nghĩa và để lại những trang văn bình dị nhưng chứa
chan tình người. Cứ qua đời là các nhà văn đều trúng giải thương
tiếc. Văn đàn thông báo mất mát. Hoặc khoảng trống. Về nguyên tắc là
không ai lấp nổi. Nhưng tất nhiên vẫn còn lại những tác phẩm truyền
cảm hứng, lay động tâm hồn nhiều thế hệ và sống mãi trong lòng bạn
đọc. Những tác phẩm giàu tính nhân văn, có tầm vóc tư tưởng và chiều
sâu văn hóa, gửi gắm thông điệp sâu sắc về những giá trị đích thực.
Những tác phẩm thấm đẫm hơi thở cuộc đời và âm vang sự sống. Của
một người trọn đời đi tìm cái Đẹp, đam mê sáng tạo, tâm huyết với
nghề cầm bút, nặng lòng với văn chương, cháy hết mình trong tình yêu
nghệ thuật (ngoài ra còn biết lắng nghe ý kiến phê bình, ưu ái hoặc có
công phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ viết văn trẻ), luôn ấp ủ những
chủ đề về quê hương đất nước, trăn trở suy ngẫm về thân phận con
người, bền bỉ đồng hành cùng lịch sử dân tộc và thời đại. Bằng ngôn
ngữ sống động chân thực. Từ một cuộc đời mẫu mực đầy yêu thương và
một tâm hồn nhạy cảm, vị tha, với những rung động sâu xa. Đã góp
phần làm nên, đã là gương mặt tiêu biểu của, đã gây ấn tượng với,
đã khá thành công ở. Và đã được tặng những giải thưởng cao quý như
giải B (không có giải A).</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thể loại văn tế văn sĩ này không cần
đến trí tuệ nhân tạo dụng võ. Một phần mềm đơn giản là đủ. Cho cả
những đúc kết sự nghiệp dễ nhớ, bằng văn vần, lắp ghép từ tên các
tác phẩm. Cho cả những biến tấu tâm tình, mới hôm nào ngồi họp cùng
anh, ngoài trời mưa lâm thâm; tháng trước nói chuyện điện thoại chị còn
hồ hởi; lần gặp cuối ông đã yếu nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, nụ cười
vẫn sảng khoái; trên giường bệnh bạn vẫn một lòng thiết tha, cuộc đời
yêu như vợ của ta ơi; để rồi khi nhắm mắt ai cũng thanh thản, đắc
thiền với tỷ lệ ngang đảng viên trúng cử Quốc hội. Tùy quan hệ cá
nhân, có thể chọn cả cách gọi người vừa khuất. Là người Bạn lớn,
người Anh lớn, người Chị lớn, người Thầy lớn, người Văn lớn. Hoặc tiện
nhất: <em>người hiền</em>. Vừa khỏi rắc rối viết hoa viết thường, vừa theo
kịp trào lưu, <em>đú trend</em> trong tiếng Việt mới. Người hiền sớm
muộn cũng vào đề thi môn Ngữ văn, mạng xã hội cần những lăn tăn thời
vụ. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nghề nào cũng có lộc của nó. Cáo
phó văn chương tạm ứng một <em>bonus</em> ngoại lệ cho một sự nghiệp văn
học mà thời gian rồi sẽ tính sổ. Nhưng trái với hình dung nhẹ dạ
của chúng ta, thời gian không có lý do gì để phải đúng đắn, khách
quan, công bằng và minh bạch hơn những cơ chế thẩm định khác. Nó nhấn
chìm ức vạn ghe thuyền văn vẻ bé nhỏ trong cái bụng đại dương của
nó, song cũng đánh đắm cả những con tàu lớn. Nó lùa những ông hoàng
và thần dân hạng bét của vương quốc văn chương vào cùng một xó quên
lãng. Hai phẩm chất đáng tin cậy nhất của nó là vô tình và độc
đoán. Nên trước khi thời gian ra tay, món tạm ứng hương khói hậu hĩnh
nên đem ra dùng ngay, vả lại nghề văn ngày nay đã đủ mất giá để chẳng
lộc linh cữu nào có thể đền bù. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Song những ngày vừa rồi, đọc những
dòng tưởng nhớ một nhà văn có tên tuổi vừa qua đời, tôi chỉ mong mâm
cỗ cúng ông bớt đi nhiều món. Vẫn những thứ nhả ra từ phần mềm văn
tế văn sĩ. Vẫn cái gì mà tâm hồn trong sáng, sức làm việc bền bỉ,
bút lực dồi dào, vốn văn hóa dày dặn, khát khao sáng tạo, cần mẫn truy
tìm mạch nguồn sống của dân Việt, bảo vệ những giá trị văn hóa cốt
lõi của dân tộc. Vẫn cái gì mà nhà văn chân chính, cây bút đích
thực, tạo nên những giá trị không thể phủ nhận, dâng hiến cho sứ
mệnh của văn chương. Vẫn cái gì mà sống trọn một đời người sống
trọn một đời văn. (Có những đời người không sống trọn chăng? Là Khái
Hưng chết phũ phàng vong thây ư? Có những đời văn không sống trọn
chăng? Là Nhất Linh quyên sinh uất hận chăng?) Ông được gọi là hiện
tượng, vì kỷ lục tuổi tác, kỷ lục nghìn trang mỗi đầu sách, kỷ
lục trung thành với viết tay truyền thống, kỷ lục chung thủy với một
nhà xuất bản, kỷ lục sách dày mà bán chạy và kỷ lục giải thưởng,
những giải thưởng chính thống mà người ta thường chê bôi trong ngữ
cảnh khác. Tất nhiên ông được gọi là <em>người hiền</em>, thậm chí là
bậc &#8220;Phật văn&#8221;. (Chúng ta lại lên đường đi tìm tiên văn, thánh
văn cho đủ bộ như mười mấy thế kỷ trước đời Đường chăng? Chỉ trừ
quỷ văn. Eo ôi. Sợ lắm. Cấm.) Và những bài văn vần không thể tránh
lại xuất hiện, nhặt tên tác phẩm này chắp tên tác phẩm kia. Người ta
trầm trồ, tổng kết một sự nghiệp thế là tuyệt khéo. Thể loại phê
bình văn học trà dư tửu hậu này sớm muộn cũng sẽ vào đề thi môn Ngữ
văn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ông là người đẩy tôi vào tiểu
thuyết. Khi ấy tôi vừa đốt sạch mấy trăm bài thơ để không bao giờ bén
mảng đến thi phú nữa và mới viết được dăm trang truyện ngắn. Ông ngồi
nghe tôi phán thánh phán tướng về <a href="http://www.erdmanns.he-webpack.de/pdf/TuSachTalawas230805_NgXKh_TrC.pdf"><em>Trư cuồng</em></a><em> </em>rồi bảo, viết
tiểu thuyết là chạy đường dài, ăn nhau về cuối. Và thách tôi, có
giỏi thì viết tiểu thuyết đi. Một người bạn chung chứng kiến cú
thách đó, hứa thưởng mỗi trang một điếu thuốc nếu tôi vào cuộc. Tôi nhận
lời, với tiểu thuyết <em>Thiên sứ</em>. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Tôi không còn thực sự dõi theo những sáng tác sau này của ông nữa. Ông đã rẽ sang một hướng khác và tìm được chỗ đứng trong dòng chủ lưu, từ &#8220;ngoại biên&#8221; trở lại &#8220;trung tâm&#8221;, lội ngược con đường từ &#8220;trung tâm&#8221; dạt sang &#8220;ngoại biên&#8221; ở khúc quanh trước đó của số phận, như <a href="http://lainguyenan.free.fr/TungDoanDuongVan/NguyenXuanKhanh.html">nhận định của Lại Nguyên Ân</a><a href="#_ftn1">[1]</a> trong một bài viết cách đây đã lâu, cho đến nay theo tôi là đáng đọc nhất về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Tôi mong ông tiếp tục được nghiên cứu và đánh giá nghiêm túc như thế, sau tất cả những văn tế văn sĩ hương khói mù mịt. Cách tiện nhất để chôn một sự nghiệp văn học là cấp cho nó đủ loại chứng chỉ phổ biến trên thị trường, kể cả chứng chỉ về một thời hoạn nạn. Thời &#8220;Trư văn&#8221; mà người ta khẽ nhắc, để ồn ào chuyển sang thời &#8220;Phật văn&#8221;. </p>



<p class="wp-block-paragraph">(Tuần báo <em>Trẻ</em>, 24/6/2021) <br></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1">[1]</a> Lại Nguyên Ân, &#8220;Vài nét
về đường văn Nguyễn Xuân Khánh&#8221;, 2012: http://lainguyenan.free.fr/TungDoanDuongVan/NguyenXuanKhanh.html</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thạch thảo ngắt rồi, em nhớ chăng?</title>
		<link>https://www.procontra.asia/?p=6393</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Thị Hoài]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 01 Jun 2021 22:24:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết từ 2015 trên các báo khác]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học]]></category>
		<category><![CDATA[Văn nghệ và Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Apollinaire]]></category>
		<category><![CDATA[Bùi Giáng]]></category>
		<category><![CDATA[Faust]]></category>
		<category><![CDATA[Heidegger]]></category>
		<category><![CDATA[Mùa thu chết]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Công Thiện]]></category>
		<category><![CDATA[Rainer Maria Rilke]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://www.procontra.asia/?p=6393</guid>

					<description><![CDATA[Phạm Thị Hoài Khi dịch Thư gửi một nhà thơ trẻ[1] của Rainer Maria Rilke đầu những năm 90, tôi không biết đã có một bản dịch tiếng Việt khác, Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi của Hoàng Thu Uyên, do An Tiêm xuất bản ở Sài Gòn năm 1969. Cách đây vài năm, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phạm Thị Hoài</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi dịch <em><a href="https://baotreonline.com/van-hoc/le-cheo/rainer-maria-rilke-thu-gui-mot-nha-tho-tre-ky-5.baotre">Thư
gửi một nhà thơ trẻ</a></em><a href="#_ftn1">[1]</a> của Rainer Maria Rilke
đầu những năm 90, tôi không biết đã có một bản dịch tiếng Việt khác,
<em>Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi</em> của Hoàng Thu Uyên, do An Tiêm
xuất bản ở Sài Gòn năm 1969. Cách đây vài năm, bắt gặp những dòng
chữ mở đầu của mình xuất hiện dưới một cái tên khác, tôi mới biết
đến bản dịch đó và có dịp thưởng thức tình trạng lộn xộn thú vị
ngự trị trên cõi tự tung tự tác mà chúng ta gọi là <em>internet</em>:
có trang đăng bản dịch của Hoàng Thu Uyên với bìa sách An Tiêm nhưng chêm
phần lời dẫn từ bản dịch của tôi; có trang cũng đăng như vậy nhưng
với bìa sách do NXB Văn hóa Sài Gòn tái bản năm 2008; có trang để tôi
làm dịch giả cho bản dịch của Hoàng Thu Uyên; có trang cho Hoàng Thu
Uyên đứng tên bản dịch của tôi. Sở dĩ cho đến nay tôi không nhầm mình
là Hoàng Thu Uyên, vì đó là bút danh của một trong những gương mặt
trí thức lừng lẫy nhất ở miền Nam Việt Nam trước 1975: Phạm Công
Thiện. &nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thông thạo
cả chục ngoại ngữ cổ kim Đông Tây song lại &#8220;khinh bỉ những kẻ
nào biết nhiều thứ tiếng&#8221; và cho rằng tiếng Việt là khó nhất
vì &#8220;không có văn phạm và ngữ pháp&#8221;, Phạm Công Thiện đã dịch
những tác giả thượng thặng như Heidegger, Nietzsche, Krishnamurti, Henry
Miller, Nikos Kazantzakis, Rainer Maria Rilke nhưng ông không phải là một
dịch giả theo nghĩa thông thường để có thể đem đặt vào một trường
phái dịch thuật nhất định hay đánh giá bằng những nguyên lý và tiêu
chí ngày càng phức tạp của nghề này; nhất là ở thời mà trí tuệ
nhân tạo đã đủ sức chuyển phần xác của hầu hết mọi ngôn ngữ sang
các ngôn ngữ khác trong chớp mắt song vẫn bó tay trước phần hồn và
chúng ta, thua xa quy mô và tốc độ của AI, vẫn liều lĩnh và vô vọng đâm
đầu vào những ngõ cụt của bất khả dịch. Không là dịch giả xuất
sắc nhất cũng như không là thi sĩ sáng giá nhất, không là nhà văn đặc
biệt nhất, không là học giả uyên bác nhất, không hẳn là một nhà tư
tưởng dù thường được gọi là triết gia và lại càng không thực sự là
một tu sĩ, song Phạm Công Thiện là tổng thể kỳ lạ nhất của ngôn
ngữ, tư tưởng, nghệ thuật, tôn giáo và tinh thần thời đại mà miền
Nam Việt Nam sinh ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và đặc quánh của
lịch sử, từ giữa thập niên sáu mươi đến biến cố tháng Tư 1975, trong vòng
xoáy của một cuộc chiến leo thang từng ngày, giữa vỏ đạn, xác người
và những chiến tuyến khốc liệt. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong lời
giới thiệu <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8748&amp;rb=08"><em>Về thể tính của chân lý</em></a>, dịch từ nguyên bản tiếng Đức <em>Vom Wesen der Wahrheit</em> của
Martin Heidegger, ông tuyên bố bản dịch của mình &#8220;đánh dấu một biến cố quan trọng trong tư tưởng Việt Nam, vì dịch, theo
Heidegger, có nghĩa nhảy, dịch chỉ có thể thành tựu được là nhờ một cái nhảy.
Người dịch Heidegger phải bắt buộc làm hai cái nhảy: nhảy vào thể tính Đông
phương qua ngôn ngữ Việt Nam và nhảy vào thể tính Tây phương qua ngôn ngữ Đức:
điều kiện sơ đẳng của người dịch là phải nắm lấy tính thể Đông phương trong
mười ngón tay mình và nắm lấy tính thể Tây phương trong mười ngón chân
mình.&#8221; Chuyện mười ngón tay mười ngón chân chỉ là một cách nói
điển hình Phạm Công Thiện, có thể cường điệu đại ngôn, có thể tu từ
mê hoặc, có thể cực đoan lập dị và cả tào lao <em>nonsense</em>, nhưng bay
bổng, nên thơ, độc đáo bất ngờ, quảng bác mà nóng rực như một dòng
dung nham trẻ trung cường tráng, phun xối xả dăm năm rồi tắt vụt. Ông
dịch cũng như viết, lang thang, ngẫu hứng, phóng túng, thậm chí bất
cần, nhất là không cần &#8220;đau đáu đi tìm một tương đương&#8221; vì
tiếng Việt đơn âm, trong sự tôn thờ đắm đuối của ông, mang một
&#8220;khả tính siêu việt&#8221; và một trật tự hoàn toàn khác với
trật tự tổng hợp của ngôn ngữ đa âm phương Tây, khiến dịch là &#8220;sờ
mó tiếng Việt và bị tiếng Việt sờ mó, nâng từng chữ, bóp từng chỗ
kín&#8221;, là &#8220;phục hồi lại ngôn ngữ Việt Nam, lắng nghe lại tất
cả dư âm phong phú của từng chữ Việt, mỗi từ Việt là kết quả lâu
dài gian nan của sự đấu tranh khủng khiếp, kết tinh tất cả hồn thiêng
đất nước, là một bước chân của tổ tiên bước đi hoang vu vào đêm tối
của dân tộc, té lên, té xuống, mở rộng ra chân trời rực sáng của non
sông&#8221;, và rốt cuộc, dịch để hiểu &#8220;vì sao một chữ Đức, một chữ
Hy Lạp lại quyết định chiến tranh Việt Nam&#8221;. Tiếng Việt là ngôi
nhà đầy an ủi để hồn của một dân tộc đang thí xác cho bom Mỹ và
súng trường Kalashnikov lui về nương náu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phạm Công Thiện không làm
nghề dịch để phải bận tâm đến những chuẩn mực chao ôi là nghiêm cẩn
mà chúng ta thường nép vào, dính chặt và nhiều khi chết gí ở đó.
Ông chỉ dịch những tác giả ruột thịt với mình để nhờ tiếng Việt,
quy chiếu từ một ngôn ngữ khác, phát ngôn tinh thần hư vô, thái độ khước
từ và sự cô đơn của chính mình. Nên ông trung thành với bản thân hơn
với bản gốc và nếu cần thì hy sinh bản gốc để bảo toàn hay thậm
chí khuếch đại bản thân. Rilke của ông chệch với Rilke của Rilke khá
nhiều, song đó là chủ định, đầy ý thức và thách thức, chứ không đơn
giản là dịch ẩu hay dịch nhầm. Cách dịch của ông khiến tôi phải nhớ
đến nhân vật Faust của văn hào Goethe, cũng là dịch giả nhiệt thành
và một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết dịch
thuật văn học ở Đức. </p>



<p class="wp-block-paragraph">Faust muốn dịch nguyên
bản Kinh thánh Tân ước sang tiếng Đức cho thỏa khát khao khải thị, và
vấp ngay vào câu mở đầu lời dẫn Phúc âm theo Thánh Gioan: &#8220;<em>Sách
có ghi: Khởi thủy là Lời</em>&#8220;. Chàng băn khoăn, không, không thể
đề cao Lời quá mức như vậy, phải dịch khác. &#8220;<em>Khởi thủy là Tư
tưởng</em>&#8221; chăng? Nhưng liệu tư tưởng có tác động và tạo ra tất
cả không? Hay nên dịch thành &#8220;<em>Khởi thủy là Sức mạnh</em>&#8220;? Lựa
chọn này vừa tính đến đã thấy không ổn. Và cuối cùng, như được thần
linh dẫn dắt, chàng vững lòng đặt bút viết: &#8220;<em>Khởi thủy là
Hành động</em>&#8220;<a href="#_ftn2">[2]</a>.
Khái niệm <em>logos</em> trong bản gốc tiếng Hy Lạp của câu này cho phép
nhiều cách diễn giải. Bản tiếng Việt trùng với phần lớn các bản
dịch ở những ngôn ngữ khác: &#8220;<em>Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời</em>&#8220;,
trong khi ở bản tiếng Nhật và tiếng Hàn thì <em>logos</em> là chính
Ki-tô, khi chưa có gì trong vũ trụ thì đã có Ki-tô; còn ở bản tiếng
Trung thì &#8220;<em>Thái sơ hữu đạo</em>&#8220;, khởi thủy là Đạo chứ
không phải Lời. Một cách dịch tuyệt vời, &#8220;mở ra một chân trời
cho chiêm niệm&#8221;, theo tiêu chí dịch thuật của một dịch giả đặc
biệt khác, thi sĩ Bùi Giáng, cũng một hiện tượng kỳ lạ và kỳ diệu
của miền Nam trước 1975 và tương đồng về tinh thần hơn là tương phản
trong hành động với Phạm Công Thiện. Cũng chuyện nhảy, từ Heidegger
qua Phạm Công Thiện, cú nhảy trong dịch thuật ở Bùi Giáng là nhảy
lùi, lùi xa khỏi bản gốc để trân trọng nó từ khoảng cách thích
đáng và &#8220;nếu buộc phải dịch thì đành cưỡng bức&#8221;. Ông đã cưỡng
8 câu thơ tự do của Emily Dickinson vào 14 câu lục bát, trong đó một câu
là trích nguyên văn từ <em>Truyện</em> <em>Kiều</em> của Nguyễn Du. Ông
không dịch, vì &#8220;kẻ biết dịch tối cao không bao giờ chịu
dịch&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mỗi thời đại hay thực ra mỗi thế hệ đều cần bản dịch của thời đại mình, thế hệ mình. Mọi bản dịch đều sẽ đến lúc lỗi thời và thường lỗi thời nhanh hơn bản gốc. Nhiều trang dịch của Phạm Công Thiện, như chính con người quá đỗi khác thường và cuộc đời đầy đứt gãy của ông, tách khỏi ngữ cảnh của thời đại hố thẳm và thế hệ bơ vơ, khủng hoảng, quằn quại mà kiêu hãnh của ông, khó có thể khiến độc giả bây giờ hình dung sức lan tỏa và chấn động của chúng ở miền Nam nửa thế kỷ trước. Tôi không thuộc nhóm đệ tử vô điều kiện của ông để say sưa niệm những câu dịch bùa chú, như &#8220;<em>Tính thể mà khi lập thể thì không có căn thể&#8221; (Sein als Gründendes hat keinen Grund), </em>song mỗi lần lướt qua biết bao bản dịch rón rén sợ sệt, biết bao bản dịch rúm ró nhu nhược, biết bao bản dịch gò bó tủn mủn, biết bao bản dịch bẹp gí dưới bóng đè của bản gốc, biết bao bản dịch vô vị và nô lệ đang nghiễm nhiên sống khỏe thì nhành thạch thảo của Phạm Công Thiện lại hiện về.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong<em> Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, </em><a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=8507&amp;rb=0302">chương bảy</a><em>, </em>cuốn sách huyền thoại mà ông khởi viết lúc 19 tuổi để xuất hiện như một cơn địa chấn giữa một Sài Gòn đang chao đảo trong những biến cố kinh hoàng, Phạm Công Thiện<em> </em>đã trích dẫn bài thơ <em>&#8220;</em>L’Adieu&#8221; của Guillaume Apollinaire<em> </em>trước khi Phạm Duy mở đầu<em> </em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=hCzQT_alIOE">ca khúc nổi tiếng</a><em> </em>của mình với <em>&#8220;Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo. Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi&#8221;, </em>phổ lời Việt của bài thơ ấy. Hoàng Nguyên Chương và Bùi Giáng đều<em> </em>dịch<em> bruyère</em> là thạch thảo. Một phần tư thế kỷ sau, Phạm Công Thiện vẫn trở đi trở lại với thạch thảo trong <em>Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất</em>. Ông biết <em>bruyère </em>là loài thảo mộc đặc trưng của các vùng đồng hoang châu Âu mà ông dịch là &#8220;truông thạch thảo&#8221;, tiếng Đức là <em>Heide</em> trong một đoạn thơ của Georg Trakl được Heidegger – vẫn Heidegger! &#8211; trích trong <em>Was heißt Denken?</em>. Bây giờ, với trụ sở của Google trong não bộ, chúng ta thông thái ghê gớm. Chúng ta thừa biết thạch thảo là một loài hoa cúc chẳng liên quan gì đến Apollinaire, Georg Trakl và Heidegger. Nhưng chết rồi sẽ là một mùa thu khác chứ không phải mùa thu ấy, mùa thu của Phạm Công Thiện, Phạm Duy, Bùi Giáng, Hoàng Nguyên Chương, của miền Nam trước 1975, khi ta ngắt đi một cụm hoa cúc mối.     </p>



<p class="wp-block-paragraph">Phạm Công
Thiện qua đời mười năm trước ở chốn lưu vong. Nếu không, hôm nay ông
tròn tám mươi, tuổi bây giờ không còn quá hiếm.</p>



<p class="wp-block-paragraph">1/6/2021</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tuần báo <em>Trẻ</em>,
3/6/2021<br></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref1">[1]</a> Bản mới hiệu đính đã đăng
trên <em><a href="https://baotreonline.com/van-hoc/le-cheo/rainer-maria-rilke-thu-gui-mot-nha-tho-tre-ky-5.baotre">Tuần
báo Trẻ</a></em> tháng 4 &amp; 5, 2021 </p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="#_ftnref2">[2]</a> J. W. Goethe, <em>Faust</em>,
phần I, câu 1217-1237, tr. 62-63, bản dịch của Quang Chiến, NXB Văn học,
Hà Nội 2001</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
